Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thực tiễn tại tòa án nhân dân quận ninh kiều - thành phố cần thơ

  • Số trang: 47 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 49 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 37: 2011-1014 ĐỀ TÀI: XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU - THÀNH PHỐ CẦN THƠ Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN HỮU LẠC Bộ môn Luật Hành chính Sinh viên thực hiện: NGUYỄN TIẾN ANH MSSV: B110097 Lớp: Luật Hành Chính K37 (Bằng 2) Cần Thơ, tháng 5/ 2014 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 37: 2011-1014 ĐỀ TÀI: XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU - THÀNH PHỐ CẦN THƠ Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN HỮU LẠC Bộ môn Luật Hành chính Sinh viên thực hiện: NGUYỄN TIẾN ANH MSSV: B110097 Lớp: Luật Hành Chính K37 (Bằng 2) Cần Thơ, tháng 5/ 2014 2 Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của đề tài: ...................................................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu: .......................................................................................... 1 3. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu : ......................................................................... 2 4. Phạm vi nghiên cứu : ........................................................................................... 2 5. Phương pháp nghiên cứu : ................................................................................... 3 6. Kết cấu luận văn: ................................................................................................. 3 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH .......... 5 1.1. Khái niệm về quản lý hành chính Nhà nước và vụ án hành chính...................... 5 1.1.1. Khái niệm quản lý hành chính Nhà nước................................................................. 5 1.1.2. Khái niệm Vụ án hành chính ................................................................................... 5 1.1.3. Khái niệm Khởi kiện vụ án hành chính ..................................................................... 6 1.2. Đặc điểm của vụ án hành chính .................................................................................. 6 1.3. So sánh khiếu nại và khởi kiện .................................................................................... 8 1.4. Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính ............................................................... 9 1.4.1. Quyết định hành chính ............................................................................................. 9 1.4.2. Hành vi hành chính.................................................................................................11 1.5. Khái niệm và đặc điểm của người khởi kiện trong vụ án hành chính ......................... 13 1.5.1. Khái niệm người khởi kiện trong vụ án hành chính .................................................13 1.5.2. Đặc điểm của người khởi kiện trong vụ án hành chính ............................................13 1.6. Thời hiệu khởi kiện, trình tự khởi kiện vụ án hành chính .......................................... 14 1.6.1. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính ......................................................................14 1.6.2. Thủ tục nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính ...........................................................17 CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH .................................................................................................... 20 2.1. Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính .............................................................................. 20 2.1.1. Khái niệm ..............................................................................................................20 2.1.2. Đặc điểm ................................................................................................................21 2.2. Quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ..................................... 23 2.2.1. Nguyên tắc xét xử vụ án hành chính ........................................................................23 2.2.2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính .........................................................28 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc i SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ 2.2.3. Trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ...............................................................31 2.3.1. Khái niệm hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ..............................................32 2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính .....33 CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ ............ 35 3.1. Thực trạng thực thi pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ................................................................................ 