Xây dựng chiến lược kinh doanh tại công ty tnhh một thành viên quang hiển

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ, hướng dẫn từ TS. Đỗ Hoàng Thịnh. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào. Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2012 Tác giả Lê Văn Thảo -0- PHẦN MỞ ĐẦU Khi nói đến sản xuất kinh doanh thì cho dù dưới hình thức nào vấn đề được nêu ra trước tiên cũng là hiệu quả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu phấn đấu của một nền sản xuất, là thước đo về mọi mặt của nền kinh tế quốc dân cũng như từng đơn vị sản xuất. Lợi nhuận kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là mục tiêu lớn nhất của mọi doanh nghiệm. Để đạt được điều đó mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt, giá thành hợp lý, doanh nghiệp vẫn vững vàng trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, trong đó chiến lược kinh doanh là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công ty TNHH một thành viên Quang Hiển là một doanh nghiệp tư nhân với nhiều năm kinh nghiệm, hiện nay đứng trước sự vận động của nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt của ngành. Công ty cũng đang cố gắng tìm tòi sáng tạo cho mình một chiến lược phát triển kinh doanh tương đối bền vững trên cơ sở vận dụng lý luận khoa học chiến lược vào điều kiện thực tiễn của Công ty nhằm tạo ra cho mình một chiến lược kinh doanh trong định hướng 3 - 5 - 10 năm tới hoặc dài hơn nữa. Tuy nhiên môi trường kinh doanh luôn thay đổi và việc xây dựng chiến lược kinh doanh cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh mới và cũng có thể nói không thể đề ra một chiến lược được xem là hoàn hảo nhất. Friedrich Engels đã nói “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. Tư duy lý luận dẫn đường cho mọi hoạt động của Doanh nghiệp được thể hiện bằng chiến lược Doanh nghiệp. Việt nam là một nước đang phát triển, từ khi ra nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nền kinh tế Việt nam hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế toàn cầu, đã mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các ngành, các doanh nghiệp, song cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn thách thức do nền kinh tế Việt nam vừa mới ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, đang bị thúc ép phải chấp nhận luật chơi trong môi trường kinh doanh toàn cầu, đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt. -1- Ngành điện tử điện lạnh ở Việt nam cũng không nằm ngoài luật chơi đó. Để tồn tại và phát triển, vấn đề quản trị chiến lược trở nên hết sức quan trọng cho sự sống còn của các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm.. Hiện tại, Công ty chưa có chiến lược kinh doanh hiệu quả và chưa có ai nghiên cứu xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty. Nhận thức được yêu cầu trên, với vai trò là một cán bộ công tác trong công ty Công ty, tôi ý thức được tầm quan trọng của việc đề ra các chiến lược kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành điện lạnh . Công ty cũng đang cố gắng tìm tòi sáng tạo cho mình một chiến lược phát triển kinh doanh tương đối bền vững trên cơ sở vận dụng lý luận khoa học quản trị chiến lược vào điều kiện thực tiễn của Công ty nhằm tạo ra cho mình một chiến lược kinh doanh trong định hướng 3- 5 tới . Chính vì vậy trong quá trình làm việc tại Công ty TNHH một thành viên Quang Hiển trên cơ sở hệ thống lý thuyết đã được trang bị ở nhà trường, căn cứ vào thực tế của Công ty và sự hướng dẫn tận tình của TS. Đỗ Hoàng Thịnh Tôi đã chủ động lựa chọn đề tài: "Xây dựng chiến lược kinh doanh tại Công ty TNHH một thành viên Quang Hiển" làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Nội dung nghiên cứu trong Luận văn là vận dụng các vấn đề lý luận cơ bản về lập chiến lược nói chung, lập chiến lược kinh doanh của Công ty Quang Hiển thời gian 3 năm tới. 1. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng về chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH MTV Quang Hiển. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Chiến lược kinh doanh điện lạnh Phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH MTV Quang Hiển 3. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thống kê kinh nghiệm. - Phương pháp thực nghiệm. -2- 4. Đóng góp của luận văn - Hệ thống lại cơ sở lý luận - Phân tích, chỉ ra được thực trạng và xây dựng chiến lược kinh doanh - Đưa ra giải pháp có tính khả thi và vận dụng được vào thực tiễn 5. Kết cấu luận văn Luận văn bao gồm các 3 chương: Chương 1: Tổng quan về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh và điều kiện xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty TNHH MTV Quang Hiển. Chương 3: Giải pháp xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty TNHH MTV Quang Hiển. -3- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP: 1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ “stratos” có nghĩa là quân đội, bầy, đoàn và từ “agos” với nghĩa là điều khiển, lãnh đạo… 1.1.2 Khái niệm về chiến lược phát triển tổ chức Chiến lược sử dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được xây dựng trên cơ sở thông tin chắc chắn. Thông thường người ta hiểu chiến lược chính là khoa học về nghệ thuật chỉ huy quân sự. Đó là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các chiến dịch có quy mô lớn. Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển sang các lĩnh vực khoa học khác như: chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội, công nghệ, môi trường… Cạnh tranh trên thương trường ngày càng quyết liệt và thương trường được ví như chiến trường. Vì vậy, để tồn tại và phát triển bền vững, thì các doanh nghiệp không thể không chú trọng đến việc nghiên cứu và xây dựng chiến lược cho mình. Từ “ chiến lược” có nghĩa: Mỗi tác giả sử dụng nó theo một nghĩa riêng. - Chiến lược là kế hoạch hay một chương trình hành động được xây dựng một cách có ý thức. - Chiến lược là mưu mẹo. - Chiến lược là tập hợp các hành vi gắn bó với nhau theo thời gian. - Chiến lược là sự xác định vị trí của doanh nghiệp trong môi trường của nó. - Chiến lược thể hiện viễn cảnh của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng thể hiện nhận thức và sự đánh giá môi trường của doanh nghiệp. Tùy theo từng cách tiếp cận mà người ta có những quan niệm khác nhau về chiến lược. -4- 1.1.3 Khái niệm về chiến lược kinh doanh * Quan điểm truyền thống Theo cách tiếp cận cạnh tranh coi chiến lược kinh doanh là một phạm trù của khoa học quản lý, Alfed Chandle viết: Chiến lược kinh doanh là việc xác định những mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản. William J.Glueck tiếp cận chiến lược theo một cách khác Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện. Vậy có gì khác nhau giữa kế hoạch kinh doanh và chiến lược kinh doanh ? Kế hoạch kinh doanh là quá trình lặp đi lặp lại công tác hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh đã được hoạch định. Như vậy, kế hoạch hoàn toàn mang tính chất tĩnh và thích ứng. Khác với bản chất kế hoạch, đặc trưng cơ bản của chiến lược là động và tấn công. Cái gì phân biệt chiến lược kinh doanh trong tất cả các loại hình khác của kế hoạch kinh doanh. Có thể gói gọn trong câu- đó là lợi thế cạnh tranh. Nếu không có cạnh tranh thì không có chiến lược. Mục đích của chiến lược là đảm bảo vượt trội hơn đối thủ cạnh tranh. Cũng theo cách tiếp cận này, Michel Porter cho rằng: «Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ». Quan điểm hiện đại: Theo quan điểm mới, khái niệm chiến lược bao gồm « 5P ». + Kế hoạch (Plan) + Mưu lược (Ploy) + Thống nhất (Pattern) + Vị thế (Position) + Triển vọng (Perspective) Như vậy, chiến lược là phương thức hành động tổng quát mà các công ty sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn, tăng sức mạnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh bằng các phối hợp có hiều quả nỗ lực của các bộ phận trong doanh nghiệp, tranh thủ được các cơ hội tránh hoặc giảm thiểu -5- được các mối đe dọa, nguy cơ từ bên ngoài để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp. Là xây dựng lợi thế cạnh tranh. Khốn có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích của chiến lược là đảm bảo thắng lợi trước đối thủ cạnh tranh. Mục đích của chiến lược kinh doanh Từ những khái niệm trên có thể thấy mục đích của chiến lược kinh doanh là xây dựng tiềm năng thành công của doanh nghiệp trong tương lai. Tiềm năng của doanh nghiệp có xu hướng giảm dần theo thời gian trước ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, trước nhu cầu ngày càng cao về chất lượng của người tiêu dùng và thành công của đối thủ cạnh tranh. Duy trì và phát triển tiềm năng thành công trong tương lai là mục tiêu của chiến lược trong doanh nghiệp. 