Xâm phạm bản quyền qua internet nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia anh, pháp, mỹ

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24906 tài liệu

Mô tả:

A.LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Ngày nay ít ai trong chúng ta biết rằng những hoạt động thường nhật được biết đến như chia sẻ dữ liệu, tải nhạc Mp3, sao chép các văn bản dữ liệu trên mạng Internet lại có thể là những hành động xâm phạm bản quyền qua Internet. Hơn nữa, đối tượng xâm phạm bản quyền qua mạng Internet chủ yếu là giới trẻ nhưng rất ít trong số họ nhận thức được đầy đủ về hành vi của chính mình. Thế giới đang ngập tràn trong các phương tiện truyền thông và giải trí, máy tính cá nhân, sự kết nối Internet và sự truyền tải dữ liệu thông tin rộng rãi. Xung quanh chúng ta là máy nghe nhạc Mp3, ti vi, máy ghi hình cá nhân, máy ghi đĩa CD, Ipods, máy tính xách tay, máy chơi game... Công nghệ đó khiến chúng ta có thể biết đến những phần mềm truyền thông đa phương tiện, những trò chơi máy tính, âm nhạc, phim ảnh... theo những cách mà chúng ta không thể có được hơn hai mươi năm về trước. Nhưng đây cũng chính là lúc nó đe dọa quyền sở hữu của các tác giả, những người cần được đền đáp xứng đáng với vốn trí tuệ cũng như mồ hôi công sức họ bỏ ra. Sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số làm cho việc truyền tải dữ liệu trên mạng Internet trở nên hết sức dễ dàng. Đặc biệt là sự ra đời và phát triển của Internet đã đặt ra một vấn đề hết sức nan giải về bản quyền, về những biện pháp đối phó mà các quốc gia trên thế giới áp dụng trong công cuộc chung chống xâm phạm bản quyền qua Internet. Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả đã chọn: " Xâm phạm bản quyền qua Internet: nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia Anh, Pháp, Mỹ..." làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích chọn đề tài: 1 - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung về xâm phạm bản quyền qua Internet, khái niệm, các hình thức xâm phạm bản quyền Internet thường gặp và hệ thống các cơ quan chức năng tham gia bảo hộ bản quyền qua Internet để hình thành một cách hiểu chung nhất về xâm phạm bản quyền qua Internet. - Nghiên cứu về tình hình sử dụng Internet và thực trạng xâm phạm bản quyền qua Internet tại một số quốc gia. Từ đó rút ra kinh nghiệm thực tiễn của từng quốc gia trong việc bảo vệ chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet. - Nghiên cứu về tình hình sử dụng Internet, thực trạng xâm phạm bản quyền qua Internet phổ biến tại Việt Nam để tìm ra những hạn chế trong công tác thực thi xử lý xâm phạm bản quyền qua Internet. Từ đó, cùng với kinh nghiệm chống xâm phạm bản quyền qua Internet tại các quốc gia trên thế giới đưa ra bài học cho bản thân Việt nam. 3. Phạm vi và giới hạn của đề tài: Hiện nay, vấn đề xâm phạm bản quyền qua Internet được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Mỗi quốc gia đều có cách xử lý xâm phạm bản quyền qua Internet khác nhau tuy nhiên hầu hết vẫn dựa trên cơ sở các Công ước quốc tế đã ký kết. Do vậy, vì thời gian có hạn nên bài khóa luận này chỉ đi sâu tìm hiểu kinh nghiệm xử lý xâm phạm bản quyền qua Internet của một số quốc gia tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ và một số quốc gia thuộc khối EU khác. 4. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích-tổng hợp,phương pháp thống kê, phương pháp diễn giải,quy nạp ,so sánh và đối chiếu… 5. Bố cục bài khóa luận: Khóa luận được chia thành 3 phần chính như sau: Chương I: Tổng quan về xâm phạm bản quyền qua Internet 2 Chương II: Thực trạng và kinh nghiệm của một số quốc gia về xử lý xâm phạm bản quyền qua Internet Chương III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xử lý xâm phạm bản quyền qua Internet 3 B. NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ XÂM PHẠM BẢN QUYỀN QUA INTERNET 1. Một số vấn đề liên quan xâm phạm bản quyền qua Internet: 1.1. Khái niệm về bản quyền qua Internet Thời kỳ Cổ đại và Trung cổ, pháp luật chưa tồn tại bất kỳ một chế định nào nhằm bảo vệ quyền sở hữu của tác giả đối với các công trình sáng tạo. Vì thế, khi không muốn bài viết hay tác phẩm của mình bị thay đổi, tác giả chỉ còn cách gắn một lời nguyền rủa nào đó vào chính tác phẩm của mình. Đến thời kỳ phục hưng, khi các quyền cơ bản của con người đặc biệt là quyền đối với thành quả sáng tạo được coi trọng hơn, khái niệm về bản quyền bắt đầu hình thành nhưng chưa đem lại cho tác giả một thu nhập nào. Khái niệm về bản quyền hiện nay bắt nguồn từ Điều lệ Ann của Anh năm 1710 thế kỷ thứ 18 [26]. Trong điều lệ này, lần đầu tiên độc quyền sao chép của một tác phẩm được ghi nhận. Theo đó, bản quyền được hiểu một cách chung nhất là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Thông thường, một tác phẩm được bảo hộ bản quyền một cách tự động khi nó là tác phẩm được sáng tạo nguyên gốc và được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Việc định hình dưới một thức vật chất nhất định không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 6, Khoản 1]. Các định hình vật chất của tác phẩm được thể hiện dưới nhiều hình thức ví dụ như: - Các tác phẩm văn học như bài viết, bài báo, những câu chuyện, tạp chí... - Các chương trình máy tính như phần mềm, dữ liệu dạng số hóa... - Tranh ảnh và đồ họa 4 - Bản chi tiết kiến trúc, điêu khắc... - Tác phẩm âm nhạc, lời bài hát... - Các tác phẩm nghe nhìn như phim ảnh, chương trình truyền hình, các tác phẩm ghi âm, tác phẩm kịch câm... Trong đó, Internet là một định hình mới có sức ảnh hưởng vô cùng lớn, vượt qua mọi khoảng cách về không gian và thời gian. Linda J. Engelman đã định nghĩa Internet là một thế giới rộng lớn, mạng lưới tự quản lý kết nối với hàng ngàn mạng lưới nhỏ hơn của hàng triệu máy tính và người sử dụng với lượng thông tin khổng lồ [14, tr 1]. Internet bao gồm dữ liệu dưới dạng số hóa của tất cả các định hình vật chất của tác phẩm. Bản quyền trên Internet phát sinh khi một tác phẩm được công bố trên mạng Internet cho công chúng được phép tiếp cận và sử dụng hợp lý. Sự xuất hiện của Internet thực sự đã tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các tác giả trong môi trường kỹ thuật số đang ngày càng đa dạng và phức tạp hiện nay. 1.2. Nội dung bản quyền trên mạng Internet: Bản quyền trên mạng Internet được bảo hộ giống như bản quyền đối với tác phẩm thông thường bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. 1.2.1. Quyền nhân thân: Quyền nhân thân thông thường bao gồm các quyền sau:  Quyền đặt tên cho tác phẩm  Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.  Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.  Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tác tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại 5 đến danh dự và uy tín tác giả. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, (2005), Điều 19] Quyền nhân thân cũng được đề cập đến trong hai Công ước về Internet của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO là WCT và WPPT vào năm 1996. Hai Công ước này đã được thảo ra với sự đồng ý của hơn 100 quốc gia thuộc WIPO và được cập nhật thực tế dựa trên các công ước quốc tế về bản quyền tồn tại như Công ước Berne và Công ước Rome. Theo đó, quyền nhân thân của tác giả tác phẩm trên mạng Internet được thể hiện thông qua quyền tinh thần của người biểu diễn: " Độc lập với quyền kinh tế của người biểu diễn đối với các buổi biểu diễn nghe trực tiếp hoặc các buổi