35 3.1.1. Thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều ..............................................................................................................................35 3.1.2. Đánh giá tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều ..............................................................................................................................36 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 41 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC GVHD: Nguyễn Hữu Lạc ii SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Hiện nay, thực trạng tranh chấp hành chính diễn biến rất phức tạp, nhất là sự xuất hiện tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, vượt quyền diễn ra ở nhiều địa phương và thậm chí ở các cơ quan trung ương. Nhằm đảm bảo được yêu cầu cơ bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân là phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân, công dân phải hiểu đúng và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, pháp luật quy định công dân có quyền khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa giải quyết để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Tòa án sẽ dựa trên quy định pháp luật, thực hiện công việc xét xử vụ án hành chính của mình. Xét xử vụ án hành chính được thực hiện theo nguyên tắc hai cấp xét xử, trong đó xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là cấp xét xử thứ nhất, có ý nghĩa quyết định, quan trọng đối với hoạt động xét xử nói chung. Việc ra đời các Tòa hành chính đã giúp người dân có cơ hội khiếu kiện các cấp chính quyền khi ban hành quyết định hành chính làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của mình. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, so với các lĩnh vực như hình sự, dân sự thì trong lĩnh vực hành chính, việc khởi kiện, xét xử các vụ án hành chính còn rất gian nan, số lượng vụ việc đã được giải quyết tại Tòa án còn hạn chế, vai trò của Tòa án trong lĩnh vực này còn chưa cao và chưa đáp ứng được các yêu cầu hiện tại của xã hội. Luật tố tụng hành chính có hiệu lực ngày 01/07/2011 đã mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các loại khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính. Cũng từ đó mà kéo theo thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp cũng tăng thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính, tuy nhiên, số lượng cũng như chất lượng giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp huyện nói riêng và tòa án nhân dân cấp tỉnh nói chung vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế. Để hiểu rõ hơn thực trạng việc xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ án hành chính, người viết lựa chọn đề tài “Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố cần Thơ” để làm luận văn kết thúc khóa học. 2. Tình hình nghiên cứu: Hoạt động xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân các cấp luôn có tính thời sự và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong thời gian qua, cũng có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này cả về lý luận cũng như GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 1 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ thực tiễn như: «Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết vụ án hành chính» Luận văn cử nhân luật của Huỳnh Thị Canh (2012), « Tìm hiểu hoạt động xét xử án hành chính của nước ta» của Huỳnh Ngọc Thảo Trang (2012), «Nguyên tắc xét xử độc lập của thẩm phán trong vụ án hành chính» của Âu Thị Thảo (2013), «Khởi kiện vụ án hành chính. Lý luận và thực tiễn» của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012), «Phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam» Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Mạnh Hùng (2013)... Các bài luận, nghiên cứu này đều phân tích, đánh giá hiệu quả việc xét xử vụ án hành chính dưới những khía cạnh, mức độ khác nhau và đem lại những giá trị khoa học hữu ích về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, từ năm 2010 Luật Tố tụng hành chính được ban hành, thay thế cho Pháp lệnh giải quyết vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006) thì người viết chưa tìm thấy có công trình nào đề cập đến vấn đề hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ dưới góc độ cả về lý luận và thực tiễn hiện nay. 3. Mục tiêu, đối tƣợng nghiên cứu : Mục tiêu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Trên cơ sở tìm ra điểm bất cập còn tồn tại trong trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục và góp phần hoàn thiện cho công tác xét xử vụ án hành chính quận Ninh Kiều nói riêng và Tòa án nhân dân cấp huyện nói chung. 4. Phạm vi nghiên cứu : Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài, luận văn tập trung tìm hiểu các nội dung liên quan đến các vi phạm hành chính, những quy định pháp luật vệ việc xử phạt vi phạm hành chính trong kinh doanh xăng dầu trên cơ sở các văn bản pháp quy hiện hành như : Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính và các văn bản khác có liên quan. Trong phần thực tiễn và giải pháp hoàn thiện người viết chỉ nêu lên thực trạng với những kết quả đạt được, mặt hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn. GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 2 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Tuy nhiên, đây là mội vấn đề có nội dung khá rộng nên trong khuôn khổ của một luật văn cử nhân Luật cũng như sự hiểu biết còn hạn chế, người viết chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính với đối tượng khởi kiện là Quyết định hành chính và Hành vi hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ từ năm 2011 đến năm 2013. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu : Đề tài được thực hiện bởi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như : phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thực tế. 6. Kết cấu luận văn: Một luận văn cử nhân luật thông thường được xây dựng với bố cục truyền thống gồm 3 chương: chương một nghiên cứu phương diện lý luận, chương hai nghiên cứu phương diện pháp lý và chương ba nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, đối với đề tài «Xét xử sơ thẩm vụ án hành cính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ », để người đọc dễ dàng tiếp cận hơn với từng vấn đề, người viết đã tiến hành nghiên cứu theo từng nội dung, trên cả hai phương diện về lý luận và pháp lý. Cụ thể là nghiên cứu về lý luận và pháp lý về vụ án hành chính (Chương 1), lý luận và pháp lý của việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính (Chương 2) và sau cùng nghiên cứu về thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Chương 3). Tóm lại, bố cục của luận văn ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính gồm ba chương như sau : Chương 1. Một số vấn đề lý luận về vụ án hành chính Nội dung Chương 1 của luận văn tập trung nghiên cứu cả phương diện lý luận và pháp lý về vụ án hành chính. Theo đó, người viết tìm hiểu và làm rõ khái niệm và đặc điểm của vụ án hành chính, tìm hiểu sự khác nhau và giống nhau giữa khiếu nại với khởi kiện hành chính, nghiên cứu quy định pháp luật về các đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính, điều kiện của người khởi kiện hành chính, thời hiệu khởi kiện... Trên cơ sở phân tích trong Chương 1, người viết tiếp tục phân tích những vấn đề về việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong nội dung Chương 2. Chương 2. Quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính Đối với nội dung xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, trước tiên người viết tìm hiểu khái niệm về việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, nghiên cứu quy định pháp GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 3 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ lý về nguyên tắc xét xử vụ án hành chính, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính và trình tự xét xử sơ thẩm vụ án; từ đó phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Dựa trên kết quả phân tích, tổng hợp của nội dung hai chương đầu, Chương 3 của luận văn sẽ tiếp tục tìm hiểu về thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chương 3. Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ. Từ những nội dung được phân tích, nghiên cứu về vụ án hành chính và xét xử vụ án hành chính trong hai chương đầu, nội dung Chương 3 chủ yếu đề cập đến thực trạng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều. Từ đó, phân tích, đánh giá hiện trạng và đưa ra một số giải pháp khắc phục những bất cập của việc thực hiện các quy định của pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nói riêng và tại Tòa án nhân dân cấp huyện nói chung. GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 4 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Để tìm hiểu những vấn đề về vụ án hành chính, nội dung Chương 1 sẽ tập trung giới thiệu các khái niệm có liên quan đến vụ án hành chính như quản lý hành chính nhà nước, khiếu kiện hành chính,... Theo đó, Chương 1 của luận văn sẽ làm rõ hơn các vấn đề có liên quan đến vụ án hành chính. 1.1. Khái niệm về quản lý hành chính Nhà nƣớc và vụ án hành chính 1.1.1. Khái niệm quản lý hành chính Nhà nước Để tìm hiểu thế nào là vụ án hành chính, trước tiên, cần hiểu rõ về quản lý hành chính Nhà nước, cụ thể như sau: Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước (nói tắt là quản lý nhà nước) chính là quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ít nhất một bên có thẩm quyền hành chính nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều hành. Quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương các cấp, không kể một số tổ chức thuộc nhà nước mà không nằm trong cơ cấu quyền lực như các doanh nghiệp. 1.1.2. Khái niệm Vụ án hành chính Thực tế thì hiện nay khái niệm vụ án hành chính chưa được quy định cụ thể trong một văn bản quy phạm pháp luật nào. Tuy nhiên, khi đề cập đến khái niệm “vụ án hành chính”, có thể hiểu như sau : “ Vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính phát sinh do cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc do Viện kiểm sát khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính”. GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 5 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ 1.1.3. Khái niệm Khởi kiện vụ án hành chính Đến nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào có định nghĩa về “khởi kiện hành chính” nên để tìm hiểu khái niệm của “Khởi kiện hành chính”, trước tiên ta có thể làm rõ cụm từ “Khởi kiện”. Việc phân tích từ “khởi kiện” có thể xét theo hai khía cạnh sau: - Về bản chất, “khởi kiện” là việc một hoặc nhiều chủ thể (mang đầy đủ tư cách chủ thể theo quy định của pháp luật) đưa một vụ việc tranh chấp ra trước cơ quan tài phán như tòa án, trọng tài,… và yêu cầu cơ quan này giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. - Về thuật ngữ, từ “khởi kiện” được dùng để chỉ quyền hoặc hành vi pháp lý của