1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng chiến lược kinh doanh Do có rất nhiều các khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược để lam nền tảng cho việc phân tích các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở để thiết lập các ma trận, tác giả xin chọn lấy khái niệm của Fred.R David làm cơ sở để xây dựng chiến lược kinh doanh bán điện của Công ty Điện Lực Hai Bà Trưng với lý do mô hình, cách phân tích yếu tố, cách thiết lập ma trận Nhóm các nhân tố bên trong Các nhân tố bên trong là các nhân tố phát sinh từ trong lòng doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là: Nguồn lực tài chính Đây là nguồn lực quan trọng nhất và quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều là hoạt động đầu tư mang tính chất sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường sản xuất kinh doanh hàng hóa, doanh nghiệp phải có vốn bằng tiền hay bằng nguồn lực tài chính để thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh. Với nguồn lực tài chính này doanh nghiệp sẽ chi cho các hoạt động như đầu tư mới, mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân. -6- Nguồn nhân lực Ngày nay, tất cả chúng ta đều biết rằng nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, then chốt, có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thì chủ đầu tư thường chú trọng đến các vấn đề: (i) Cán bộ quản trị cấp cao (ban giám đốc) là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, điều hành và quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào các quyết định của họ. Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo chủ đầu tư thường quan tâm đến các tiêu thức như kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh và các mối quan hệ và xa hơn nữa là khả năng xây dựng một tập thể đoàn kết, vững mạnh, thúc đẩy mọi người hết mình cho công việc. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh, tăng thêm năng lực cạnh tranh. (ii) Cán bộ quản trị cấp trung gian là những người đứng dưới quản trị viên cao cấp và đứng trên quản trị viên cấp cơ sở. Ở vị trí này họ vừa quản trị các quản trị viên cấp cơ sở thuộc quyền, vừa điều khiển các nhân viên khác. Chức năng của họ là thực hiện các kế hoạch và chính sách của doanh nghiệp bằng cách phối hợp thực hiện các công việc nhằm dẫn đến hoàn thành mục tiêu chung. Để đánh giá năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ cấp này chủ đầu tư thường xem xét trên các mặt: + Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, thâm niên nghề nghiệp, tác phong làm việc, sự am hiểu về kinh doanh và pháp luật. + Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ qua đó cho biết trình độ chuyên môn hoá và khả năng đa dạng hóa của doanh nghiệp. Trong đó đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản trị và công nhân lành nghề có chuyên môn về lĩnh vực chính của doanh nghiệp phải chiếm tỷ trọng ít nhất là 60%. (iii) Các chuyên viên, đây là một trong những khác biệt so với các ngành khác. Họ là những người không làm quản lý mà chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần. Đó là những kỹ sư, cử nhân trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như lập dự toán, giám sát thi công và vai trò của họ cũng rất quan trọng. Chẳng hạn như cá nhân người kỹ sư giám sát thi công có quyền quyết định mọi vấn đề trong -7- quá trình thi công một hạng mục mà họ được phân công, quyết định của họ có ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình. (iv) Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân là đội ngũ các nhà quản trị ở cấp cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị một doanh nghiệp. Thông thường họ là những đốc công, tổ trưởng, trưởng ca. Nhiệm vụ của họ là hướng dẫn, đôn đốc, điều khiển công nhân hoàn thành các công việc hàng ngày theo tiến độ kế hoạch để đưa đến hoàn thành mục tiêu chung của cả doanh nghiệp. Đây là đội ngũ quản trị viên lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp qua khía cạnh như chất lượng, tiến độ thi công. Và cuối cùng là là đội ngũ lao động với trình độ tay nghề cao, có khả năng sáng tạo trong công việc, họ chính là những người thực hiện những ý tưởng, chiến lược của các quản trị cấp cao, tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hoạt động Marketing Trong quá trình sản xuất kinh doanh, Marketing là một công cụ cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tăng doanh thu, hiệu quả của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp nếu xây dựng được chiến lược marketing và biết cách sử dụng nó trong những tình huống, thời điểm thích hợp thì sẽ giúp doanh nghiệp đó giữ được ưu thế trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực xây dựng, do đặc thù sản phẩm của các doanh nghiệp ngành này là không thể đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng lựa chọn như các ngành công nghiệp khác được mà chủ yếu dựa vào danh tiếng, thương hiệu, chất lượng của của những công trình đã thi công để khách hàng xem xét và tìm đến yêu cầu sản xuất sản phẩm. Sự cạnh tranh trực tiếp giữa các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu là sự