biểu diễn được định hình trong bản ghi âm và thậm chí sau khi chuyển nhượng các quyền kinh tế đó, người biểu diễn có quyền yêu cầu được công nhận là người biểu diễn của buổi biểu diễn của mình, trừ trường hợp bỏ sót bắt buộc do cách thức sử dụng buổi biểu diễn gây ra, và quyền phản đối bất kỳ sự bóp méo, cắt xén, hoặc sửa đổi khác đối với buổi biểu diễn của người biểu diễn mà có thể phương hại đến thanh danh của họ." [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 5(1)] 1.2.2. Quyền tài sản: Quyền tài sản của tác giả thông thường bao gồm:  Làm tác phẩm phái sinh  Biểu diễn tác phẩm trước công chúng  Sao chép tác phẩm  Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm  Truyền đạt tác phẩm tới công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác 6  Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 20] Quyền tài sản trong Công ước WPPT được thể hiện thông qua quyền kinh tế đối với các buổi biểu diễn chưa được định hình, quyền sao chép, quyền phân phối, quyền cho thuê và quyền cung cấp các buổi biểu diễn định hình. + Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng được thể hiện trong quyền kinh tế đối với các buổi biểu diễn chưa được định hình trong WPPT như sau: " Đối với các buổi biểu diễn của mình, người biểu diễn được độc quyền cho phép: (i) phát sóng và truyền đạt tới công chúng buổi biểu diễn chưa được định hình của mình trừ khi buổi biểu diễn cũng chính là buổi biểu diễn phát sóng, và (ii) định hình buổi biểu diễn chưa được định hình của mình." [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 6] Ở đây, WPPT quy định rõ ràng hơn và áp dụng riêng trong môi trường kỹ thuật số đối với quyền biểu diễn trước công chúng của một tác phẩm. + Quyền sao chép tác phẩm được thể hiện trong Điều 7, WPPT như sau: " Người biểu diễn được độc quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm dưới bất kỳ hình thức hoặc cách thức nào." [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 7] Quyền sao chép được thể hiện đầy đủ hơn về hình thức bao gồm cả sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp và dưới bất kỳ hình thức hoặc cách thức nào. WPPT 1996 đã quy định một cách rõ ràng và chi tiết hơn đối với quyền sao chép của tác giả. + Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm được thể hiện trong Điều 8 (1), WPPT về quyền phân phối tác phẩm: 7 " (1) Người biểu diễn được hưởng độc quyền cho phép cung cấp cho công chúng bản gốc hoặc bản sao buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm thông qua việc bán hoặc hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu khác." [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 8(1)] Ngoài quy định về quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, WPPT còn quy định về hình thức phân phối tác phẩm qua việc bán hoặc các hình thức chuyển nhượng khác. Điều này chưa được nêu trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005. + Quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng được thể hiện trong Điều 10 WPPT: " Người biểu diễn sẽ được hưởng quyền độc quyền cho phép cung cấp tới công chúng các buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm bằng các phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến, theo cách thức mà Bên ký kết trong xã hội có thể tiếp cận chúng từ một địa điểm và vào thời gian do cá nhân họ lựa chọn." [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 10] Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 quy định về điều này cũng khá rõ ràng và đầy đủ, cũng bao gồm truyền đạt tác phẩm tới công chúng thông qua các phương tiện hữu tuyến và vô tuyến. Và thêm vào đó là truyền đạt thông qua mạng thông tin điện tử hay bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. + Quyền