Xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán trắc nghiệm khách quan có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (ban nâng cao)

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phan Thị Mỹ Hạnh XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 12 (BAN NÂNG CAO) LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC TP Hồ Chí Minh – 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phan Thị Mỹ Hạnh XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 12 (BAN NÂNG CAO) Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học hóa học Mã số: 601410 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. Nguyễn Mạnh Dung TP Hồ Chí Minh – 2012 LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh và những người thân trong gia đình. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến: TS. Nguyễn Mạnh Dung, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn. PGS.TS.Trịnh Văn Biều, nguyên trưởng khoa Hóa trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, người thầy không những đã dẫn dắt chúng tôi những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà còn luôn luôn quan tâm và chỉ bảo chúng tôi trong quá trình làm luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Hóa, cùng các thầy cô trong khoa của trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và trường Đại học Sư phạm Hà Nội, những thầy cô đã tổ chức và thực hiện thành công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học, tạo cơ hội học tập nâng cao về trình độ chuyên môn về lĩnh vực mà tôi tâm huyết. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh các trường THPT Trần Phú, Tân Châu, Lương Thế Vinh – tỉnh Tây Ninh và nhiều anh chị em đồng nghiệp đã giúp đỡ trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm. Xin gửi lời cảm ơn Phòng khoa học công nghệ - sau đại học, các bạn cùng lớp cao học khóa 19, những người đã cùng chúng tôi trao đổi,chia sẻ những khó khăn và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng thời gian. Tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. 3 MỤC LỤC ................................................................................................... 4 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................... 7 DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................... 8 DANH MỤC CÁC HÌNH .......................................................................... 9 MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1 2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 2 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 2 4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 2 5. Giả thuyết khoa học ................................................................................................ 3 6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 3 7. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 3 8. Những điểm mới của đề tài: ................................................................................... 3 9. Dự kiến cấu trúc của luận văn ............................................................................... 4 Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............. 5 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ................................................................................... 5 1.2. Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm ........................................................... 5 1.2.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học trên thế giới và ở Việt Nam. ..............................................................................5 1.2.2.Phân loại trắc nghiệm................................................................................................7 1.2.3. Phân tích câu trắc nghiệm......................................................................................13 1.2.4. Một số lỗi thường mắc phải khi soạn thảo câu TNKQ .........................................15 1.3. Tổng quan về các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học vô cơ ............. 15 1.3.1. Phương pháp bảo toàn............................................................................................15 1.3.2. Phương pháp tính theo trị số trung bình (khối lượng mol trung bình, số nguyên tử trung bình ...) .....................................................................................................22 1.3.3. Phương pháp sơ đồ đường chéo.............................................................................23 1.3.4. Phương pháp quy đổi ..............................................................................................27 1.4. Vận dụng phương pháp giải nhanh vào một số dạng bài toán hóa học vô cơ lớp 12- Nâng cao ........................................................................................................ 