Xây dựng thương hiệu thành phố hải phòng

  • Số trang: 10 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu Câu 1.1. Xây dựng thương hiệu thành phố Hải Phòng Đưa biển trở thành thương hiệu của Hải Phòng Hải Phòng đã và đang từng bước xây dựng và nâng cao thương hiệu biển gắn liền với các sản phẩm, dịch vụ từ biển. Ngoài việc phát triển thương hiệu hàng hóa, sản vật truyền thống như: nước mắm Cát Hải, đồ hộp Hạ Long, bào ngư Bạch Long Vỹ, mực và tu hài Cát Bà...,để phát triển kinh tế biển và thương hiệu biển, thành phố ưu tiên tập trung nguồn lực vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế biển, lấy vùng ven biển làm trục phát triển, lấy hành lang vận tải ven biển làm hướng chính, giảm vận tải trên bộ. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, mang đặc trưng của thành phố cảng, đạt tiêu chuẩn của một thành phố hiện đại. Tập trung hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế biển, cụ thể: góp phần hoàn thành tuyến đường ô-tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng theo hướng điện khí hóa; nâng cấp và phát triển mạng lưới giao thông đường thủy, xây dựng hệ thống các cảng sông; ưu tiên đầu tư đồng bộ, hiện đại Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện; nâng cấp sân bay Cát Bi trở thành cảng hàng không quốc tế thứ 2 của miền Bắc; đầu tư nạo vét tuyến luồng chính vào Cảng Hải Phòng; hiện đại hoá hệ thống thông tin liên lạc; hoàn chỉnh mạng cấp điện, cấp thoát nước, xử lý môi trường đáp ứng nhu cầu của một trung tâm kinh tế lớn, hiện đại. Xác định xây dựng thương hiệu biển không chỉ là việc khai thác, sử dụng biển thế nào cho hợp lý, hiệu quả và bền vững mà còn là liên kết giữa các ngành, nghề trong việc xây dựng một thương hiệu mang tầm vĩ mô. Do đó, cần có cơ chế, cơ cấu lại ngành nghề kinh tế biển cho hợp lý, thích hợp để huy động sự tham gia tích cực, sự phối hợp, hợp tác của các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư ven biển trong việc xây dựng, quảng bá thương hiệu biển.Thành phố tích cực chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng các quy hoạch có liên quan đến phát triển kinh tế biển như: Quy hoạch không gian biển, quy hoạch thủy sản, quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải, quy hoạch phát triển dịch vụ logistics, quy hoạch các cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững trên quần đảo Cát Bà, đề án thành lập công viên địa chất Cát Bà, đề án đánh giá tổng hợp hiện trạng vùng bờ; rà soát kết nối các quy hoạch phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế biển. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh biển, đảo; thúc đẩy hợp tác các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tam giác phát triển kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; chủ động xúc tiến và thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với các tỉnh, Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 1 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu thành phố quốc tế có nhiều điểm tương đồng với Hải Phòng và có tiềm năng, thế mạnh về kinh tế biển. Với những hoạt động cụ thể, các chương trình, kế hoạch được ban hành về xây dựng và phát triển KTXH các khu vực ven biển và hải đảo từ trung ương đến địa phương, việc đưa