một chủ thể nếu gắn chủ thể trên là công dân, nếu gắn từ “khởi kiện” với trình tự xét xử trong một vụ án, khởi kiện là tên gọi của một giai đoạn tố tụng. Như vậy, Khởi kiện vụ án hành chính được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước hay người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước xâm phạm. 1.2. Đặc điểm của vụ án hành chính Với ý nghĩa của “vụ án hành chính” đã được tìm hiểu như trên, có thể nhận thấy vụ án hành chính có năm đặc điểm sau: Thứ nhất, vụ án hành chính chỉ phát sinh khi có yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Điều 5 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 quy định“ Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này”. Với quy định trên như trên, vụ án hành chính chỉ có thể phát sinh khi có tranh chấp giữa chủ thể và đối tượng quản lý hành chính nhà nước. Nhà nước trao quyền cho đối tượng quản lý hành chính được khởi kiện vụ án hành chính khi có sự xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên nhân của sự xâm hại này là xuất phát từ việc các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền trong các cơ quan này ban hành các quyết định hành chính hoặc thực hiện các hành vi hành chính không tuân thủ theo quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó. Thứ hai, vụ án hành chính phát sinh khi được Tòa án thụ lý. Một vụ án hành chính muốn phát sinh cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Việc quy định cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết các GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 6 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ tranh chấp hành chính không có nghĩa là vụ án hành chính đương nhiên phát sinh khi có đơn khởi kiện vụ án. Việc thụ lý vụ án hành chính sẽ làm phát sinh trách nhiệm và quyền hạn của Tòa án trong việc giải quyết vụ án hành chính. Bởi lẽ, mỗi cấp Tòa án được giao nhiệm vụ giải quyết những tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình theo quy định pháp luật, nhằm tránh tình trạng tranh chấp thẩm quyền giữa các cấp Tòa án gây cản trở cho quá trình xét xử. Tòa án chỉ có nhiệm vụ giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, nếu vụ án đó đã được thụ lý. Việc thụ lý vụ án hành chính không chỉ chính thức làm phát sinh trách nhiệm của tòa án trong việc giải quyết vụ án hành chính mà còn giúp cho tòa án có những nhận định ban đầu cần thiết về tình trạng tranh chấp hành chính, phương hướng giải quyết vụ việc và hạn chế tình trạng tranh chấp về thẩm quyền có thể xảy ra. Việc thụ lý vụ án còn làm phát sinh những quyền hạn cụ thể của tòa án trong xét xử hành chính. Khi đơn kiện đã được thụ lý thì vụ án hành chính đã phát sinh và vụ án đó phải được giải quyết bằng bản án hay quyết định của tòa án. Thứ ba, Người khởi kiện có thể khiếu nại đến cơ quan hành chính có thẩm quyền để xem xét giải quyết trước khi khởi kiện đến Tòa án. Luật Tố tụng hành chính hiện hành đã hủy bỏ quy định về giai đoạn tiền tố tụng hành chính trước đây. Theo đó, công dân không phải thực hiện thủ tục khiếu nại trước khi khởi kiện, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính. Điểm mới này sẽ khắc phục được phần nào những khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục tiền tố tụng theo quy định cũ. Thứ tư, đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính Đối tượng tài phán trong tố tụng hành chính có phạm vi chỉ bao gồm "quyết định hành chính" và "hành vi hành chính" do người có thẩm quyền trong các cơ quan công quyền ban hành hoặc thực hiện. Thứ năm, một số thuật ngữ được sử dụng đặc thù trong tố tụng vụ án hành chính, cụ thể : - Trong tố tụng hành chính không có khái niệm "nguyên đơn", "bị đơn" (như tố tụng dân sự), mà là "người khởi kiện" và "người bị kiện", một bên chủ yếu là công dân, một bên là các cơ quan hành chính thực thi quyền lực công. - Tố tụng hành chính không có "việc" hành chính mà chỉ có "vụ án" hành chính. - Không sử dụng thuật ngữ "tranh chấp hành chính" mà sử dụng thuật ngữ "khiếu kiện hành chính". GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 7 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ - Trong tố tụng hành chính cũng không có thủ tục "hòa giải", "thỏa thuận", mà chỉ có thủ tục "đối thoại", vì vậy tố tụng hành chính cũng không thể có "Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự" như trong tố tụng dân sự; do tính chất phức tạp của loại án hành chính, nên sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết án hành chính là bắt buộc đối với tất cả vụ án hành chính ngay từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết án 1. 