31 1.4.1. Bài toán về kim loại ...............................................................................................31 1.4.2. Bài toán về oxit kim loại ........................................................................................42 1.4.3. Bài toán về hiđroxit kim loại .................................................................................42 1.4.4. Bài toán điện phân ..................................................................................................50 1.5. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài toán hóa học có cách giải nhanh trong dạy học phần hoá vô cơ lớp 12 -nâng cao ở các trường trung học phổ thông ........................................................................................................................... 51 1.5.1. Mục đích và phương pháp điều tra ........................................................................51 1.5.2. Kết quả điều tra .......................................................................................................51 Chương 2. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TNKQ CÓ CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 12- NÂNG CAO ........................................................................ 54 2.1. Tổng quan về chương trình hóa vô cơ lớp 12 - Nâng cao .............................. 54 2.1.1. Cấu trúc phân phối chương trình ..........................................................................54 2.1.2. Mục tiêu cơ bản của nội dung chương trình Hóa học vô cơ lớp 12 - nâng cao ..56 2.2. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập ............................................................... 59 2.3. Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong dạy học ............................................ 59 2.3.1. Các bước giải một bài tập hóa học trên lớp ...........................................................59 2.3.2. Một số ví dụ minh họa sử dụng bài tập hóa học trên lớp .....................................60 2.4. Hệ thống bài toán hóa học TNKQ nhiều lựa chọn .......................................... 74 2.4.1. Bài tập về kim loại ...................................................................................................74 2.4.2. Bài tập về oxit kim loại ...........................................................................................83 2.4.3. Bài tập hỗn hợp kim loại và oxit kim loại ..............................................................86 2.4.4. Bài tập về hiđroxit kim loại ....................................................................................90 2.4.5. Bài toán điện phân ..................................................................................................94 Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................... 97 3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................... 97 3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm ...................................................................................... 97 3.3. Đối tượng thực nghiệm ...................................................................................... 97 3.4. Nội dung thực nghiệm ....................................................................................... 98 3.5. Tiến trình thực nghiệm ..................................................................................... 98 3.5.1. Chuẩn bị trước thực nghiệm: Tiến hành các công việc sau .................................98 3.5.2. Tiến hành TNSP .....................................................................................................99 3.5.3. Xử lí số liệu thực nghiệm .......................................................................................99 3.6. Kết quả thực nghiệm ........................................................................................ 101 3.6.1. Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích và tham số thống kê đặc trưng ...............................................................................................................................101 3.6.2. Biểu diễn kết quả bằng đồ thị ...............................................................................105 3.7. Phân tích kết quả thực nghiệm ....................................................................... 