thương hiệu biển trở thành thương hiệu quốc gia sẽ giúp khai thác những thế mạnh và tiềm năng biển; góp phần thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược “Mạnh về biển, làm giàu từ biển” đến năm 2020 của Việt Nam, trong đó có thành phố Hải Phòng, bảo đảm vững chắc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Câu 1.2. Nguyên tắc lựa chọn kiến trúc thương hiệu qua 1 ví dụ cụ thể Kiến trúc thương hiệu của Vinamilk Vinamilk được biết đến là một doanh nghiệp lớn chuyên sản xuất kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng từ sữa bò, với hơn 200 sản phẩm trong danh mục sản phẩm của mình. Lúc này vấn đề quản trị thương hiệu đã phức tạp hơn với việc nâng tầm lên thành quản trị đa thương hiệu nhằm tránh sự chồng chéo giữa các sản phẩm, thương hiệu cũng như việc sao cho không rời xa giá trị cốt lõi, hình ảnh ban đầu mà doanh nghiệp đã gây dựng. Có thể chia hơn 200 sản phẩm trong danh mục sản phẩm của Vinamilk thành các dòng sản phẩm chính: sữa nước, sữa đặc, sữa bột, sữa chua, sản phẩm dinh dưỡng, nước ép, sữa đậu nành, nước tinh khiết, trà, kem, phô mai. Tương ứng với các dòng sản phẩm đó là danh mục các thương hiệu của công ty gồm Vinamilk, Dielac, Ridielac, V-fresh, Icy, Lincha, Goldsoy, Ông Thọ, Ngôi sao phương nam. Dưới đây là sơ đồ kiến trúc thương hiệu của Vianamilk: Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 2 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu VINAMILK Sản phẩm dinh dưỡng khác Sản phẩm sữa Sữa tươi Sữa bột DIELAC Sữa chua VNM Tiệt trùng 100% MAMA VNM Thanh trùng Alpha Sữa chua từ sữa bò tươi 100% Pedia Probi Optimum Sữa đặc Bột ăn dặm RIDIELAC K E M SP dinh dưỡng cho ng lớn VNM Ông Thọ Phô mai V-Fresh VNM dinh dưỡng Ngôi sao phương Nam VNM Sure Prevent VNM Diecerna Pro Beauty VNM Giảm cân Nha đam VNM CanxiPro SuSu Học viên: Đường Thanh Hải Sản phẩm NGK Lớp: Cao học QTKD K7 3 Nước ép trái cây Sữa trái cây Trà Nước nha đam Sữa đậu nành ICY Nước uống đóng chai Nước chanh muối Goldsoy Sữa đậu nành Lincha Trà nấm linh chi Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu Chiều rộng danh mục thương hiệu là số lượng các nhóm thương hiệu khác nhau để thỏa mãn các loại nhu cầu khác nhau. Trong trường hợp này, thương hiệu Vinamilk có các thương hiệu sữa tươi tiệt trùng VNM 100% và sữa tươi thanh trùng VNM cho dòng sản phẩm sữa tươi, VNM dinh dưỡng, VNM Sure Prevent, VNM Diecerna, VNM Giảm cân, VNM CanxiPro cho dòng sản phẩm dinh dưỡng… Với chiều dài danh mục thương hiệu, thương hiệu Vinamilk được sử dụng cho các dòng sản phẩm từ sữa, kem, phô mai, sản phẩm dinh dưỡng,… Với chiều sâu của danh mục thương hiệu, ví dụ sữa tươi tiệt trùng 100% Vinamilk về kích cỡ có loại hộp giấy 1L, 180mL, 110ml, loại có đường, không đường, loại hương dâu, hương socola,…Nhìn chung Vinamilk có danh mục thương hiệu có chiều sâu lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu cá biệt nhất của khách hàng. Chiều dài và chiều rộng danh mục thương hiệu của doanh nghiệp khá phù hợp, không quá lớn cũng không quá ít. Sữa tươi, sữa chua và sữa đặc là những sản phẩm nòng cốt của VNM. Với chiến lược kinh doanh: Phát triển thương hiệu Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy tín khoa học và đáng tin cậy nhất với mọi người dân Việt Nam