Xâm phạm quyền tác giả ở việt nam – thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 167 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ----- *** ----- NGUYỄN HỒNG OANH XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Luật Sở hữu trí tuệ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Người hướng dẫn: PGS. TS. Bùi Đăng Hiếu HÀ NỘI - 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ----- *** ----- NGUYỄN HỒNG OANH DS33D XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Luật Sở hữu trí tuệ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Người hướng dẫn: PGS. TS. Bùi Đăng Hiếu HÀ NỘI - 2012 LỜI CẢM ƠN Trước tiên, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Đăng Hiếu, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Luật Dân sự, đặc biệt là các Thầy, Cô trong bộ môn Luật Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong bốn năm học tập. Những kiến thức mà em nhận được trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp em vững bước trong tương lai. Em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, và đặc biệt là cha mẹ và anh chị, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ em vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Cuối cùng, em xin chúc quý Thầy, Cô và gia đình dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý. Sinh viên Nguyễn Hồng Oanh BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT Luật SHTT Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung Nghị định 100/2006/NĐ-CP năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan Nghị định 85/2011/NĐ-CP Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Nghị định 105/2006/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ BLDSNghị định Bộ luật Dân sự 56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa thông tin Nghị định 56/2006/NĐ-CP BLHS UBND Bộ luật Hình sự Ủy ban nhân dân NXB Nhà xuất bản MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...1 CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH..............................................................3 1.1. Chủ thể của quyền tác giả............................................................................3 1.2. Đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả...........................................6 1.3. Căn cứ phát sinh quyền tác giả..................................................................12 1.4. Nội dung quyền tác giả..............................................................................12 1.5. Giới hạn quyền tác giả...............................................................................17 1.6. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả...................................................................18 CHƯƠNG 2 - XÁC ĐỊNH HÀNH VI VÀ THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA TÁC GIẢ..................................................20 2.1. Xác định các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả..................20 2.2. Thực trạng xâm phạm quyền nhân thân của tác giả..................................25 CHƯƠNG 3 - XÁC ĐỊNH HÀNH VI VÀ THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÀI SẢN CỦA TÁC GIẢ..........................................................34 3.1. Xác định các hành vi xâm phạm quyền tài sản của tác giả.......................34 3.2. Thực trạng xâm phạm quyền tài sản của tác giả........................................41 CHƯƠNG 4 - NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ........................................50 4.1. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng xâm phạm quyền tác giả.......................50 4.2. Một số kiến nghị........................................................................................53 4.1.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định chung về quyền tác giả................53 4.1.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định về xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả................................................................................................................55 4.1.3. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tác giả..............................59 LỜI KẾT……………………………………………………………………….62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 LỜI MỞ ĐẦU Ngày 01/01/2006, Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực, bao gồm các điều khoản quy định các vấn đề liên quan đến quyền tác giả, tạo cơ sở cho các quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ. Ngày 1-7-2006, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực; và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định chi tiết và cụ thể hơn về những vấn đề thuộc quyền tác giả; bao gồm các quy định về tác giả, đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ, điều kiện bảo hộ, nội dung quyền, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu quyền tác giả… Tiếp đó, những văn bản hướng dẫn thi hành cũng được ban hành, đó là: Nghị định của Chính phủ số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan ... Có thể nói, hệ thống pháp luật Việt Nam đã tạo hành lang pháp lý an toàn khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động đó. Hệ thống này là phương tiện để các chủ thể quyền tác giả sử dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đồng thời là công cụ quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là xâm phạm quyền tác giả không hề giảm đi mà vẫn có chiều hướng gia tăng, có tính phức tạp và ngày càng nghiêm trọng. Việc nhận thức được thực trạng xâm phạm quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng 2 Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết mong muốn khái quát được các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tác giả, xác định được các hành vi xâm phạm quyền tác giả, khái quát được thực trạng xâm phạm quyền tác giả ở nước ta, từ đó rút ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này và đưa ra một số kiến nghị. Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin kết hợp với phương pháp phân tích - tổng hợp để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra. Về bố cục, khóa luận kết cấu thành bốn chương như sau: Chương 1: Khái quát chung về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Chương 2: Xác định hành vi và thực trạng xâm phạm quyền nhân thân của tác giả. Chương 3: Xác định hành vi và thực trạng xâm phạm quyền tài sản của tác giả. Chương 4: Nguyên nhân dẫn đến thực trạng xâm phạm quyền tác giả và một số kiến nghị. 3 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 1.1. Chủ thể của quyền tác giả Theo Điều 4 Luật SHTT, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, chủ thể của quyền tác giả có thể là chính tác giả (đồng tác giả), hoặc chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền tác giả. - Tác giả là cá nhân trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học từ lao động trí óc. Theo Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ- CP, tác giả có thể là : + Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả; + Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; + Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; + Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Tổ chức, cá nhân làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả. Theo Điều 37 Luật SHTT : “Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất- kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này”. Tác giả có thể đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc không. Nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì sẽ có quyền theo quy định tại Điều 37 như 4  Các đồng tác giả : Các đồng tác giả là những người cùng nhau trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. Họ sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất- kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm, vì vậy họ có chung các quyền tại Điều 19 và Điều 20 Luật SHTT đối với tác phẩm đó. Có thể phân chia các đồng tác giả làm hai loại :  Loại thứ nhất : Những người cùng sáng tạo ra tác phẩm thống nhất mà phần sáng tác của mỗi người không thể tách ra để sử dụng riêng, vì nó sẽ làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác. Ví dụ, trong một tác phẩm điện ảnh thống nhất có các đồng tác giả là các diễn viên, đạo diễn, người quay phim, dựng phim… Các đồng tác giả thuộc loại này thường xuất hiện trong các tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu. Điều 19 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu: “1. Tác phẩm điện ảnh, sân khấu được sáng tạo bởi tập thể tác giả. Những người tham gia sáng tạo tác phẩm điện ảnh, sân khấu quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật Sở hữu trí tuệ được hưởng các quyền nhân thân đối với phần sáng tạo của mình theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ. Nhà sản xuất, đạo diễn, tác giả kịch bản có thể thoả thuận về việc thực hiện các quyền đặt tên tác phẩm điện ảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ và việc sửa chữa kịch bản tác phẩm điện ảnh quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ.” 5 - Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật SHTT. Theo Điều 27 Nghị định 100/2006/NĐ- CP, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm :  Tổ chức, cá nhân Việt Nam;  Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;  Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam;  Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Theo quy định của Luật SHTT, chủ sở hữu quyền tác giả có thể là :  Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả có các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT, trừ trường hợp có thoả thuận khác.  Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế có các quyền tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT.  Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT theo thoả thuận trong hợp đồng có các quyền được chuyển giao theo thỏa thuận trong hợp đồng đó. Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định. 6 . Tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp tác phẩm khuyết danh đang được tổ chức, cá nhân quản lý theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật SHTT; . Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản; . Tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước. 1.2. Đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả Đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào. Theo Điều 14 Luật SHTT và hướng dẫn tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Bao gồm: - Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; Trong đó, tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác là tác phẩm được thể hiện bằng các ký hiệu thay cho chữ viết như chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự khác mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau. - Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác: là loại hình tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. 