110 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................... 112 1. Kết luận ................................................................................................................ 112 2. Kiến nghị .............................................................................................................. 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 114 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT as : ánh sáng BTHH : bài toán hóa học CTPT : công thức phân tử dd : dung dịch ĐC : đối chứng ĐHSP : đại học sư phạm đktc : điều kiện tiêu chuẩn G : giỏi GV : giáo viên Hh : hỗn hợp HS : học sinh K : khá KT-ĐG : kiểm tra- đánh giá LTV : Lương Thế Vinh Nxb : nhà xuất bản PPGN : phương pháp giải nhanh SGK(sgk) : sách giáo khoa SGV(sgv) : sách giáo viên Tb : trung bình TNKQ : trắc nghiệm khách quan TDST : tư duy sáng tạo THPT: trung học phổ thông Tp.HCM thành phố Hồ Chí Minh TN: thực nghiệm Y: yếu DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Ý kiến về mức độ thành thạo khi vận dụng các phương pháp giải bài toán hóa học của bản thân 57 Bảng 1.2: Ý kiến mức độ thành thạo các kĩ năng giải bài tập hóa học của bản thân Bảng 2.1: Phân phối chương trình hóa 12- ban nâng cao Bảng 3.1: Bảng điểm bài kiểm tra số 1 111 Bảng 3.2: Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 112 Bảng 3.3: Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi bài kiểm tra số 1 58 60 112 Bảng 3.4: Tham số thống kê bài kiểm tra số 1 112 Bảng 3.5: Bảng điểm bài kiểm tra số 2 113 Bảng 3.6: Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 113 Bảng 3.6: Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi 113 Bảng 3.7: Tham số thống kê bài kiểm tra số 2 114 Bảng 3.8: Bảng điểm bài kiểm tra số 3 114 Bảng 3.9: Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 3 114 Bảng 3.10: Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi bài kiểm tra số 3 115 Bảng 3.11: Tham số thống kê bài kiểm tra số 3 115 Bảng 3.12: Bảng điểm tổng hợp 3bài kiểm tra 115 Bảng 3.13: Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích (tổng hợp 3 bài kiểm tra ) 115 Bảng 3.14: Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi(tổng hợp 3 bài Bảng 3.15: kiểm tra ) 116 Tham số thống kê (tổng hợp 3 bài 116 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm số 1 117 Hình 3.2: Biểu đồ phân loại HS theo kết quả điểm bài thực nghiệm 1 117 Hình 3.3: Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm số 2 118 Hình 3.4: Biểu đồ phân loại HS theo kết quả điểm bài thực nghiệm 2 118 Hình 3.5: Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm số 3 119 Hình 3.2: Biểu đồ phân loại HS theo kết quả điểm bài thực nghiệm 3 119 Hình 3.7: Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 3 bài thực nghiệm 120 Hình 3.8: Biểu đồ phân loại HS theo kết quả điểm tổng hợp 3 bài thực nghiệm 120 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bài tập là một yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học. Qua thực tế, quá trình dạy học có hiệu quả hay không, học sinh có nhận thức tích cực, sáng tạo và hình thành các kĩ năng, kĩ xảo hay không… phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bài tập được thiết kế có hay không. Vì vậy vấn đề bài tập trong dạy học cũng là một chuyên đề đáng lưu ý. Hiện nay, người ta thường chú ý đến các bài tập do các chuyên gia biên soạn và giới thiệu trong các sách bài tập hóa học. Chúng tôi muốn nói tới hệ thống bài tập do người dạy tự soạn khi lên lớp. Một giờ học có lí thú không, có tích cực hóa được hoạt động nhận thức của học sinh không thường phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của bài tập tự soạn này. Bởi vì số lượng bài tập hóa học thì rất nhiều, đa dạng, trong khi số tiết giải bài tập rất hạn chế (15 – 20% tổng số tiết học). Vì vậy giáo viên cần chọn bài tập điển hình về nội dung và phương pháp. Từ bài tập đó, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau để rút ra kết luận cho những bài tập khác, nghĩa là thông qua một bài tập mà hướng dẫn học sinh phương pháp giải hàng loạt các bài tập có nội dung liên quan. Để thực hiện Nghị quyết số: 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị số 14/2001/CTTTG của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, Bộ GD & ĐT trong quá trình chỉ đạo và triển khai thực hiện đã áp