thông qua chiến lược áp dụng nghiên cứu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng đặc thù của người Việt Nam để phát triển ra những dòng sản phẩm tối ưu nhất cho người tiêu dùng Việt Nam và Đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh qua thị trường của các mặt hàng nước giải khát tốt cho sức khỏe của người tiêu dùng thông qua thương hiệu chủ lực VFresh nhằm đáp ứng xu hướng tiêu dùng tăng nhanh đối với các mặt hàng nước giải khát đến từ thiên nhiên và tốt cho sức khỏe con người có thể xác định V-Fresh và Dielac là hai thương hiệu chiến lược của VNM. Vinamilk sử dụng mô hình kiến trúc đa thương hiệu. Có nghĩa là công ty tạo dựng đồng thời cả thương hiệu gia đình Vinamilk và các thương hiệu cá biệt nhằm củng cố, xây dựng và phát triển một hệ thống các thương hiệu cực mạnh đáp ứng tốt nhất các nhu cầu và tâm lý tiêu dùng của người tiêu dùng Việt Nam. Trong đó Vinamilk thực hiện cách kết hợp bất song song . Vinamilk là thương hiệu gia đình, thương hiệu lớn bao trùm lên tất cả các sản phẩm của công ty, các thương hiệu cá biệt như Ông Thọ, V-Fresh, Dielac, Goldsoy,… Cả thương hiệu gia đình và thương hiệu cá biệt được kết hợp bất song song, hoán đổi vị trí cho nhau một cách linh hoạt. Với dòng sản phẩm sữa tươi, sữa chua, kem, phô mai, sản phẩm dinh dưỡng thì thương hiệu Vinamilk giữ vai trò chủ đạo, các thương hiệu cá biệt còn lại đóng vai trò bổ sung hỗ trợ. Sữa tươi Tiệt trùng Vinamilk 100%, sữa tươi thanh trùng Vinamilk, sữa tiệt trùng VNM bổ sung vi chất mới, sữa chua VNM 100%, sữa chua VNM Probi, VNM ProBeauty, VNM Susu, VNM Dinh dưỡng, Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 4 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu VNM SurePrevent, VNM giảm cân, VNM CanxiPro…. Vinamilk giữ vai trò là thương hiệu chủ đạo, các thương hiệu cá biệt như Probi, Susu, SurePrevent,… chỉ đóng vai trò như một chỉ dẫn cụ thể để phân biệt một chủng loại sản phẩm riêng biệt hay để phân biệt một sự đổi mới so với các thương hiệu trước. Probi là loại sữa chua lên men sống lợi khuẩn tốt cho đường tiêu hóa, ProBeaty là loại sữa chua bổ sung collagen, SuSu là loại sữa chua dành cho trẻ em,…. Việc kết hợp này nhằm tận dụng danh tiếng của thương hiệu lớn Vinamilk là một thương hiệu hàng đầu trong ngành sữa. Khi phát triển mở rộng các sản phẩm sữa chua, công ty đã tận dụng luôn cái tên Vinamilk kết hợp với một thương hiệu phụ, giúp sản phẩm với thương hiệu cá biệt nhanh chóng được người tiêu dùng chấp nhận và tin tưởng. Cũng với cách kết hợp bất song song nhưng với dạng thương hiệu cá biệt là thương hiệu chủ đạo còn thương hiệu gia đình đóng vai trò hỗ trợ. Đó là trường hợp của các thương hiệu cá biệt Dielac, Ridielac, V-Fresh, Goldsoy, Icy, Lincha, Ông Thọ, Ngôi sao Phương Nam. Các thương hiệu riêng này đóng vai trò chủ đạo. Người tiêu dùng có thể biết rõ các thương hiệu Dielac, Ridielac, VFresh,…. Mà có thể không cần biết đến nó là một thương hiệu của Vinamilk. Thương hiệu Vinamilk lùi lại phía sau, chiếm một diện tích rất nhỏ trên nhãn sản phẩm, đóng vai trò khá mờ nhạt như người bảo chứng hỗ trợ cho thương hiệu cá biệt. Ví dụ như khi doanh nghiệp quyết định mở rộng mặt hàng kinh doanh sang các sản phẩm nước ép trái cây, với định vị hình ảnh là các sản