Xây dựng mô hình Tòa án khu vực trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

  • Số trang: 109 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HÀ TIẾN DŨNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÒA ÁN KHU VỰC TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật Mã số : 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Minh Tuấn Hà Nội - 2014 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Hà Tiến Dũng 1 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1 CHƢƠNG 1: YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM................................................................... 8 1.1. Khái quát về cải cách tƣ pháp ......................................................................... 8 1.1.1. Bối cảnh cải cách tƣ pháp ............................................................................ 8 1.1.2. Các quan điểm cải cách tƣ pháp .................................................................11 1.1.3. Những nội dung của cải cách tƣ pháp ........................................................15 1.2. Đổi mới hệ thống Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp. .......18 1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân ..............................18 1.2.2. Hệ thống Tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành .................................28 1.2.3. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân .............................33 1.3. Cơ sở thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực trong hệ thống Tòa án nhân dân. ..............................................................................................................41 CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÒA ÁN NHÂN DÂN SƠ THẨM KHU VỰC .....................................................................................................................53 2.1. Những thuận lợi của việc xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. ......53 2.2.1 Phù hợp so với các quy định của Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013. ........53 2.1.2. Sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Đảng .....................................................55 2.1.3. Phù hợp với bối cảnh đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nƣớc..........59 2.1.4. Phù hợp với chủ trƣơng tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện. ......60 2.1.5. Tiếp thu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới. ...........................................61 2 2.2. Khó khăn, thách thức của việc xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. ................................................................................................................66 2.2.1. Những bất cập trong việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân. ........................................................................................66 2.2.2. Sự thiếu đồng bộ trong việc đổi mới hệ thống các cơ quan tƣ pháp..........69 2.2.3. Sự thiếu thống nhất trong việc xây dựng số lƣợng và địa hạt tƣ pháp của Tòa án khu vực ở một số địa phƣơng. ..................................................................71 2.2.4. Chƣa đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. ................................................................................................................73 2.2.5. Những bất cập trong việc tổ chức cán bộ ...................................................74 2.2.6. Những bất cập về cơ sở vật chất ................................................................75 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÒA ÁN NHÂN DÂN SƠ THẨM KHU VỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP .................................................................................................78 3.1. Phƣơng hƣớng xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực........................78 3.1.1. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng..................................................................78 3.1.2. Đảm bảo sự giám sát của Hội đồng nhân dân ............................................81 3.1.3. Đảm bảo quyền của ngƣời dân trong việc tiếp cận Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. .......................................................................................................84 3.1.4. Đảm bảo sự đồng bộ của các cơ quan tƣ pháp ...........................................85 3.2. Các giải pháp xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực .........................86 3.2.1. Về cơ sở pháp lý .........................................................................................86 3.2.2. Về tổ chức bộ máy .....................................................................................93 3.2.3. Về đội ngũ cán bộ ......................................................................................94 3.2.4. Về cơ sở vật chất ........................................................................................96 KẾT LUẬN ..........................................................................................................99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Danh sách các tỉnh, thành phố dự kiến thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực ..........................................................................................57 