dụng phương pháp KT-ĐG bằng TNKQ ở các môn Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ trong các kì thi TN THPT và tuyển sinh ĐH - CĐ từ năm học 20062007 và tiến tới sẽ áp dụng cho nhiều môn khác. KT-ĐG kết quả học tập của học sinh bằng TNKQ, đặc biệt là hình thức TNKQ nhiều lựa chọn đã khắc phục được nhiều yếu điểm của phương pháp kiểm tra tự luận: Khối lượng kiến thức được kiểm tra lớn, bao quát chương trình, tránh hiện tượng học tủ, hạn chế hiện tượng quay cóp, gian lận trong thi cử; kết quả đánh giá chính xác, khách quan, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm; việc chấm bài nhanh chóng, chính xác vì hiện nay đã có những phần mềm máy tính chuyên biệt để chấm và xử lí kết quả của bài thi TNKQ. Với hình thức thi TN hiện nay, HS phải hoàn thành đề thi trong một khoảng thời gian ngắn với số lượng câu hỏi nhiều, mỗi bài toán phải tìm ra đáp án nhanh trong 2 đến 3 phút. Vì vậy, giải nhanh bài toán hóa học có một ý nghĩa quan trọng. Việc xây dựng câu hỏi và bài tập TNKQ trong KT- ĐG là một trong những biện pháp thiết thực nâng cao chất lượng dạy học nên đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Xuân Trường, Trần Trung Ninh, Ngô Ngọc An ...Tuy nhiên, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống bài toán có cách giải nhanh làm câu TNKQ thì còn tương đối mới và chưa nhiều nên đã tạo sự hứng thú cho bản thân tôi. Chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm ra các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học không những góp phần vào việc nâng cao chất lượng KT-ĐG mà còn giúp học sinh phát triển tư duy, rèn khả năng suy luận nhanh và phát triển trí thông minh, góp phần thực hiện thành công mục tiêu dạy học. Chính vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu” Xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán trắc nghiệm khách quan có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao)”. 2. Mục đích nghiên cứu Xây dựng hệ thống các bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh- phần vô cơ lớp 12 (ban nâng cao) dùng trong dạy học và KT-ĐG kiến thức của học sinh, nhằm góp phần đổi mới phương pháp KT-ĐG và nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu a. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn hóa học ở trường THPT. b. Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh trong dạy học phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao). 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận về TNKQ. - Nghiên cứu và đề xuất các phương pháp giải nhanh bài tập hóa học vô cơ. - Điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học có các giải nhanh trong dạy học và KT-ĐG ở trường THPT hiện nay. - Xây dựng hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh phần hóa vô cơ 12 (Ban nâng cao). - Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng và hiệu quả của hệ thống bài tập TNKQ đã xây dựng. 5. Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được hệ thống bài tập hóa học TNKQ cóa cách giải nhanh đa dạng, phong phú có chất lượng tốt và sử dụng hợp lí trong dạy học thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học hóa học ở trường THPT. 6. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận: + Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến phương pháp TNKQ, đi sâu nghiên cứu về phương pháp TNKQ nhiều lựa chọn. + Nghiên cứu các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học. + Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học phần vô cơ lớp 12 (ban nâng cao). - Nghiên cứu thực tiễn: + Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh trong học dạy học và KT-ĐG ở trường THPT của tỉnh Tây Ninh trong những năm qua. + Thực nghiệm sư phạm: - Phương pháp thống kê toán học: + Sử dụng các phần mềm tin học để lưu trữ, phân tích, xử lý câu, bài trắc nghiệm. 7. Phạm vi nghiên cứu a. Về nội dung: Hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh phần vô cơ ở lớp 12 (Ban nâng cao). b. Về địa bàn thực nghiệm sư phạm: Tại một số trường THPT của tỉnh Tây Ninh. c. Về thời gian thực hiện đề tài: Từ 1.4.2010 đến 30.6.2011. 8. Những điểm mới của đề tài: Chất lượng dạy và học hóa học ở trường PTTH được nâng cao trên cơ sở: - Nghiên cứu và đề xuất các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học vô cơ - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao). 