phẩm nước giải khát tươi ngon, trẻ trung, tự nhiên từ đất mẹ, Vinamilk không thể giữ vai trò chủ đạo khi mà nó đã quá quen thuộc với hình ảnh của những sản phẩm sữa bổ dưỡng. Để thoát ra khỏi hình ảnh “sữa – Vinamilk” công ty quyết định sử dụng thương hiệu cá biệt V-Fresh là thương hiệu chủ đạo, Vinamilk chỉ xuất hiện trên sản phẩm với mục đích chú thích và bảo trợ cho V-Fresh, góp phần giúp thương hiệu cá biệt nhanh chóng được người tiêu dùng tin tưởng và chấp nhận. Ưu điểm chính của mô hình kiến trúc đa thương hiệu này là khai thác được lợi thế và uy tín của thương hiệu gia đình Vinamilk nhằm khuếch trương các thương hiệu cá biệt của doanh nghiệp. Vinamilk luôn là một cái tên lớn trong tâm trí người tiêu dùng Việt Nam với độ nhận biết 95,7% (VinaResearch – 2012). Vinamilk đứng top đầu trong những thương hiệu nổi tiếng nhất tại Việt Nam. Dù Vinamilk giữ vai trò chủ đạo hay hỗ trợ thì nó vẫn đóng vai trò bảo trợ khuếch trương các thương hiệu cá biệt. Mỗi thương hiệu cá biệt được định vị và đặt tên riêng nhằm tới chính xác một phân khúc thị trường mục tiêu, chẳng hạn, Vinamilk SurePrevent hướng đến tập khách hàng mục tiêu là những người cao tuổi, VNM Diecerna là sản phẩm dinh dưỡng dành cho người bệnh tiểu đường, Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 5 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu Dielac Mama dành cho các bà mẹ đang mang thai,…. Điều này giúp làm tăng hiệu quả đáp ứng chính xác nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Mặt khác, các thương hiệu cá biệt cũng góp phần củng cố thêm cho thương hiệu gia đình Vinamilk. Rõ ràng, những cái tên như Ông Thọ, Ngôi sao Phương Nam, Dielac, V-Fresh là những thương hiệu đáng tin cậy, khá nổi tiếng trên thị trường. Từng thương hiệu cá biệt này góp phần củng cố sức mạnh của thương hiệu Vinamilk là một thương hiệu dinh dưỡng có “uy tín khoa học và đáng tin cậy nhất của người Việt Nam”. Mô hình này cũng giúp công ty mẹ giảm thiểu rủi ro bị ảnh hưởng đến danh tiếng nếu chẳng may thương hiệu cá biệt thất bại. Thực tế, VNM cũng đã từng thất bại với sản phẩm bia Zorok hay sản phẩm cà phê Moment, Vinamilk Cafe khi thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm của mình. Song sự thất bại của hai sản phẩm này cũng gần như không làm ảnh hưởng gì đến thương hiệu Dielac, V-Fresh, hay Ông Thọ của Vinamilk. Điểm hạn chế của mô hình kiến trúc thương hiệu này là đòi hỏi về chi phí và nguồn lực lớn cho quản trị thương hiệu. Mô hình này yêu cầu sự quản lí cũng như truyền thông rất phức tạp do có một danh mục thương hiệu sản phẩm lớn. Một hạn chế lớn nữa là nó tạo ra sự cạnh tranh ngầm giữa các thương hiệu trong doanh nghiệp. Ví dụ với sản phẩm sữa đặc công ty có thương hiệu Ông Thọ và Ngôi sao Phương nam hay với sản phẩm sữa đậu nành, công ty có V-Fresh và Goldsoy. Điều này giúp người tiêu dùng có thêm sự lựa chọn nhưng cũng đồng thời tạo sự cạnh tranh giữa các thương hiệu trong cùng một doanh nghiệp. Tuy nhiên sức cạnh tranh của thương hiệu Vinamilk lại không ngừng được nâng cao. Câu 2.1. Phân tích mối quan hệ giữa bản sắc và hình ảnh của Công ty CP Chế biến Thủy sản Cát Hải Công ty CP Chế biến Thủy sản Cát Hải được thành lập từ năm 1959, đơn vị sở hữu thương hiệu mắm Cát Hải (có nguồn gốc là