1.3. So sánh khiếu nại và khởi kiện Để phân biệt rõ khiếu nại và khởi kiện, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm của khiếu nại như sau : Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình 2. Trên cơ sở khái niệm và những đặc điểm của khởi kiện và khiếu nại, có thể so sánh sự giống và khác nhau giữa khởi kiện và khiếu nại như sau : * Giống nhau: Quyền khiếu nại và quyền khởi kiện là những quyền chính trị cơ bản của công dân, là phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội. Đồng thời đó cũng là nguồn thông tin quan trọng về tình trạng pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, nó góp phần củng cố mối liên hệ giữa nhà nước và công dân. * Sự khác nhau: So với khiếu kiện, việc giải quyết khiếu nại được thực hiện bởi những chủ thể thừa hành hành chính (cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính hoặc cấp trên trực tiếp của các chủ thể này). Vì vậy, ưu điểm của khiếu nại là ngay khi bắt tay vào giải quyết khiếu nại, vụ việc đã được nắm rất rõ, rất chi tiết và có thể được giải quyết nhanh chóng. Nếu được tận dụng, sẽ tiết kiệm được phần nào thời gian, công sức, chi phí xem xét từng tình tiết của vụ việc. Tuy nhiên, việc giải 1 2 Điều 23 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 8 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ quyết khiếu nại có thể dẫn đến chủ quan và định kiến khi xem xét lại vụ việc đã và đang quản lý, đồng thời với tâm lý e ngại việc công nhận quyết định hành chính và hành vi hành chính của chính mình là không đúng, nên có thể có những hạn chế nhất định. Trong khi đó, thẩm quyền giải quyết khởi kiện là thẩm quyền của Tòa án nhân dân - chủ thể độc lập tương đối với cả hai bên: người khởi kiện (người dân) và người bị kiện (cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính). Với cơ chế giải quyết bởi Tòa án, chủ thể giải quyết khiếu kiện có phạm vi độc lập nên có thể đưa ra một kết quả công minh. Tuy nhiên, do phải bắt đầu lại toàn bộ vụ việc từ yếu tố đầu tiên nên chủ thể giải quyết khiếu kiện có thể cần nhiều thời gian, công sức và chi phí. Mặt khác, do không là chủ thể trực tiếp quản lý nên chủ thể này có thể phải cần những cơ quan chuyên môn khác để hỗ trợ về mặt kỹ thuật. 1.4. Đối tƣợng khởi kiện trong vụ án hành chính Theo Điều 28 Luật Tố tụng hành chính, thì các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, gồm: - Khiếu kiện Quyết định hành chính, Hành vi hành chính, trừ các Quyết định hành chính, Hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và các Quyết định hành chính, Hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức. - Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. - Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống. - Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu hai đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính gồm quyết định hành chính và hành vi hành chính, như sau: 1.4.1. Quyết định hành chính - Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 9 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể 3. Đồng thời theo khoản 1, Điều 1 của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính thì Quyết định hành chính được hiểu là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới các hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn... do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của Quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó). Như vậy, Quyết định hành chính được cụ thể, bao gồm: - Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. - Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ Quyết định hành chính nói ở phần trên (quyết định giải quyết khiếu nại). Tuy nhiên, không phải mọi quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính đều là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Nếu quyết định giải quyết khiếu nại được ban hành theo quy định của Luật Khiếu nại chỉ xem xét tính đúng sai của nội dung khiếu nại mà không làm thay đổi nội dung của Quyết định hành chính, Hành vi hành chính bị khiếu nại thì không phải là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Ngược lai, nếu quyết định giải quyết đơn khiếu nại mà nó làm thay đổi nội dung của Quyết định hành chính, Hành vi hành chính bị khiếu nại, thì quyết định đó được xem là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính, cùng với Quyết định hành chính, Hành vi hành chính bị khiếu nại ban đầu. 3 Khoản 1 điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 10 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ 1.4.2. Hành vi hành chính - Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật 4 Theo khoản 2, Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì để xác định hành vi hành chính nào là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác; hành vi hành chính nào là hành vi của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác; và hành vi hành chính nào là hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ, cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền, thời hạn thực hiện đối với nhiệm vụ, công vụ đó để phân biệt; cụ thể như sau: + Hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác (gọi tắt là cơ quan, tổ chức): Theo quy định của pháp luật, thì nhiệm vụ, công vụ cụ thể thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức do người trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện theo sự phân công hoặc uỷ quyền, uỷ nhiệm thì hành vi đó là Hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức chứ không phải là Hành vi hành chính của người đã trực tiếp thực hiện Hành vi hành chính đó. Ví dụ: Theo quy định tại Điều 126 của Luật đất đai thì hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất nộp tại UBND xã, phường, thị trấn. Ông Nguyễn Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển đổi quyền sử dụng đất tại UBND xã X theo đúng quy định, nhưng bà Trần Thị C là cán bộ nhận hồ sơ của UBND xã này đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý do của việc trả lại hồ sơ đó. Trong trường hợp này, hành vi trả lại hồ sơ cho ông A là hành vi hành chính của UBND xã X chứ không phải là hành vi hành chính của bà Trần Thị C. + Hành vi hành chính của người có thẩm quyền: Việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể do người được giao thẩm quyền theo quy định của pháp luật, trong cơ quan, tổ chức thực hiện thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể đó là Hành vi hành chính của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ trực tiếp thực hiện hay phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người khác thực hiện nhiệm vụ. Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch UBND xã H là người có thẩm quyền tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông D, nhưng đã ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND 4 Khoản 2, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2010 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 11 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ xã này trực tiếp tổ chức việc cưỡng chế. Trong trường hợp này, việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D là hành vi hành chính của Chủ tịch UBND xã H chứ không phải là hành vi hành chính của Phó Chủ tịch UBND xã này. + Hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức: Theo quy định của pháp luật thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể của cơ quan, tổ chức, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình thì được coi là hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Ví dụ: Theo Điều 7 của Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp được thành lập trong địa giới hành chính tỉnh. Doanh nghiệp N đã nộp đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, nhưng quá thời hạn mà pháp luật quy định, Phòng đăng ký kinh doanh không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N. Trong trường hợp này, việc không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N là hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A. + Hành vi của người có thẩm quyền không thực hiện nhiệm vụ, công vụ: Theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Ví dụ: Theo quy định tại Điều 30 của Luật cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, Trưởng Công an xã, phường, thị trấn phải cấp sổ tạm trú cho hộ gia đình hoặc cá nhân đề nghị. Bà X đã nộp đủ giấy tờ theo quy định đề nghị Trưởng Công an xã N cấp sổ tạm trú, nhưng quá thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ mà Trưởng Công an xã N không cấp sổ tạm trú cho bà X. Trong trường hợp này, việc không cấp sổ tạm trú cho bà X là HVHC của Trưởng Công an xã N. Việc phân tích cụ thể các Quyết định hành chính và hành vi hành chính trên đây giúp xác định và phân biệt được giữa Quyết định hành chính với hành vi hành chính, và giữa các hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức hay cá nhân có thẩm GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 12 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ quyền với nhau. Từ đó, công dân và người thực thi pháp luật có thể xác định đúng về một vụ kiện hành chính để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân. 1.5. Khái niệm và đặc điểm của ngƣời khởi kiện trong vụ án hành chính 1.5.1. Khái niệm người khởi kiện trong vụ án hành chính Người khởi kiện là thuật ngữ chỉ tư cách của cá nhân hay cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng trong vụ án hành chính. Tại khoản 6 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 quy định: “Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri”. Thêm vào đó, tại Điều 5 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 cũng quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Như vậy, theo những quy định trên thì người khởi kiện trong vụ án hành chính là những cá nhân, cơ quan, tổ chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. 1.5.2. Đặc điểm của người khởi kiện trong vụ án hành chính Người khởi kiện trong vụ án hành chính có các đặc điểm sau: - Người khởi kiện vụ án hành chính có thể là cá nhân có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch, cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân 5. - Người khởi kiện phải thỏa các điều kiện quy định tại Điều 48 Luật Tố tụng hành chính, nghĩa là phải có năng lực tố tụng hành chính bao gồm năng lực pháp luật tố tụng hành chính 6 và năng lực hành vi tố tụng hành chính 7. Trong đó: + Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân sinh ra và mất đi khi cá nhân chết. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của Khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2010 Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là tổng thể những quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm quyền khởi kiện vụ án hành chính và những quyền và nghĩa vụ tố tụng khác sau khi vụ án đã phát sinh 7 Năng lực hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng hành chính là khả năng tự thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng hành chính. 