9. Dự kiến cấu trúc của luận văn Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Phần nội dung bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Xây dựng hệ thống bài toán hóa học có cách giải nhanh dưới dạng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn phần hóa vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao). Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Với riêng môn hóa học, hiện nay có rất nhiều phương pháp giải nhanh bài tập. Đăc biệt với việc đổi mới hình thức thi bằng TNKQ trong các kì thi TN THPT và tuyển sinh ĐH hiện nay thì việc giáo viên dạy cho học sinh các cách giải nhanh, thông minh và học sinh áp dụng những cách giải này để hoàn thành các bài thi dưới dạng TNKQ trong một thời gian ngắn là một tất yếu. Do đó việc nghiên cứu các phương pháp giải nhanh bài tập hóa học từ trước đến nay đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi xin nêu một vài nghiên cứu gần đây có liên quan đến các phương pháp giải nhanh bài tập hóa học: - Nguyễn Đức Chính(2006), Xây dựng hệ thống bài toán hóa học có phương pháp giải nhanh làm câu TNKQ nhiều lựa chọn- phần hóa hữu cơ, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh. - Nguyễn Thị Tòng (2008), Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài toán hóa học có phương pháp giải nhanh làm câu TNKQ nhiều lựa chọn-Hóa học 10(Nâng cao), luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh. - Nguyễn Thị Ngọc Xuân(2008), Thiết kế website về phương pháp giải nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan Hóa học vô cơ ở trường THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh. Các đề tài nghiên cứu trên đều có ưu điểm là đưa ra được nhiều phương pháp giải nhanh bài toán học học. Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống bài tập chưa phong phú, đa dạng, không bao quát hết các kiến thức cơ bản,cần cung cấp cho học sinh; sự phân dạng bài tập chưa rõ ràng. 1.2. Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm 1.2.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học trên thế giới và ở Việt Nam. 1.2.1.1. Trên thế giới Theo Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan: các phương pháp đo lường và trắc nghiệm đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII – XVIII ở khoa tâm lý. Năm 1879 ở châu Âu: phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên được Wichlm Weent thành lập tại Leipzig. Đến năm 1904 Alfred Binet, nhà tâm lý học người Pháp trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh. Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này sang tiếng Anh. Từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet. Theo giáo sư Trần Bá Hoành [15] vào đầu thế kỷ XX, E.Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ như là phương pháp “ khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn học khác. Trong những năm gần đây, trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục. Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến. Ở Mỹ, vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học. Năm 1940 đã xuất bản nhiều hệ thống trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập của học sinh. Năm 1961 có 2126 mẫu trắc nghiệm chuẩn. Đến năm 1963 đã sử dụng máy tính điện tử thăm dò bằng trắc nghiệm trên diện rộng. Ở Anh, thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn cho các trường trung học. Ở Nga, trong những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà sư phạm đã sử dụng kinh nghiệm của nước ngoài nhưng thiếu chọn lọc nên bị phê phán. Đến năm 1962 đã phục hồi khả năng sử dụng trắc nghiệm trong dạy học. Ở Trung Quốc đã áp dụng trắc nghiệm trong kì thi đại học từ năm 1985. Ở Nhật Bản cũng đã sử dụng phương pháp trắc nghiệm và có một trung tâm quốc gia tuyển sinh đại học phụ trách vấn đề này. Ở Hàn Quốc, từ những năm 1980 đã thay các kì tuyển sinh riêng rẽ ở từng trường bằng kì thi trắc nghiệm thành quả học tập trung học bậc cao toàn quốc. 1.2.1.2. Ở Việt Nam. Có thể nói ở miền Nam trước những năm 1975 TNKQ phát triển khá mạnh. Từ năm 1956 đến những năm 1960 trong các trường đại học đã sử dụng rộng rãi hình thức thi TNKQ ở bậc trung học. Năm 1969 trắc nghiệm đo lường thành quả học tập của giáo sư Dương Thiệu Tống được xuất bản [32]. Như vậy đã có tài liệu tham khảo về TNKQ cho giáo viên, học sinh và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ. Năm 1974, kì thi tú tài toàn phần đã được thi bằng TNKQ [32]. Sau năm 1975 một số trường vẫn áp dụng TNKQ, song có nhiều tranh luận nên không áp dụng TNKQ trong thi cử. Những nghiên cứu đầu tiên của TNKQ ở miền Bắc là của giáo sư Trần Bá Hoành. Năm 1971, ông đã công bố: “Dùng phương pháp test để