so sánh về thành tích, về thương hiệu. Nhóm các nhân tố bên ngoài Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý bao gồm luật và các văn bản dưới luật. Luật gồm có luật trong nước và luật quốc tế, các văn bản dưới luật cũng vậy, có những quy định do Chính phủ Việt Nam ban hành, có những quy định do các tổ chức quốc tế (WTO, AFTA, ASEAN) ban hành mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hội -8- nhập và toàn cầu hoá phải tuân theo. Mọi quy định và luật lệ trong hợp tác kinh doanh quốc tế đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, nó tác động trực tiếp đến mọi phương diện như tín dụng, thuế, chống độc quyền, bảo hộ, ưu đãi, bảo vệ môi trường,.. những chính sách này khi tác động lên nền kinh tế sẽ ra cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng sẽ tăng nguy cơ cho doanh nghiệp khác. Sự ổn định của môi trường pháp lý cũng như sự ổn định chính trị sẽ là một nhân tố thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp phải nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thay đổi liên tục của pháp luật, dẫn đến suy yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 1.1.5 Vai trò của chiến lược kinh doanh Là người chủ/người quản lý doanh nghiệp, bạn cần phải có một chiến lược để thành công. Chiến lược kinh doanh nhìn về tương lai xa hơn của công ty. Các ông chủ/người quản lý công ty rất dễ quên và bỏ qua chiến lược kinh doanh bởi vì họ rất bận rộn với công việc hiện tại. Trong trường hợp này, bạn không thể biết làm thế nào để định vị được công việc kinh doanh của bạn và hiện nó đang ở vị trí nào. Với kỹ năng chiến lược tốt, bạn sẽ đặt ra các mục tiêu thực tế và biết một cách rõ ràng về cách để đạt được chúng trong tương lai. Là người chủ/người quản lý doanh nghiệp, bạn không thể ủy thác cho người khác xây dựng chiến lược kinh doanh. Bạn phải quyết định tương lai của doanh nghiệp hoặc là nó sẽ mất đi vị trí trên thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh. Phân tích SWOT Các yếu tố của môi trường bên trong đối với một doanh nghiệp có thể được phân loại thành các điểm mạnh (S), điểm yếu (W), các yếu tố bên ngoài có thể được phân thành các cơ hội (O) và thách thức(T). Sự phân tích này đối với môi trường chiến lược được gọi là phân tích ma trận SWOT. Phân tích ma trận SWOT cung cấp thông tin hữu ích trong việc hài hòa các nguồn lực và năng lực của công ty đối với môi trường cạnh tranh mà công ty đang hoạt động. Như vậy, đây là một công cụ trong lựa chọn chiến lược. -9- Điểm mạnh: Điểm mạnh của một doanh nghiệp là các nguồn lực và năng lực mà có thể được sử dụng như là một cơ sở trong việc phát triển lợi thế cạnh tranh. Điểm yếu: Không có các điểm mạnh nói trên có thể được xem là các điểm yếu của doanh nghiệp. Cơ hội: Bối cảnh bên ngoài có thể tạo cho doanh nghiệp cơ hội mới để tăng trưởng và phát triển. Thách thức: Sự thay đổi của môi trường bên ngoài cũng có thẻ mang lại nhiều thách thức cho doanh nghiệp. • Chiến lược S-O: theo đuổi các cơ hội phù hợp nhất với những điểm mạnh của doanh nghiệp • Chiến lược W-O: vượt qua những điểm yếu để theo đuổi cơ hội • Chiến lược S-T: xác định rõ cách mà doanh nghiệp có thể sử dụng các lợi thế của mình để giảm thiệt hại đối với những thách thức bên ngoài • Chiến lược W-T: thiết lập một kế hoạch phòng thủ để ngăn ngừa điểm yếu của doanh nghiệp khỏi những ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài. 1.2 NỘI DUNG VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Giai đoạn 1: Vạch ra nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Giai đoạn 2: Phân tích môi trường kinh doanh bao gồm phân tích môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Giai đoạn 3: Hình thành chiến lược, bao gồm: + Đề xuất chiến lược tổng quát. + Đưa ra chiến lược bộ phận + Đưa ra giải pháp thực hiện ý đồ chiến lược đã chọn ( vốn – quản lý – nhân lực – tiêu thụ sản phẩm …) + Đưa ra các biện pháp cụ thể để triển khai ý đồ chiến lược *Bước 1: Phân tích môi trường kinh doanh Phân tích môi trường kinh doanh nhằm tìm ra những cơ hội, những đe dọa, những điểm mạnh, những điểm yếu của doanh nghiệp. Quản lý chiến lược kinh - 10 - doanh là việc tận dụng và phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu của doanh nghiệp trong việc khai thác các cơ hội và né tránh các đe dọa từ môi trường. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được phân thành môi trường bên ngoài và môi trường bên trong. 