5 6 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 13 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ cơ quan, tổ chức phát sinh từ khi cơ quan, tổ chức được thành lập, tồn tại hợp pháp và mất đi khi cơ quan, tổ chức đó bị giải thể. + Năng lực hành vi tố tụng hành chính của cá nhân sẽ khác nhau tùy theo độ tuổi và khả năng nhận thức. Người từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính hoặc có thể ủy quyền cho bất cứ người nào đại diện cho mình tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 48 và Điều 54 của Luật (trừ những người không được làm người đại diện theo khoản 6, khoản 7 Điều 54). Theo khoản 4 Điều 48, người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự sẽ thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật. Như vậy, với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, do họ không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng và họ cũng không có khả năng ủy quyền cho người khác nên việc khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Những người được coi là đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự , gồm: cha, mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ8. Nếu người khởi kiện là cơ quan, tổ chức: Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính phải thông qua người đại diện theo pháp luật, quy định tại khoản 5 Điều 48 và điểm c, d, đ khoản 2 Điều 54. Những người được coi là đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hay người được người đứng đầu cơ quan, tổ chức ủy quyền nhân danh mình tham gia tố tụng. Như vậy, để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình trước sự xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thì điều kiện tiên quyết là cá nhân, cơ quan, tổ chức đó phải chứng minh mình có đủ tư cách chủ thể khởi kiện. 1.6. Thời hiệu khởi kiện, trình tự khởi kiện vụ án hành chính 1.6.1. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính * Khái niệm thời hiệu khởi kiện 8 Điểm a, b khoản 2 Điều 54 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 14 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Theo Khoản 2 Điều 104 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, thì: - Thời hạn khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; - Thời hạn khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại; - Thời hạn khiếu kiện về danh sách cử tri là 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan này. * Cách tính thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính Theo Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì cách tính thời hiệu được xác định như sau: Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Cũng theo Luật này thì thời hạn được quy định cụ thể tại Điều 149: Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác; Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra. Những quy định này trong Bộ luật Dân sự cũng được áp dụng đối với Luật Tố tụng hành chính. Cụ thể hơn, theo hướng dẫn của Toà án nhân nhân tối cao9, để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện trong trường hợp nào là “kể từ ngày nhận được”, trường hợp nào là “kể từ ngày biết được” thì cần căn cứ vào đối tượng bị tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và phân biệt như sau: - Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ là đối tượng được nhận quyết định thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ nhận được quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc (được cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc giao trực tiếp, được nhận qua nhân viên bưu điện, qua chính quyền địa phương hoặc những người khác theo quy định của pháp luật). Điều 12 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán TANDTC 9 GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 15 SVTH: Nguyễn Tiến Anh Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Ví dụ: Vào ngày 28/3/2013 Công ty cổ phần Xây dựng thương mại Cửa Việt nhận được Quyết định số 840/QĐ-UBND ngày 20/3/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam về áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất của Cty Mía đường Quảng Nam cũ; thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là vào ngày 28/3/2015. - Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ không phải là đối tượng được nhận quyết định và thực tế là họ không nhận được quyết định đó thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ biết được quyết định đó. Ví dụ: Vào ngày 13/5/2013 ông S nhận được Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 3/5/2013 của UBND huyện N về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho ông với diện tích 100m2, sau đó ông tiến hành xây tường bao diện tích đất 100m2 đó. Ông H là hàng xóm của ông S cho rằng ông S đã xây tường bao lên cả phần diện tích đất của ông H. Ngày 30/52013, ông S đã đưa cho ông H xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N cấp cho ông. Như vậy tại thời điểm 30/5/2013 là thời điểm ông H biết được Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 15/4/2013 của UBND huyện N; thời hiệu khởi kiện của ông H, bắt đầu tính từ ngày 30/5/2013. - Trường hợp hành vi của cơ quan, tổ chức hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là thời điểm hành vi hành chính đó được thực hiện hoặc kể từ ngày được thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện. Ví dụ: Vào ngày 09/4/2013, Chủ tịch UBND huyện Q đã tổ chức lực lượng, phương tiện cưỡng chế thu hồi toàn bộ đất và thu giữ toàn bộ tài sản còn lại trên đất của Công ty cổ phần X và Công ty này đã chứng kiến việc cưỡng đối với mình thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của Công ty cổ phần X là ngày hành vi cưỡng chế được thực hiện, ngày 09/4/2013. - Trường hợp hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 16 SVTH: Nguyễn Tiến Anh
- Xem thêm -