kiểm tra nhận thức của học sinh về một số khái niệm trong chương trình sinh học đại cương lớp IX”. Một số tác giả khác cũng đã sử dụng trắc nghiệm vào một số lĩnh vực khoa học chủ yếu là trong tâm lý học và một số ngành khoa học khác chẳng hạn như tác giả Nguyễn Như Ân (1970) dùng phương pháp trắc nghiệm trong việc thực hiện đề tài “ Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lý của sinh viên đại học sư phạm”… Năm 1993, trường đại học Bách Khoa Hà Nội có cuộc hội thảo khoa học “Kĩ năng test và ứng dụng ở bậc đại học” (4/12/1993) của tác giả Lâm Quang Thiệp, Phan Hữu Tiết, Nghiêm Xuân Nùng. Năm 1994 Vụ Đại học cho in “Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm” (tài liệu lưu hành nội bộ) của tác giả Lâm Quang Thiệp. Từ năm 2007 đến nay, hình thức thi trắc nghiệm khách quan đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo áp dụng trong các kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH. Từ năm 1998 đến năm 2003, các luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ: - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức hóa học lớp 12 phổ thông trung học của tác giả Nguyễn Thị Khánh, ĐHSP Hà Nội. - Nghiên cứu sử dụng trắc nghiệm trong KT-ĐG kiến thức HS lớp 11 và 12 phổ thông trung học của tác giả Hoàng Thị Kiều Dung, ĐHSP Hà Nội. - Sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận trong KT-ĐG kiến thức hoá học của học sinh lớp 12 trường THPT của tác giả Phạm Thị Tuyết Mai, ĐHSP Hà Nội. 1.2.2.Phân loại trắc nghiệm 1.2.2.1.Trắc nghiệm tự luận a. Khái niệm: Trắc nghiệm tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi hay bài toán, học sinh trả lời dưới dạng bài viết trong một khoảng thời gian đã định trước. TNTL đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác, rõ ràng. Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan, điểm bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất. Một bài tự luận thường có ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời. b. Các dạng câu trắc nghiệm tự luận Câu tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vi tương đối rộng và khái quát, học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy luận. Loại câu trả lời này được gọi là tiểu luận. Câu tự luận với sự trả lời có giới hạn: loại này thường có nhiều câu hỏi với nội dung tương đối hẹp. Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn nên việc chấm điểm dễ hơn. Có 3 loại câu trả lời có giới hạn - Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản. Đó là một nhận định viết dưới dạng mệnh đề không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra mà học sinh phải trả lời bằng một câu hay một từ (trong TNKQ được gọi là câu điền khuyết) - Loại câu trả lời đoạn ngắn trong đó học sinh có thể trả lời bằng hai hoặc ba câu trong giới hạn của giáo viên. - Giải bài toán có liên quan tới trị số có tính toán số học để đưa ra một kết quả cụ thể đúng theo yêu cầu của đề bài. c. Ưu - nhược điểm của TNTL • Ưu điểm: - Đòi hỏi học sinh tự trả lời và diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình, nên nó đo được nhiều mức độ tư duy, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh của học sinh. - Ngoài việc kiểm tra được độ chính xác kiến thức, còn kiểm tra kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập định tính và định lượng của học sinh. - Có thể KT- ĐG các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những ý niệm, sở thích và khả năng diễn đạt các tư tưởng. Hình thành cho học sinh thói quen sắp xếp ý tưởng, suy diễn, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp…. phát huy tính độc lập, tư duy sáng tạo. - Việc chuẩn bị câu hỏi, ít tốn thời gian so với câu hỏi TNKQ. • Nhược điểm: - Độ tin cậy và độ giá trị thấp. - Vì số lượng câu hỏi ít nên không thể kiểm tra hết nội dung trong chương trình học, học sinh có chiều hướng học lệch, học tủ và có tư tưởng quay cóp. 1.2.2.2. Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) a. Khái niệm: Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi TNKQ. Trắc nghiệm được gọi là khách quan vì cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm. Một bài TNKQ gồm nhiều câu hỏi với nội dung kiến thức khá rộng , mỗi câu trả lời thường chỉ thể hiện bằng một dấu hiệu đơn giản . Nội dung bài TNKQ cũng có phần chủ quan vì không khỏi bị ảnh hưởng tính chủ quan của người soạn câu hỏi. b. Các dạng câu TNKQ: * Câu trắc nghiệm “đúng – sai” hoặc “có – không” và học sinh trả lời bằng cách chọn một trong hai phương án đúng hoặc sai. - Ưu điểm: Câu trắc nghiệm đúng – sai hoặc có – không là loại câu đơn giản dùng để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện. Vì vậy soạn loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm. - Nhược điểm: học sinh có thể đoán mò. Vì vậy độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho học sinh học thuộc lòng hơn là hiểu, ít phù hợp với đối tượng học sinh giỏi - Những lưu ý khi xây dựng dạng câu “đúng – sai” hoặc “có – không”. + Đúng cũng phải đúng hoàn toàn, sai cũng phải sai hoàn toàn. + Tránh những điều chưa thống nhất . * Câu trắc nghiệm ghép đôi: Câu này có hai dãy thông tin, một bên là các câu hỏi và bên kia là câu trả lời. Số câu ghép đôi càng nhiều thì xác suất may rủi càng thấp, do đó càng tăng phần ghép so với phần được ghép thì chất lượng trắc nghiệm càng cao . - Ưu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thích hợp với học sinh cấp THCS. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết kiến thức hay những mối tương quan. - Nhược điểm: Loại câu trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức, để soạn loại câu hỏi này để đo mức trí nâng cao đòi hỏi nhiều công phu. Hơn nữa tốn nhiều thời gian đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi của học sinh. * Câu trắc nghiệm điền khuyết Đây là câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với các chỗ để trống . Có 2 cách xây dựng dạng này. - Cho trước từ hoặc cụm từ để học sinh chọn. - Không cho trước để học sinh phải tự tìm. Lưu ý phải soạn thảo dạng câu này như thế nào đó để các phương án điền là duy nhất. - Ưu điểm: học sinh không có cơ sở học đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra , tự tìm ra câu trả lời. * Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là loại câu được dùng nhiều nhất và có hiệu quả nhất. Một câu hỏi nhiều câu trả lời (câu dẫn) đòi hỏi học sinh tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiều khả năng trả lời có sẵn các khả năng các phương án trả lời khác nhau nhưng đều có vẻ hợp lý ( hay còn gọi là câu nhiễu ) - Ưu điểm: Giáo viên có thể dùng câu hỏi này để KT- ĐG những mục tiêu dạy học khác nhau. Chẳng hạn như : + Xác định mối tương quan nhân quả + Nhận biết các điều sai lầm + Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau + Định nghĩa các khái niệm + Tìm nguyên nhân của một số sự kiện + Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật. + Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện. + Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật + Xét đoán vần đề đang tranh luận dưới nhiều quan điểm Độ tin cậy cao hơn khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu hỏi TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, học sinh buộc phải xét đoán phân biệt kỹ trước khi trả lời câu hỏi. Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn người ta có thể đo được khả năng nhờ áp dụng nguyên lý định luật, khả năng khái quát hóa rất hữu hiệu. Dùng phương pháp phân tích tính chất câu hỏi, chúng ta có thể xác định được câu nào quá dễ, câu nào quá khó, câu nào không có giá trị đối với mục tiêu cần trắc nghiệm, có thể xem xét câu nào không có lợi hoặc làm giảm giá trị câu hỏi. Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của học sinh hoặc chủ quan của người chấm. - Nhược điểm: Loại câu này khó soạn và phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì thì cũng có vẻ hợp lí. Ngoài ra phải soạn câu hỏi sao cho có thể đo được các mức trí nâng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu. Không thỏa mãn với những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án. Các câu TNKQ nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu TNTL soạn kỹ. Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi. c. Các nguyên tắc soạn thảo câu TNKQ nhiều lựa chọn • Phần gốc của câu trắc nghiệm: - Phần gốc câu trắc nghiệm có thể la • Phần lựa chọn của câu trắc nghiệm • Chú ý tránh các hình thức vô tình tiết lộ đáp án • Những lưu ý khi soạn câu TNKQ nhiều lựa chọn. Câu TNKQ loại này có thể dùng thẩm định trí năng ở mức độ biết, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn. Vì vậy khi soạn câu loại này cần lưu ý: + Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho phương án đúng không tranh cãi được, còn các câu nhiễu đều có vẻ hợp lý. + Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt và tác động thu hút các học sinh kém hơn. + Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề, tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải được nhấn mạnh
- Xem thêm -