1.2.1 Phân tích môi trường bên ngoài Là việc phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm nhận dạng những đe dọa để né tránh những thời cơ để tận dụng. 1.2.2 Phân tích môi trường bên trong Là việc nhận thức và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân doanh nghiệp so với yêu cầu và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và với đối thủ cạnh tranh. Thực chất của quản trị chiến lược kinh doanh là việc tìm ra và phát triển các lợi thế cạnh tranh. Do đó, việc hiểu biết môi trường nội bộ có ý nghĩa to lớn trong việc thành công của doanh nghiệp. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp gồm 3 cấp: + Môi trường vĩ mô + Môi trường ngành + Môi trường nội bộ *Bước 2: Xác định nhiệm vụ, mục tiêu và xây dựng các phương án chiến lược + Xác định nhiệm vụ, mục tiêu: Trước khi hành động, doanh nghiệp cần phải biết mình sẽ đi đâu, vì thế việc xác định mục tiêu là hết sức quan trọng. Xác định mục tiêu chiến lược tương đối rộng và có thể phân ra thành ba phần: chức năng nhiệm vụ, mục đích và mục tiêu. Quan trọng nhất của mục tiêu chiến lược là chức năng nhiệm vụ. Nó thể hiện lý do cơ bản để doanh nghiệp tồn tại. Mục đích hay mục tiêu là cái đích được rút ra từ chức năng nhiệm vụ và phải nhằm vào thực hiện chức năng nhiệm vụ đó. Sau khi đề ra chức năng, nhiệm vụ và mục đích của doanh nghiệp phải xác định điều doanh nghiệp muốn đạt được là gì. Đó là những mục tiêu cụ thể cần đạt được trong từng thời kỳ. + Xây dựng các phương án chiến lược là lựa chọn, hoạch định, hình thành chiến lược. Phương cách làm thế nào để công ty đạt được mục tiêu mong muốn là - 11 - nội dung chiến lược. Chiến lược cần được định ra như kế hoạch hay sơ đồ tác nghiệp tổng quát dẫn dắt hoặc hướng dẫn tổ chức đi đến mục tiêu mong muốn. Các phương pháp và kỹ thuật hoạt động tác nghiệp là các nội dung cụ thể chỉ ra cho công ty thấy cần phải làm gì trong những tình huống nhất định. Sau khi phân tích các phương án chiến lược cần lựa chọn sự kết hợp các chiến lược cấp công ty, cấp cơ sở, bộ phận chức năng. 1.3 PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ ĐỂ HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC 1.3.1 Phân tích môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp chủ yếu gồm các yếu tố chính trị, pháp luật, kinh tế, kỹ thuật, xã hội, văn hóa của đất nước. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp còn bao gồm môi trường chính trị và pháp luật, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội của doanh nghiệp. 1.3.1.1 Sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tính quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh tế được đặc trưng bởi một loạt các yếu tố sau: * Tốc độ tăng trưởng kinh tế Được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như thu nhập bình quân đầu người hàng năm, tổng thu nhập quốc dân (GNP), tổng thu nhập kinh tế quốc nội (GDP)... Các nhân tố kinh tế đóng vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tính chất quyết định đến hoạt động của mọi doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động của cá doanh nghiệp thường là trạng thái phát triển kinh tế : tăng trưởng, ổn định hay suy thoái. Khi nến kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao sẽ tác động đến các doanh nghiệp theo hai hướng. Một là, sẽ tạo cơ hội cho đầu tư mở rộng, làm tăng thu nhập trong dân cư dẫn đến khả năng thanh toán các nhu cầu. Từ đó sẽ làm tăng sản lượng và mặt hàng, tăng hiệu quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, làm cho ngành kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn (cơ hội). Thứ hai, việc thu được nhiều lợi nhuận của một - 12 - số doanh nghiệp sẽ làm xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh với họ trong cùng nhiều ngành kinh doanh (đe dọa). Ngược lại, khi nền kinh tế sa sút, suy thoái sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng. Từ đó, làm giảm khả năng thanh toán các nhu cầu, giảm sức mua và có thể dẫn đến nguy cơ phá sản doanh nghiệp. * Tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ Đây là yếu tố tác động trực tiệp đến hoạt động xuất nhập khẩu và quan hệ thanh toán quốc tế. Việc tác động này theo hai chiều hướng: Nó có thể là cơ hội đối với doanh nghiệp này nhưng lại là mối đe dọa đối với doanh nghiệp khác. Khi chính sách tiền tệ trong nước và tỷ giá hối đoái là ổn định thì có tác dụng tốt đến các doanh nghiệp (cơ hội). Còn ngược lại, khi chính sách này không ổn định sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, giao dịch quốc tế của các doanh nghiệp (đe dọa). * Tỷ lệ lạm phát Cũng là một nhân tố có tác động lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm chính của lạm phát là làm cho doanh nghiệp khó đoán trước được tương lai. Tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động xấu đến tiêu dùng, số cầu