7 - Tác phẩm âm nhạc: là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. - Tác phẩm sân khấu: là tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm kịch (kịch nói, nhạc vũ kịch, ca kịch, kịch câm), xiếc, múa, múa rối và các loại hình tác phẩm sân khấu khác. - Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh): là những tác phẩm được hợp thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên hiệu ứng chuyển động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên một chất liệu nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới công chúng bằng các thiết bị kỹ thuật, công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác. - Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; Tác phẩm tạo hình là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: Hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản. Riêng đối với loại hình đồ hoạ, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất hàng loạt bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng; hàng thủ công mỹ nghệ; hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm. 8 - Tác phẩm kiến trúc: là các bản vẽ thiết kế dưới bất kỳ hình thức nào thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian (quy hoạch xây dựng) đã hoặc chưa xây dựng. Tác phẩm kiến trúc bao gồm các bản vẽ thiết kế về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh, thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình, tổ hợp công trình kiến trúc, tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan của một vùng, một đô thị, hệ thống đô thị, khu chức năng đô thị, khu dân cư nông thôn. Mô hình, sa bàn về ngôi nhà, công trình xây dựng hoặc quy hoạch không gian được coi là tác phẩm kiến trúc độc lập. Theo quy định trên, tác phẩm kiến trúc là các bản vẽ kiến trúc, chứ không phải là một tòa nhà có hình khối kiến trúc. “Việc sao chép bản vẽ thành nhiều bản để nộp lên cơ quan xin phép xây dựng, đưa cho nhà thầu xây dựng, đưa cho nhà cung cấp v.v… lại bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền cấm sao chụp bản vẽ và cấm sử dụng các bản vẽ sao chép từ bản vẽ của mình (dù là chép tay hay photocopy). Điều này sẽ dẫn đến cùng một hệ quả là người sao chép không thể xây dựng một ngôi nhà giống với ngôi nhà của chủ sở hữu bản vẽ kiến trúc. Việc chụp ảnh một toà nhà, sau đó căn cứ vào đấy để xây dựng một toà nhà khác giống hệt chưa phải là cơ sở để kết luận hành vi xâm phạm quyền tác giả, trước khi trả lời câu hỏi: toà nhà là tác phẩm thể loại gì và có thể được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả không.”1 1 http://www.scribd.com/doc/85919612/31/%C4%90%E1%BB%91i-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-quy%E1%BB %81n-tac-gi%E1%BA%A3 9 - Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; Theo Điều 23 Luật SHTT, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm: + Truyện, thơ, câu đố: là các loại hình nghệ thuật ngôn từ như truyện tiếu lâm, ngụ ngôn, sử thi, thần thoại, truyền thuyết, giai thoại, thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố và các hình thức thể hiện tương tự khác. + Điệu hát, làn điệu âm nhạc; + Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi : là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như tuồng, chèo, cải lương, điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, trò chơi dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian và các hình thức thể hiện tương tự khác. + Sản phẩm nghệ thuật đồ hoạ, hội hoạ, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào. Đây là các loại hình nghệ thuật tạo hình như đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ; hình mẫu kiến trúc và các hình thức thể hiện tương tự khác. Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Tuy nhiên, Điều 23 Luật SHTT cần giải thích rõ hơn nữa khái niệm “giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian” để quy định thêm dễ hiểu, dễ vận dụng trong thực tế. - Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. 10 Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy. Sưu tập dữ liệu là tập hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác. Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu không bao hàm chính các tư liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác giả của chính tư liệu đó. - Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định trên nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Các tác phẩm nêu trên để được bảo hộ quyền tác giả thì phải có tính nguyên gốc. Nghĩa là ý tưởng, nội dung của tác phẩm không nhất thiết phải mới, nhưng hình thức thể hiện của tác phẩm đó phải do tác giả tự mình sáng tạo ra mà không phải sao chép từ một hoặc nhiều tác phẩm khác. So với Điều 747 BLDS 1995, Điều 14 Luật SHTT cũng quy định về đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo dạng liệt kê. Tuy nhiên, BLDS 1995 còn có quy định tại điểm p về “tác phẩm khác do pháp luật quy định” cũng thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, mà Điều 14 Luật SHTT không hề có quy định này. Việc quy định các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo dạng liệt kê khiến cho điều luật rõ ràng, dễ hiểu, nhưng cũng làm cho điều luật không có tính dự báo, dễ bị sửa đổi, bổ sung khi có đối tượng mới xuất hiện. Vì vậy, khoản 1 Điều 14 Luật SHTT nên được bổ sung thêm điểm“n) Tác