nước mắm Vạn Vân tiến vua xưa kia). Mới đây, nước mắm Cát Hải được xếp vào Top 10 đặc sản nước chấm và gia vị nổi tiếng Việt Nam. Trải qua gần 55 năm xây dựng và trưởng thành, đơn vị đã phải vượt qua nhiều khó khăn để khẳng định vị thế của mình trên thị trường trong và ngoài nước. Hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, Cát Hải đặc biệt coi trọng vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến và sản xuất. Từ năm 2002, Cát Hải đã áp dụng hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế HACCP. Sau khi áp dụng thành công hệ thống này, hoạt động sản xuất kinh doanh đã có sự tăng trưởng mạnh. Cùng đó, là sự thay đổi về điều kiện sản xuất, thay thế từ nhà xưởng cũ thành những khu sản xuất mới khang trang cùng thiết bị, dây chuyền tiên tiến, hiện đại. Và từ năm 2008 đến nay, Cát Hải đã Quacert Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 6 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng của Công ty phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 9001: 2008. Chia sẻ về điểm khác biệt tạo nên thành công của Công ty Cát Hải, ông Vũ Văn Cao, Giám đốc Công ty cho biết: Khác với Nha Trang, Phan Thiết, Phú Quốc chuyên sản xuất nước mắm từ nguồn nguyên liệu chính là cá cơm, nước mắm Cát Hải được lấy nguyên liệu từ cá quẩn, cá nhâm, cá nục… Cát Hải cũng đã có những thay đổi mô hình sản xuất như: đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, cải tiến mẫu mã; đồng thời, duy trì phương thức sản xuất truyền thống ở các khâu quan trọng, đảm bảo cho người tiêu dùng sử dụng sản phẩm chất lượng tốt, an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, Công ty còn thực hiện chính sách bán hàng đồng giá trên toàn quốc; đảm bảo người tiêu dùng trên cả nước sử dụng sản phẩm Cát Hải với giá cả hợp lý, không chênh lệch. Sự cạnh tranh hiện nay là phải tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, phải có những nghiên cứu sâu. Vượt qua thử thách Những năm qua, sản phẩm nước mắm Cát Hải kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh thiếu lành mạnh, công tác quản lý thị trường chưa được chặt chẽ… Giám đốc Vũ Văn Cao nhận định, bảo vệ thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng, bởi việc này có ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến lợi ích và sự phát triển của doanh nghiệp. Theo đó, để khắc phục tình trạng trên Công ty đã triển khai nhiều biện pháp khác nhau và luôn giữ vai trò chủ động chống lại các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả nhãn hiệu Công ty. Như quản lý tem nhãn, bao bì sản phẩm, kể cả bao bì sai hỏng; thường xuyên kiểm tra, kiểm soát nếu phát hiện thấy sai sót ở đâu, khâu nào là phải xử lý, khắc phục ngay. Bên cạnh đó, Cát Hải cũng luôn giữ vững chất lượng của sản phẩm (điều này liên quan trực tiếp đến người tiêu dùng và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp cả trong ngắn hạn và lâu dài). Đồng thời, thường xuyên cải tiến mẫu mã, bao bì để vừa đẹp, hấp dẫn nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn. Sự đồng bộ nhãn hàng thương hiệu trên từng sản phẩm giúp cho người tiêu dùng phân biệt, nhận biết được thuận lợi. Nhờ những định hướng và chỉ đạo đúng đắn trong quá trình sản xuất, kinh doanh, 6 tháng đầu năm 2014, Cát Hải đã gặt hái được nhiều thành công khi vẫn giữ được nhịp độ phát triển khá so kế hoạch và cùng kỳ năm 2013, doanh thu đạt 48,1% kế hoạch và bằng 124% so cùng kỳ; Sản lượng nước mắm đóng gói sẵn bằng 48,5% so với kế hoạch đạt 102% so cùng kỳ; Nộp ngân sách đạt 40,5% kế hoạch và bằng 59% so cùng kỳ. Cùng đó, Công ty vừa nhận Giải vàng giải thưởng Chất lượng quốc gia 2013. Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 7 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu Kế hoạch phát triển của Cát Hải trong thời gian tới, ngoài việc mở rộng hệ thống bán hàng, Công ty cũng đẩy mạnh các hoạt động truyền thông để người tiêu dùng hiểu về các sản phẩm của Cát Hải với đặc trưng không có chất bảo quản. Việc phát triển ra các thị trường Trung Quốc, Hồng Kông… và các thị trường xuất khẩu trên toàn thế giới cũng sẽ được chú trọng, ông Vũ Văn Cao chia sẻ Câu 2.2 Chiến lược thương hiệu của Xi măng Chinfon Công ty Xi măng Chinfon được thành lập theo Giấy phép đầu tư số 490/GP do Ủy Ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cấp ngày 24/12/1992, sau đó đăng ký lại theo Luật doanh nghiệp năm 2005 và được UBND Thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận đầu tư năm 2008. Đến nay, qua 20 năm xây dựng và phát triển, các sản phẩm xi măng Chinfon với thương hiệu “Xi măng Hoa Đào” đã thực sự trở thành một thương hiệu mạnh trên thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam và khu vực. Năm 1997, dây chuyền số 1 với công suất thiết kế 4.000 tấn clinker/ngày được hoàn thiện và đi vào hoạt động tại thôn Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên, Thành phố Hải Phòng. Đây là nơi có nguồn nguyên liệu tập trung, chất lượng hàng đầu Việt Nam. Sau khi khai thác, dây chuyền này được nâng công suất lên 4.900 tấn clinker/ngày, tương đương 2,3 triệu tấn xi măng/năm, tăng 22,5% so với công suất thiết kế ban đầu. Dần chiếm lĩnh thị trường và đáp ứng nhu cầu của thị trường phía nam, Công ty Xi măng Chinfon đã đầu tư thêm một nhà máy nghiền xi măng tại Khu công nghiệp Hiệp Phước, TP.HCM với công suất 500.000 tấn/năm. Sản phẩm Xi măng Hoa Đào ngày càng có thị trường tiêu thụ ổn định. Từ lợi thế đó, năm 2006, công ty tiếp tục đầu tư xây dựng thêm dây chuyền số 2 tại nhà máy ở Tràng Kênh, với công xuất thiết kế ban đầu 4.000 tấn clinker/ngày. Sau hơn hai năm triển khai xây dựng, lắp đặt máy móc, tháng 9/2008, dây chuyền số 2 chính thức đi vào vận hành, khai thác. Đến năm 2010, dây chuyền số 2 cũng tiếp tục được cải tạo, nâng cấp công suất tăng thêm 20% so với thiết kế ban đầu, đạt 4.800 tấn clinker/ngày, tương đương 2,2 triệu tấn xi măng/năm, nâng tổng công suất của nhà máy tại Hải Phòng lên 4,5 triệu tấn/năm. Hiện tại, Công ty có mạng lưới tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, Xi măng Hoa Đào đã là một thương hiệu mạnh tại thị trường trong nước và khu vực. Không ngừng phát triển bền vững Từ năm 2010 đến nay 2012, do bối cảnh khó khăn chung, nhiều dự án đầu tư xây dựng trong nước bị giãn, hoãn hoặc tạm ngừng thi công, đã khiến cho Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 8 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu nhu cầu tiêu thụ xi măng sụt giảm mạnh. Để hạn chế hàng tồn khó, thu hồi vốn các đơn vị cùng ngành liên tục áp dụng