của hầu hết các loại sản phẩm, dịch vụ sẽ giảm, tiền sẽ được tích trữ bằng vàng nên giảm lượng vốn trong lưu thông. Lạm phát tăng khiến cho các dự án đầu tư trở lên nên mạo hiểm hơn, các doanh nghiệp sẽ giảm nhiệt tình đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Do đó, sẽ làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại. Như vậy, lạm phát cao sẽ là mối đe dọa đối với hầu hết các doanh nghiệp. * Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ dẫn đến dư thừa về lao động (cung lao động lớn hơn cầu lao động). Do đó, thuê nhân công rẻ và các doanh nghiệp có cơ hội để lựa chọn người lao động có tay nghề cao từ đó làm hạ giá thành sản phẩm. Nhưng đứng trên góc độ xã hội thì tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ sinh ra các tệ nạn xã hội khiến chi tình hình an ninh trở nên bất ổn. Môi trường xã hội bị đe dọa, mất lòng tin đối với các nhà đầu tư. * Xu hướng và thực tế đầu tư nước ngoài - 13 - Cũng là nhân tố có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc đầu tư nước ngoài tăng lên có thể là cơ hội đối với một số doanh nghiệp để nắm bắt đầu tư nhưng nó trở thành mối đe dọa đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước bởi sức cạnh tranh khá lớn từ các công ty nước ngoài. 1.3.1.2 Sự ảnh hưởng của môi trường chính trị và luật pháp Môi trường chính trị là các yếu tố chính trị và những hoàn cảnh mà sự vận hành các yếu tố tạo ra, có ảnh hưởng đến kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố này bao gồm: chế độ chính trị, chế độ chính Đảng, đoàn thể chính trị, phương châm chính sách của Đảng và nhà nước, không khí chính trị của xã hội như: khuynh hướng chính trị, nhiệt tình chính trị, tư tưởng chính trị. Môi trường pháp luật là hệ thống pháp luật có liên quan đến doanh nghiệp, bao gồm quy phạm pháp luật của nhà nước, ý thức pháp luật của cơ quan tư pháp, cơ quan hành pháp và doanh nghiệp. Ảnh hưởng của môi trường chính trị và pháp luật đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất sâu rộng, thậm chí có lúc mang ý nghĩa quyết định. Sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi pháp luật và chính sách quản lý vĩ mô, các thể chế kinh tế xã hội như các chính sách, quy chế, định chế, luật lệ, chế độ tiền lương Được đổi mới, nhiều kỹ thuật mới ra đời và được áp dụng nahnh chóng cho toàn bộ nền kinh tế các nước phát triển được tri thức hóa, mạng hóa. Điều đó sẽ thay đổi được môi trường khoa học kỹ thuật các các doanh nghiệp, đẩy mạnh việc đổi mới khoa học kỹ thuật của xã hội, thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ và thay đổi cơ cấu ngành nghề hiện nay. Các doanh nghiệp cần thấy rõ sự thay đổi đó mang lại, thực hiện tiến bộ kỹ thuật và nâng cấp kỹ thuật của doanh nghiệp mình. Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn, trực tiếp và mang tính chấy quyết định đối với khả năng cạnh tranh của nhiều ngành cũng như của nhiều doanh nghiệp sản xuất. Sự phát triển công nghệ làm chao đảo nhiều lĩnh vực nhưng lại làm xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới hoàn thiện hơn : “Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế tri thức”, trong nền kinh tế đố nếu các doanh nghiệp muốn đứng vững, nhanh chóng vươn lên , tạo thế cạnh tranh thì phải luôn chú trọng đến khả năng nghiên cứu và - 14 - phát triển, không chỉ là chuyển giao , làm chủ động công nghệ mà phải chủ động sáng tạo được kỹ thuật - công nghệ tiên tiến 1.3.1.3 Sự ảnh hưởng của các điều kiện văn hóa - xã hội Môi trường xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự hình thành và biến động của các tầng lớp xã hội, cơ cấu dân cư, tình hình di chuyển của dân cư, cơ cấu quyền lực xã hội, phương thức sinh hoạt và làm việc của mọi người. Hiện trạng và sự biến động của những yếu tố đó đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thí dụ, giao thông phát triển sẽ dẫn đến sự di chuyển của dân cư và phân bổ dân cư. Do đó mà thay đổi điều kiện thương mại của doanh nghiệp. Trong thời đại kinh tế tri thức, phương thức làm việc và sinh hoạt của mọi người có nhiều thay đổi tạo ra một không gian phát triển rộng rãi cho ngành xây lắp, khoa học kỹ thuật và các ngành dịch vụ khác; đồng thời cũng đặt ra cho công tác đào tạo nguồn nhân lực những yêu cầu cao hơn. Các yếu tố xã hội như số dân, tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu dân cư, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, giá trị văn hóa, cộng đồng doanh nhân đều có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là những nhân tố chính trong việc hình thành thị trường sản phẩm và thị trường dịch vụ yếu tố sản xuất. Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi hoặc khi dân trí nâng cao thì doanh nghiệp sẽ như thế nào? Những nguy cơ nào đe dọa , những cơ hội nào có thể nắm bắt?, phải phân tích kịp thời những thay đổi này. Có như vậy, thông tin mới đầy đủ và có hệ thống giúp cho hoạch định chiến lược có căn cứ toàn diện hơn. Môi trường văn hóa của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật. Ảnh hưởng của các yếu tố này đối với kinh doanh của doanh nghiệp phần lớn là ảnh hưởng gián tiếp nhưng không thể coi nhẹ. Ví dụ, một doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh ở thị trường biên giới thì phải theo phong tục, tập quán, quy định ở địa phương. 1.3.1.4 Sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên gồm các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, các điều kiện về địa lý như địa hình, đất đai, khí hậu, môi trường… ở trong nước cũng như ở từng khu vực. - 15 - Môi trường tự nhiên có tác động đến những doanh nghiệp theo các hướng khác nhau với cường độ khác nhau theo hai xu hướng: tích cực và tiêu cực. Trong cùng một môi trường tự nhiên đối với doanh nghiệp này lại có cơ hội nhưng với doanh nghiệp khác lại là đe dọa. Các nguồn tài nguyên, khoáng sản trong thiên nhiên là khan hiếm và có hạn. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên luôn ảnh hưởng đến môi trường. Vì thế đặt ra vấn đề lớn hiện nay là phải làm gì để bảo vệ môi trường Ngày nay, các doanh nghiệp không chỉ quan tâm và theo đuổi các mục tiêu của doanh nghiệp mà còn cần phải quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường, nguồn năng lượng ngày càng khan hiếm, tài nguyên thiên nhiên khai thác bừa bãi, chất lượng môi trường có nguy cơ xuống cấp… bởi những sự thay dổi này đều có tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp 1.3.2 Phân tích môi trường ngành Môi trường ngành là môi trường trung gian của môi trưỡng vĩ mô và môi trường vi mô. Trong bất kỳ ngành nghề nào, mỗi doanh nghiệp đều phải chịu sức ép cạnh tranh về 5 mặt. Đó là sức ép cạnh tranh của doanh nghiệp mới, sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành, sức ép cạnh tranh của sản phẩm thay thế hoặc dịch vụ thay thế, năng lực mặc cả của nhà cung cấp, người tiêu dùng. Hiện trạng , xu thế , cường độ tong hợp của 5 sức ép có quyết định mức độ gay gắt của cạnh tranh và khả năng giành thắng lợi của doanh nghiệp, quyết định tính chất của doanh nghiệp trong ngành đó 1.3.2.1 Phân tích đối thủ cạnh tranh Đối thủ mới thường mang theo khả năng mới. Muốn chinh phục thị trường, doanh nghiệp phải biết đối thử nào mới xuất hiện. Nó bị cản trở xâm nhập thị trường từ phía các đối thủ khác không? Có thể làm gì để cản trở đối thủ này? Cường độ cạnh tranh được đặc trưng bởi số lượng đối thủ cạnh tranh và tỷ trọng đối thủ ngang sức chiếm bao nhiêu trong sô đó. Các đối thủ ngang sức có những điểm nào mạnh hơn, điểm nào yếu hơn? Đánh giái chung bằng hệ thống điểm thì doanh nghiệp đứng thứ mấy? Làm gì để vươn lên vị trí trội hơn? 1.3.2.2 Phân tích áp lực của các khách hàng - 16 - C c Doanh nghiệp cần phân tích khách hàng để trả lời cho các câu hỏi : Những khách hàng nào là quan trọng nhất? Số lượng hàng hóa do khách hàng này từ bỏ doanh nghiệp thì sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp như thế nào? Liệu khách hàng nào cản trở khách hàng trung thành và họ sử dụng những thủ đoạn nào? Phải làm gì để giữ được khách hàng hiện có và phát triển thêm? 1.3.2.3 Phân tích quyền lực của nhà cung cấp Phân tích quyền lực của nhà cung cấp nào gây sức ép nhiều nhất đối với doanh nghiệp có được chiến lược ứng xử linh hoạt một khi đã có những sự chuẩn bị trước. Nhà cung cấp không hữu hảo, gây trở ngại bằng việc nâng giá dịch vụ hay sản phẩm hoặc thay đổi điều kiện cung cấp thì sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp như thế nào? Họ sẽ làm gì với mình và tại sao? Doanh nghiệp phải làm gì để không lệ thuộc vào nhà cung cấp và để nhà cung cấp tạo điều kiện cung cấp tốt nhất? 1.3.2.4 Phân tích áp lực của sản phẩm mới thay thế Cần phải trả lời được liệu có sản phẩm nào xuất hiện trên thị trường làm cho người tiêu dùng thích sản phẩm đó và bỏ thói quen mua hàng của mình? Có bao nhiêu loại hàng hóa tương tự như thế cản trở sự tăng trưởng của công ty và làm thế nào để sản phẩm thay thế suy yếu hoặc không gây cản trở cung ứng hàng hóa ra thị trường của doanh nghiệp? 