phẩm khác do 11 Về nội dung của tác phẩm được bảo hộ, nếu như Điều 749 BLDS 1995 có quy định về việc Nhà nước không bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm có nội dung không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước 2, thì Luật SHTT đã bỏ quy định này, mà bảo hộ các tác phẩm có tính sáng tạo không phân biệt nội dung, giá trị của chúng, bởi lẽ, có những tác phẩm rất có tính sáng tạo, có nội dung không phù hợp với điều kiện đất nước vào một thời điểm nhất định, nhưng lại có tư tưởng có thể phù hợp với điều kiện đất nước ở thời điểm khác, những tác phẩm này vẫn cần được bảo hộ quyền tác giả. Luật SHTT cũng liệt kê các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả tại Điều 15, bao gồm: - Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin: là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo. - Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó, bao gồm: văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trịxã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. - Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu. Nếu như tin tức thời sự thuần túy đưa tin và các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính 2 Điều 749. Tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ 1- Nhà nước không bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm có nội dung sau đây: a) Chống lại Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; b) Tuyên truyền bạo lực, chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; truyền bá tư tưởng, văn hoá phản động, lối sống dâm ô đồi trụỵ, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục; c) Tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và các bí mật khác do pháp luật quy định; d) Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. 12 1.3. Căn cứ phát sinh quyền tác giả Theo khoản 1 Điều 6 Luật SHTT, quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Riêng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 23 Luật SHTT, bao gồm: truyện, thơ, câu đố, điệu hát, làn điệu âm nhạc, điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi, được bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình. 1.4. Nội dung quyền tác giả Theo Điều 18 Luật SHTT, nội dung của quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. * Quyền nhân thân Theo Điều 19 Luật SHTT, quyền nhân thân của tác giả gồm các quyền: - Quyền đặt tên cho tác phẩm (khoản 1) Quyền đặt tên cho tác phẩm tồn tại độc lập với các quyền tài sản, chỉ thuộc về tác giả- người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, cho dù tác giả có đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả hay không. Quyền đặt tên cho tác phẩm không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. 13 - Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng (khoản 2) - Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (khoản 3): Quyền này chỉ dành cho chủ sở hữu quyền tác giả. Nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì quyền này thuộc về tác giả đó. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Theo khoản 2 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tuỳ theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc. - Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả, trừ trường hợp có thỏa thuận với tác giả (khoản 4). Các quyền nhân thân tại Điều 19 Luật SHTT không phải là các quyền nhân thân không gắn với tài sản, mà là các quyền nhân thân gắn với tài sản. Bởi lẽ, quyền nhân thân không gắn với tài sản là các quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm… được quy định từ Điều 26 đến Điều 51 BLDS 14 2005. “Các quyền nhân thân không gắn với tài sản này được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó. Các quyền nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác” 3. Trong khi đó, các quyền nhân thân gắn với tài sản chỉ phát sinh từ khi có sự ra đời của một tài sản vô hình, đối chiếu với các quyền nhân thân tại Điều 19 Luật SHTT, ta thấy đây đều là những quyền phát sinh khi có sự ra đời và tồn tại của tác phẩm- tài sản vô hình. * Quyền tài sản - Theo khoản 1 Điều 20 Luật SHTT, quyền tài sản bao gồm: + Làm tác phẩm phái sinh; BLDS 1995 không quy định về quyền “làm tác phẩm phái sinh”, mà chỉ quy định về quyền “dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể” tại điểm c khoản 2 Điều 751. Thay vì quy định như vậy, Luật SHTT đã quy định quyền “làm tác phẩm phái sinh”. Quy định của Luật SHTT có tính khái quát cao và hợp lý hơn. Quyền làm tác phẩm phái sinh bao gồm quyền dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, tuyển tập, chú giải. Quyền làm tác phẩm phái sinh thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả. Khi một người muốn làm tác phẩm phái sinh thì phải được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm gốc. Điểm i khoản 1 Điều 25 Luật SHTT còn quy định một trường hợp làm tác phẩm phóng tác không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, đó là trường hợp “Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị”. + Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; Đây là một quyền tài sản mới của tác giả được quy định trong Luật SHTT 2005 so với BLDS 1995. Luật SHTT 2005 quy định bổ sung quyền này nhằm 3 TS. Bùi Đăng Hiếu- Trường Đại học Luật Hà Nội/ Khái niệm và phân loại quyền nhân thân/ Tạp chí Luật học số tháng 7/2009 (http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/11/18/4086/)
- Xem thêm -