các chính sách khuyến mại, giảm giá dẫn đến sự cạch tranh hết sức gay gắt trong việc tiêu thụ sản phầm tại các thị trường lớn như miền Bắc và miền Nam. Tuy vậy, năm 2012 xi măng Chinfon vẫn duy trì được mức tăng trưởng, sản lượng tiêu thụ ổn định, các dây chuyền của nhà máy hoạt động tốt. Nếu năm 2008, sản lượng tiêu thụ xi măng của Chinfon đạt trên 2,66 triệu tấn, doanh thu 2.140 tỷ đồng, lợi nhuận 219 tỷ thì năm 2012 này, sản lượng tiêu thụ của Công ty đạt 3,04 triệu tấn xi măng, doanh thu đã đạt trên 4.805 tỷ, lợi nhuận 554,1 tỷ đồng. Việc mở hướng xuất khẩu một lượng lớn clinker đã giúp cho Công ty hạn chế được hàng tồn kho mà vẫn có và tăng được doanh thu. Với phương châm hoạt động “là doanh nghiệp mà xã hội cần”, Công ty luôn là đơn vị đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Hải Phòng. Năm nay, thuế và các khoản phải nộp của Công ty là trên 224 tỷ đồng. Chính vì có chiến lược đầu vào và đầu ra sản phẩm tốt nên công ty vẫn đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định và các chế độ cho trên 1.270 lao động, với mức thu nhập bình quân 8triệu đồng/người /tháng. Bên cạnh đó, Công ty đã thể hiện trách nhiệm xã hội và tính nhân văn của doanh nghiệp. Năm 2012, Công ty đã dành trên 2 tỷ đồng cho các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Các tổ chức đoàn thể cũng được Công ty tạo điều kiện thành lập và hoạt động thuận lợi nhất, đóng góp vào kết quả hoạt động chung của Công ty, được cán bộ nhân viên Công ty đánh giá cao. Với chặng đường 20 năm xây dựng và phát triển, Công ty Xi măng Chinfon đã khẳng định được sự lớn mạnh toàn diện, được các bộ, ban ngành Trung ương và Thành phố Hải Phòng ghi nhận. Năm 2012, Công ty đứng thứ 102 trong số 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, và là đơn vị dẫn đầu trong ngành xi măng trong bảng xếp hạng V 1.000 này. Đây chính là kết quả thiết thực, ý nghĩa nhất chào mừng 20 năm thành lập công ty(24/12/1992-24/12/2012). Đặc biệt, năm 2012, Công ty vinh dự được Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng giới thiệu đại diện cho những doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường tại Hải Phòng tham gia giải thưởng “Doanh nghiệp FDI thân thiện với môi trường” do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức và trao tặng. Ông Tony Liu, Tổng giám đốc Công ty chia sẻ: “Đây là thành công của sự sự nỗ lực không mệt mỏi của tập thể cán bộ, công nhân viên Công ty cũng như ban giám đốc. Điều đó thể hiện rõ nét trong công tác điều hành, quản trị rủi ro, tạo sự an toàn, ổn định cho Công ty trong quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh. Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 9 Tiểu luận môn: Quản trị thương hiệu Và trên hết, đó là chiến lược kinh doanh phù hợp, đúng hướng theo ngành nghề chính, là thế mạnh của đơn vị”. Sự quan tâm thỏa đáng của Công ty đối với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu suất lao động, duy trì tăng chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh khâu tiêu thụ sản phẩm; không đầu tư dàn trải vào lĩnh vực công ty không có chuyên môn sâu,.v.v… có thể coi là những nguyên nhân dẫn đến thành công của thương hiệu Xi măng Hoa Đào hôm nay. Học viên: Đường Thanh Hải Lớp: Cao học QTKD K7 10
- Xem thêm -