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cải cách Tòa án nhân dân là một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy nhà nƣớc nói chung và cải cách tƣ pháp nói riêng nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ƣơng, Bộ Chính trị và Đảng ta đã có một số Nghị quyết, Chỉ thị về xây dựng, hoàn thiện Nhà nƣớc và Pháp luật, trong đó có nhấn mạnh đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân nhƣ Nghị quyết Trung ƣơng 8 (Khóa VII); Nghị quyết Trung ƣơng 3 (Khóa VIII), Nghị quyết Trung ƣơng 7 (Khóa VIII); Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới” [1]. Nghị quyết số 49-NQ/TW Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 ban hành về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 đã xác định mục tiêu xây dựng một nền tƣ pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bƣớc hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Bộ Chính trị chỉ rõ phải: Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm…. [2, mục 2.2] Trên cơ sở chỉ đạo của Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, ngày 28/7/2010 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng đã ban hành Kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra [3]. Kế thừa Kết luận số 79-KL/TW, ngày 12 1 tháng 3 năm 2014 Bộ chính trị đã có Kết luận số 92-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49 về cải cách tƣ pháp đến năm 2020, theo đó, Ban chấp hành Trung ƣơng khẳng định: Tiếp tục thực hiện chủ trương tổ chức tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Tòa án nhân dân được tổ chức 4 cấp như Kết luận số 79-KL/TW, ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị. Đối với tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và Tòa án nhân dân tương ứng, cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng 2 phương án (Phương án 1, tổ chức theo khu vực như Kết luận số 70-KL/TW; phương án 2, tổ chức tòa án nhân dân sơ thẩm đặt tại các đơn vị hành chính cấp huyện), báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị trước khi trình Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi). [4, mục 2.3] Trong đó, việc thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực là nội dung quan trọng nhất trong phƣơng hƣớng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án vì đây là cấp trực tiếp giải quyết số lƣợng chủ yếu các vụ việc theo thủ tục tƣ pháp và đây cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải cách tƣ pháp trong thời gian tới. Những tƣ tƣởng mới quan trọng nêu trên của nhà nƣớc pháp quyền cùng với quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về quyền con ngƣời là cơ sở quan trọng cho việc quy định cụ thể trong các chƣơng khác nhau về tổ chức bộ máy nhà nƣớc nói chung, trong quy định về Tòa án nhân dân nói riêng. Bằng việc quy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [5, khoản 1 Điều 102], Hiến pháp (sửa đổi) xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nƣớc. Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tƣ pháp, thực hiện chức năng xét xử; Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất 2 có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp theo quy định của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà nƣớc, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nƣớc đều thuộc thẩm quyền của Tòa án. Vì vậy, quy định của Hiến pháp (sửa đổi) là cơ sở hiến định cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại án, thể hiện xu thế tất yếu của nhà nƣớc pháp quyền. Hiến pháp (sửa đổi) khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tƣ pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tƣ pháp. Thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực thực sự là một chủ trƣơng lớn của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải đƣợc quan tâm, tập trung chỉ đạo, lãnh đạo kịp thời. Vấn đề cấp thiết đặt ra là tổ chức Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực phải đáp ứng mục tiêu chung của việc đổi mới các cơ quan tƣ pháp, đó là đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và các chức danh tƣ pháp trong quá trình tiến hành tố tụng; góp phần xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của Tòa án nhân dân. Với lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Xây dựng mô hình Tòa án khu vực trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật. Đây là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nhằm góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp, thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều chƣơng trình trao đổi và hợp tác với các cơ quan ở các nƣớc Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada... và các tổ chức quốc tế nhƣ SIDA, 3 JICA, UNDP... về hoạt động tƣ pháp. Trong đó có nhiều Hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm... trong và ngoài nƣớc đã cho chúng ta một bức tranh nhiều màu sắc về tổ chức và hoạt động hệ thống cơ quan tƣ pháp của các nƣớc. Đây là những kinh nghiệm quý giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về hệ thống tƣ pháp của các nƣớc trên thế giới để từ đó lựa chọn một mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan tƣ pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những định hƣớng lớn về cải cách tƣ pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà nƣớc nói chung liên tục đƣợc đề cập qua các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX là nền tảng tƣ tƣởng vững chắc cho công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tƣ pháp nƣớc ta. Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp nhà nƣớc, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tƣ pháp Việt Nam có liên quan đến cải cách tƣ pháp nhƣ: Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp theo hƣớng xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của tác giả Trần Huy Liệu năm 2003; Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp (góp phần sửa đổi Hiến pháp năm 1992), Đề tài cấp Bộ, Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thế Liên; Sách chuyên khảo Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của GS.TSKH. Đào Trí Úc, NXB Tƣ pháp năm 2006; Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nƣớc của GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, NXB Giao thông vận tải năm 2002; Hệ thống tƣ pháp và cải cách tƣ pháp ở Việt Nam hiện nay của tập thể các tác giả do GS.TS. Đào Trí Úc chủ biên, NXB Khoa học xã hội năm 2002; Đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà nƣớc và pháp luật của Giáo sƣ Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1997. Những công trình khoa học nghiên cứu về Tòa án nhân dân ở những góc độ khác nhau. Có thể kể đến những công trình cơ bản sau: Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tƣ pháp, PGS.TS Phạm Hồng Hải, 4 Tạp chí Tòa án nhân dân, số 05 năm 2001; Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cƣờng năng lực xét xử của tòa án nhân dân cấp huyện, Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Văn Hiện, năm 2001... Các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tƣ pháp nƣớc ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống. Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chƣa giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp nói chung và Tòa án nhân dân nói riêng trong điều kiện cải cách tƣ pháp. Vấn đề tổ chức Tòa án nhân dân 4 cấp trong đó có việc xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực mới đƣợc đặt ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49 về cải cách tƣ pháp đến năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng. Vì vậy, mặc dù đã có khá nhiều bài viết về vấn đề này nhƣng chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống chính thức đƣợc công bố. 3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài và nhiệm vụ của luận văn 3.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài bao gồm: - Làm rõ bối cảnh, quan điểm và nội dung cải cách tƣ pháp. - Hiểu rõ thực trạng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, cán bộ của Tòa án nhân dân trong thời gian qua. - Xác định cơ sở thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực trong hệ thống Tòa án nhân dân và tính ƣu việt của mô hình này so với Tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay. - Chỉ ra những thuận lợi cũng nhƣ khó khăn, thách thức đặt ra đối với ngành Tòa án trong việc xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực; 5 - Đƣa ra phƣơng hƣớng và đề xuất một số giải pháp xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp ở Việt Nam. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: - Nghiên cứu cải cách tƣ pháp ở Việt Nam và yêu cầu cải cách đối với ngành Tòa án nhân dân. - Nghiên cứu thực trạng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, cán bộ của Tòa án nhân dân trong thời gian qua. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực cũng nhƣ tính ƣu việt của mô hình này. - Nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn thách thức đối với ngành Tòa án trong việc xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Trên cơ sở đó đƣa ra một số phƣơng hƣớng, giải pháp để xây dựng mô hình này. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, tôi xác định phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực; Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành; Cơ sở thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực; Những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, trên cơ sở đó đề xuất một số phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm xây dựng có hiệu quả mô hình này. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật; Các quan điểm của Đảng về từng bƣớc hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo yêu cầu cải cách tƣ pháp, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Luận văn cũng đƣợc trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, và các văn bản pháp luật khác quy định về tổ chức và 6 hoạt động của Tòa án. Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: Phƣơng pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp luật học so sánh và khảo sát thực tế để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn. 6. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ khoa học về bối cảnh, quan điểm, nội dung cải cách tƣ pháp và yêu cầu cải cách Tòa án nhân dân; xác định cơ sở thiết lập và tính ƣu việt của mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Trên cơ sở đó, luận văn đã đƣa ra một số phƣơng hƣớng và giải pháp khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn để xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, hi vọng rằng luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những ngƣời làm thực tiễn và công tác nghiên cứu, giảng dạy. 7. Kết cấu luận văn Về kết cấu của luận văn, ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Yêu cầu đổi mới mô hình Tòa án trong bối cảnh cải cách tƣ pháp ở Việt Nam. Chƣơng 2: Xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp. 7 CHƢƠNG 1: YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM 1.1. Khái quát về cải cách tƣ pháp 1.1.1. Bối cảnh cải cách tư pháp Trong hơn 60 năm qua, hệ thống các cơ quan tƣ pháp ở nƣớc ta đã hình thành và từng bƣớc kiện toàn, phát triển trên nền tảng của những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, hiện đại, ngày càng phù hợp và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thực tiễn cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lƣợc là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Bƣớc vào thiên niên kỷ mới, công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt đến bƣớc phát triển mới, tạo nên những tiền đề và cũng là thách thức lớn về kinh tế, chính trị, xã hội đòi hỏi phải có những điều chỉnh lớn mang tính cải cách đối với thiết kế tổng thể của hệ thống tƣ pháp, từ chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức, con ngƣời và hoạt động của từng cơ quan tƣ pháp cũng nhƣ các mối quan hệ giữa chúng. Trên bình diện quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái toàn cầu vẫn còn tiếp tục tác động đến thế giới nói chung và nền kinh tế nƣớc ta nói riêng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bƣớc tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lƣợng, tài nguyên. Chủ trƣơng bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thƣơng mại quốc tế. Thực tế này đã đặt ra những thách thức gay gắt đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong việc chủ động sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và các nỗ lực tập thể để nêu cao chủ quyền dân tộc, phát huy vai trò và bảo vệ lợi ích của mình. Trong giai đoạn tới, các nƣớc ASEAN sẽ hình thành cộng đồng kinh tế chung. Quá trình này sẽ dẫn đến việc hình thành các 8 nguyên tắc và chuẩn mực chung trong đó có các nguyên tắc, quy định pháp luật thể hiện lợi ích của cả cộng đồng. Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu và rộng vào đời sống kinh tế, chính trị quốc tế. Điều này không chỉ thể hiện ở sự tham gia trực tiếp của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế và các diễn đàn quốc tế và khu vực có tính truyền thống nhƣ Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dƣơng (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á mà còn thể hiện sự mở rộng đối với các tổ chức và diễn đàn này thông qua các diễn đàn APEC +, ASEAN+, và sắp tới đây Việt Nam đang đàm phán để chuẩn bị gia nhập Hiê ̣p đinh ̣ đố i tác kinh tế chiế n lƣơ ̣c xuyên Thái Biǹ h Dƣơng (TPP) đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với Việt Nam... Quá trình này đã làm cho hệ thống pháp luật và các thiết chế lập pháp, hành pháp, tƣ pháp của Việt Nam đã có những sửa đổi và điều chỉnh tích cực nhƣ từng bƣớc chuyển hóa các nguyên tắc pháp lý thƣơng mại quốc tế cơ bản nhƣ không phân biệt đối xử, công khai, minh bạch trong hoạt động ban hành pháp luật, áp dụng pháp luật, trong quy trình ra các quyết định hành chính, tƣ pháp... Tuy nhiên, những tiền đề đó chƣa đủ để vƣợt qua đƣợc những thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật và tƣ pháp nƣớc ta trong những năm tiếp theo. Nhƣ một số nhà nghiên cứu phân tích, những thách thức đó là sự bất tƣơng thích về mô hình tổ chức cơ chế hoạt động và thủ tục tố tụng tƣ pháp của Việt Nam so với các quy tắc và chuẩn mực chung của quốc tế; sự bất cập, lạc hậu trong nhận thức, hiểu biết và đặc biệt là kỹ năng áp dụng pháp luật của đội ngũ cán bộ tƣ pháp trong khi xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình hội nhập trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dƣỡng về kiến thức thƣơng mại quốc tế hiện đại và kỹ năng nghiệp vụ liên quan tới hội nhập vẫn đang trong tình trạng bị động, chắp vá, hình thức, kém hiệu quả . Để có thể thúc đẩy quá trình hội nhập nhanh và bền vững, việc xây dựng một nhà nƣớc hiệu quả, có cơ cấu tổ 9 chức phù hợp và một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phù hợp với thông lệ chung là yêu cầu rất lớn đang đặt ra đối với đất nƣớc ta. Sau 25 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010, chúng ta đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển kinh tế đất nƣớc. Sự ổn định về chính trị - xã hội, dân trí đƣợc nâng cao, dân chủ hóa nhiều mặt đời sống xã hội, bảo đảm nhân quyền, công bằng, tiến bộ xã hội đang đòi hỏi phải phát huy vai trò của pháp luật và tƣ pháp. Mặt khác, nhiều vấn đề văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục... đặt ra nhiều thách thức lớn trong đó có vấn đề phát triển bền vững. Quốc phòng và an ninh, nhất là chủ quyền và an ninh vùng biển đảo vẫn đang là thách thức lớn trong bối cảnh quốc tế hiện tại. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, lợi dụng triệt để vấn đề tự do dân chủ, tự do tôn giáo, các vấn đề về nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn, ly khai. Những tội phạm có vấn đề an ninh phi truyền thống nhƣ buôn bán ma túy, cƣớp biển, tội phạm có tổ chức, khủng bố, nhập cƣ và di cƣ trái phép đang ảnh hƣởng đến tình hình trật tự - xã hội của đất nƣớc. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật và tƣ pháp có khả năng đối mặt với khó khăn, thách thức này càng cần phải đƣợc chú trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đƣợc tổ chức thành công có ý nghĩa trọng đại khi đất nƣớc đang bƣớc sang một giai đoạn phát triển mới sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Đại hội Đảng đã thông qua Cƣơng lĩnh phát triển đất nƣớc trong thời kỳ quá độ (sửa đổi) và Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020. Đây là những văn kiện quan trọng định hƣớng cho sự phát triển đất nƣớc trong những năm tới, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc nhƣ một khâu quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi Chiến lƣợc, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, tạo bƣớc chuyển mạnh về cải cách hành chính. 10 Viê ̣c Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ sáu (ngày 28 - 11 - 2013) là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng bậc nhất của đất nƣớc trong năm 2013, thể hiện sự kết tinh trí tuệ của cả dân tộc ta trên con đƣờng phát triển. Hiến pháp (sửa đổi) có rất nhiều đổi mới và chính những đổi mới đó là cơ sở hiến định quan trọng mở đƣờng cho việc tiếp tục cải cách, đổi mới để đất nƣớc ta phát triển. Một trong những nội dung trọng tâm của sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này là đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc theo yêu cầu của Nhà nƣớc pháp quyền, không những có sự hoàn thiện hơn nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nƣớc tại Điều 2 của Hiến pháp, mà các nguyên tắc đó đã trở thành tƣ tƣởng xuyên suốt trong các quy định cụ thể của Hiến pháp. Bƣớc tiến mới dễ nhận thấy nhất là Hiến pháp (sửa đổi) đã khẳng định rõ: “Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp” [5, khoản 1 Điều 102]. 1.1.2. Các quan điểm cải cách tư pháp Thứ nhất, cải cách tƣ pháp phải xuất phát từ nhu cầu và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong từng giai đoạn phát triển của mình, kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tƣ pháp không chỉ phục vụ, tạo thuận lợi cho sự vận hành của nền kinh tế mà đồng thời phải là ngƣời lính gác bảo vệ tinh thông, nhạy bén trƣớc những biến cố, tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trƣờng có thể xâm hại đến trật tự công cộng [6, tr41]. Sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống tƣ pháp không tách rời sự phát triển của kinh tế - xã hội và tác động ngƣợc trở lại đối với kinh tế - xã hội, tạo hệ thống công cụ pháp lý an toàn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp, các trình tự, thủ tục và phƣơng thức, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, chức danh tƣ pháp phải đƣợc cải cách theo hƣớng chuyên nghiệp, hiệu quả, tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa 11 phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, đảm bảo ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, giải quyết nhanh chóng, hợp lý, hiệu quả các tranh chấp kinh tế, dân sự trong nền kinh tế thị trƣờng đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế, bảo vệ trật tự kỷ cƣơng xã hội, bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội và Nhà nƣớc. Thứ hai, cải cách tƣ pháp trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo giữ vững và phát huy bản chất dân chủ, vì con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời của các cơ quan thực hiện quyền tƣ pháp. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân thể hiện bản chất dân chủ của nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của Nhà nƣớc pháp quyền là bảo đảm và phát triển quyền con ngƣời, quyền công dân. Phƣơng thức bảo đảm quyền con ngƣời của nhà nƣớc pháp quyền là công nhận quyền con ngƣời, xác lập quyền công dân bằng hoạt động lập pháp, tổ chức thực thi quyền con ngƣời, quyền công dân bằng hoạt động hành pháp và bảo vệ các quyền đó bằng hoạt động tƣ pháp. Nguyên tắc xây dựng các cơ quan tƣ pháp của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền đòi hỏi huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi và tích cực của nhân dân vào công tác tƣ pháp, bắt đầu từ quá trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động tƣ pháp đến quá trình tổ chức thực thi pháp luật trong hoạt động tƣ pháp [7, tr12]. Nhiều Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 3 khóa VIII, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị) và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh chủ trƣơng nghiên cứu và đẩy mạnh xã hội hóa một số hoạt động tƣ pháp, bổ trợ tƣ pháp nhƣ tƣ vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, thi hành án, giám định tƣ pháp, công chứng, kết hợp quản lý nhà nƣớc với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp. Thực chất đó là quá trình 12 thu hút sức mạnh, trí tuệ, nguồn lực của nhân dân để làm thành sức mạnh của nhà nƣớc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở xã hội rộng rãi cho hoạt động tƣ pháp có hiệu lực, hiệu quả. Thứ ba, cải cách tƣ pháp trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đƣợc tiến hành đồng bộ với cải cách lập pháp, hành pháp theo hƣớng đảm bảo tính độc lập tƣơng đối và sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực trên cơ sở quyền lực nhà nƣớc thống nhất thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nƣớc. Trên cơ sở của Cƣơng lĩnh xây đựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội từ 2001 - 2010 do Đại hội Đảng IX thông qua [8, tr27], Nhà nƣớc đã chọn khâu trọng tâm, đột phá trong cải cách bộ máy nhà nƣớc – đó là xây dựng và triển khai Chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính 2001 - 2010 với mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, từng bƣớc hiện đại hóa. Kết quả bƣớc đầu dù còn rất khiêm tốn của cải cách hành chính đã góp phần tạo ra những tiền đề và yêu cầu mới đối với cải cách đồng bộ tổ chức và hoạt động lập pháp, tƣ pháp. Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết về Chiến lƣợc xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020 (gọi tắt là Chiến lƣợc pháp luật) và Nghị quyết về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 làm cơ sở chính trị quan trọng cho các cải cách đồng bộ của cả bộ máy nhà nƣớc. Thứ tƣ, cải cách tƣ pháp trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền phải đảm bảo tính tối cao của luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp, đảm bảo cải cách đồng bộ cả hệ thống tƣ pháp với Tòa án và hoạt động xét xử là trung tâm. Đây là yêu cầu rất cơ bản của nhà nƣớc pháp quyền đối với hoạt động tƣ pháp. Tòa án – cơ quan duy nhất có quyền xét xử, quyền sử dụng và nhân danh quyền lực nhà nƣớc để phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của những vi phạm pháp luật, những tranh chấp pháp lý. Nguyên tắc hiến định “Người bị buộc 13 tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [5, Điều 31] khẳng định tính tối cao, quyết định của hoạt động xét xử và vị trí trung tâm của tòa án trong hệ thống tƣ pháp. Vì vậy, cải cách tƣ pháp phải đồng bộ ở tất cả các công đoạn của quy trình tố tụng và với tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống tƣ pháp nhằm giải quyết triệt để những bất cập hiện nay đang làm cho quy trình tố tụng bị cắt khúc, các cơ quan tƣ pháp biệt lập với quyền ra những quyết định tiền xét xử (bắt tạm giữ, tạm giam...) có nhiều nguy cơ gây oan sai, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích cơ bản của công dân, làm cho Tòa án không thực sự giữ đƣợc vị trí là trung tâm của hệ thống tƣ pháp, là cơ quan duy nhất có quyền ra các quyết định, phán quyết động chạm đến quyền cơ bản của công dân trong quá trình tố tụng tƣ pháp. Thứ năm, cải cách tổ chức và hoạt động tƣ pháp phải dựa trên việc khai thác, phát huy các giá trị văn hóa pháp luật truyền thống của Việt Nam đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa pháp luật thế giới trong lĩnh vực tƣ pháp nói riêng, trong tổ chức lao động quyền lực nói chung theo các nguyên tắc pháp quyền. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, một nền kinh tế phát triển, một nền chính trị dân chủ phải đi kèm với một nền văn hóa pháp luật ở trình độ cao. Phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật trở thành đòi hỏi có tính cấp bách, góp phần đảm bảo thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nƣớc ta chủ trƣơng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền, thì việc nhận diện và phát huy các giá trị văn hóa pháp luật trong việc xây dựng, thực hiện pháp luật trở nên vô cùng cấp thiết. Mục tiêu của công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tƣ pháp chỉ có thể đạt đƣợc khi đƣợc tiến hành trong môi trƣờng văn hóa dân chủ, 14 trọng dân, trọng pháp thông qua văn hóa ứng xử của những con ngƣời, tổ chức cụ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện để góp phần khẳng định những giá trị văn hóa pháp luật truyền thống, khai thác và áp dụng những kinh nghiệm, bài học quý của dân tộc và các giá trị văn hóa pháp luật của nhân loại – công bằng và nhân đạo, dân chủ và pháp chế phải trở thành một quan điểm xuyên suốt quá trình cải cách tƣ pháp theo định hƣớng xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong điều kiện hội nhập quốc tế.[9] 1.1.3. Những nội dung của cải cách tư pháp Dựa trên các nguyên tắc và yêu cầu cải cách tƣ pháp, những nội dung cải cách tƣ pháp trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đƣợc thiết kế và thực hiện trên cả 3 yếu tố hợp thành của hệ thống tƣ pháp, đó là các thể chế, các thiết chế và các chức danh tƣ pháp, bổ trợ tƣ pháp, cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật hành chính và tố tụng tƣ pháp. Trong đó, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự theo hƣớng đề cao tính nhân đạo trong xử lý tội phạm nhƣ sử dụng biện pháp xử lý hành chính hay các biện pháp khác đối với một số hành vi kinh doanh trái phép, vô ý gây thiệt hại đến tài sản...; giảm áp dụng hình phạt tù và tăng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với các tội phạm về môi trƣờng, các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; áp dụng hạn chế hình phạt tử hình theo hƣớng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng... Hoàn thiện chính sách, pháp luật dân sự theo hƣớng phải xác định rõ, cụ thể quyền và nghĩa vụ về tài sản của Nhà nƣớc, cá nhân, tổ chức; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế định sở hữu, quyền tự do kinh doanh, hợp đồng; xây dựng và hoàn thiện chế định bồi thƣờng và bồi hoàn, nhất là việc bồi thƣờng của nhà nƣớc cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do lỗi của nhân viên trong các cơ quan nhà nƣớc, Hoàn thiện pháp luật hành chính về việc tách bạch mối quan hệ giữa 15
- Xem thêm -