1.3.3 Phân tích nội bộ doanh nghiệp Môi trường vi mô của doanh nghiệp là những yếu tố liên quan đến nhân lực, vật lực, sản phẩm, cung tiêu, kỹ thuật, thông tin, thời gian làm việc của doanh nghiệp. Đó là những yếu tố cơ bản quyết định sự sinh tồn và phát triển của doanh nghiệp. Việc phân tích đánh giá đúng về môi trường nội bộ của doanh nghiệp sẽ giúp các nhà hoạch định chiến lược xác định điểm mạnh hay còn gọi là những năng lực cạnh tranh cốt yếu để phát huy chúng và hạn chế nhằm khắc phục những điểm yếu. Chúng ta phải khẳng định một thực tế là không thể nào đánh giá hết tất cả các nhân tố trong nội bộ doanh nghiệp bởi số lượng các nhân tố là rất lớn. Những nhân tố chính đại diện mà chúng ra sử dụng tới trong đánh giá môi trường nội bộ doanh nghiệp bao gồm: Tác động của khả năng sản xuất, quá trình nghiên cứu và phát - 17 - triển, đánh giá hiệu quả của công tác Marketing, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Căn cứ vào đặc điểm chung của ngành nghề hoạt động và lĩnh vực hoạt động mà từ đó doanh nghiệp tham gia, chúng ta sẽ có những bước xác định cụ thể những nhân tố nội bộ chủ chốt. 1.3.3.1 Phân tích năng lực sản xuất a. Năng lực sản xuất Năng lực sản xuất là khả năng sản xuất một số lượng sản phẩm phù hợp cới quy cách đã định trong một thời kỳ nhất định. Nó biểu hiện tập trung năng lực của các yếu tố sản xuất. Năng lực sản xuất thực tế và năng lực sản xuất theo kế hoạch. Khi xây dựng chiến lược kinh doanh chủ yếu là căn cứ vào năng lực sản xuất theo thieesut kế và năng lực sản xuất theo thực tế. Năng lực sản xuất bao gồm các yếu tố: quy mô sản xuất, cơ cấu, trình độ kỹ thuật sản xuất, hình thức tổ chức quá trình sản xuất… b. Nghiên cứu và phát triển Là hoạt động có mục đích sáng tạo sản phẩm, dịch vụ mới khác biệt hóa sản phẩm, sáng tạo , cải tiến và áp dụng công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật, sáng tạo vật liệu mới… Khả năng nghiên cứu và phát triển là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm, sáng tạo và ứng dụng có hiệu quả công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật, sáng tạo sản phẩm mới thay thế… các vấn đề trên tác động trực tiếp và rất mạnh đến các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. 1.3.3.2 Phân tích thiết bị và công nghệ sản xuất Chủ yếu là phân tích năng lực thiết bị, tính năng kỹ thuật của thiết bị, tuổi bình quân của thiết bị, chỉ tiêu sử dụng thiết bị, tình hình bảo dưỡng thiết bị , sự cân đối giữa năng lực thiết bị với các yếu tố khác, trình độ công nghệ thấp thì khả năng phát triển của doanh nghiệp kém. 1.3.3.3 Phân tích khả năng tài chính cho đổi mới và phát triển Tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động trực tiếp kết quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Mọi hoạt động đầu tư mua sắm, dự trữ, lưu trữ… cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mọi thời diềm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp. - 18 - Khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu như sau: Cầu về vốn và khả năng huy động vốn, việc phân bổ cơ cấu vốn), hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp đánh giá vị thế của doanh nghiệp… 1.3.3.4 Phân tích trình độ quản lý của doanh nghiệp a. Nghiên cứu tác động của công tác Marketing Có thể hiểu Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các ý tưởng lien quan để việc hình thành, xác định giá cả, xúc tiến bán hàng và phân phối hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn mục tiêu của mọi cá nhân, tổ chức. Nội dung của hoạt động Marketing phụ thuộc vào đặ điển từng ngành, doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Việc nghiên cứu Marketing nhằm trả lời các câu hỏi: - Doanh nghiệp đang đứng ở vị trí nào trong thị trường? - Hình thức hiện tại của doanh nghiệp đã hiểu quả chứa? - Hoạt động Marketing có cần thiết đối với doanh nghiệp không? - Lợi nhuận đem lại của mỗi sản phẩm, mỗi thị trường, mỗi kênh phân phối là bao nhiêu? - Phản ứng của đối thủ trước hiệu quả thu được của doanh nghiệp? - Liệu doanh nghiệp có nên thâm nhập vào thị trường mới hay không? Hay quay trở về trạng tháo trước đây hay tìm một sự dung hòa giữa cả hai? Mục tiêu của doanh nghiệp là thỏa mãn các nhu cầu mong muốn của khách hàng bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, đảm bảo được cung cấp sản phẩm (dịch vụ) ổn định chất lượng theo yêu cầu của sản xuất và giá cả phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn. Như vậy, ngay từ khu xuất hiện cho tới ngày nay, họat động Marketing luôn và ngày càng đóng vị trí quan trọng đối với hoạt động chất lượng và ở phạm vi rộng bao nhiêu doanh nghiệp càng có thể tạo ra các lợi thế chiến thắng các đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu b. Phân tích nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực được coi là vấn đề quan trọng sống còn đối với mọi tổ chức - 19 -
- Xem thêm -