cho thuê đối với tác phẩm được quy định trong Điều 9, WPPT như sau: " Người biểu diễn được hưởng độc quyền cho phép cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc và bản sao buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm như được xác định trong luật pháp quốc gia của các Bên ký kết, thậm chí sau khi phân phối chúng bởi hoặc theo sự cho phép của người biểu diễn." 8 [ The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 9 (1)] Việt Nam chính thức là thành viên của Công ước WPPT vào 12/01/2006, một thời gian sau khi luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã có hiệu lực. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các điều khoản của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 lại phù hợp một cách cơ bản với các điều khoản của Công ước quốc tế về bản quyền, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến vấn đề bản quyền trên Internet. 2. Xâm phạm bản quyền qua Internet 2.1. Các hình thức xâm phạm bản quyền qua Internet Thông thường một tác phẩm có thể bị xâm phạm bản quyền qua Internet bằng cách sao chép htlm, javascript, hay các đoạn mã truyền tải dữ liệu khác; tải xuống bất hợp pháp các tác phẩm bản quyền vào ổ cứng máy tính; tải lên hay phân phối bất hợp pháp tác phẩm; cắt xén, sửa chữa hay làm sai lệch tác phẩm mà chưa được sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền. 2.1.1. Hình thức sao chép bất hợp pháp các bài báo, bản tin, tranh ảnh, đồ họa Các đối tượng sao chép bất hợp pháp trên mạng Internet thông thường là các bản tin, bài báo, tranh ảnh đồ họa.  Sao chép bản tin, bài báo Việc sao chép các nội dung các đoạn văn bản từ trang web này sang trang web khác trên hệ thống world wide web mà không được sự đồng ý của tác giả vô cùng phổ biến. Chúng ta có thể dễ dàng đọc được một nhiều bài báo hay các bản tin giống hệt nhau trên các trang thông tin điện tử khác nhau. Điều đáng chú ý là các trang web sao chép các bài báo, bản tin này không hề đề tên tác giả và trích dẫn nguồn. Đặc biệt là giới trẻ hiện nay còn chưa ý thức được về vấn đề sao chép các đoạn văn hay bài báo cần trích dẫn nguồn trên hệ thống blog cá nhân và các forum. Sự thiếu ý thức 9 này là một vấn đề hết sức nan giải cho các nhà làm luật hiện nay. Trong một bài báo mang tên " Copyright and Wrongs", Roberta Beach Jacobson đã phê bình việc lợi dụng Internet để sao chép các tác phẩm viết. Bài báo này được đăng trên website articletree.com vào ngày 27/11/2001 nhưng việc đáng buồn là nó đã được sao chép tới hàng trăm website và hàng trăm người đã đòi quyền tác giả đối với tác phẩm đó và cũng hàng trăm người nạp tiền để truy cập nó.  Sao chép tranh ảnh, đồ họa: Tranh ảnh, đồ họa cũng thường được sao chép từ trang web này sang trang web khác mà không có sự cho phép của chủ sở hữu. Nếu trên website cá nhân của một người chứa hình ảnh hoặc đồ họa mà không do người đó tạo ra hay thiết kế thì người đó có thể đang vi phạm luật bản quyền. Tuy nhiên có rất nhiều kho tư liệu ảnh trên mạng Internet và thậm chí là các gói phần mềm ảnh khác nhau cho phép sao chép và sử dụng không cần xin phép. Việc sao chép hình ảnh và đồ họa vào máy tính và sử dụng cá nhân, không công khai trên Internet không bị coi là xâm phạm bản quyền. 2.1.2. Hình thức tải xuống và phân phối bất hợp pháp các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, phần mềm chương trình máy tính. Các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, phần mềm chương trình máy tính là đối tượng chủ yếu của việc download và upload bất hợp pháp trên mạng Internet.  Tải xuống và phân phối bất hợp pháp tác phẩm âm nhạc Các tác phẩm âm nhạc trên Internet thông thường được download và phân phối dưới các định dạng như Mp3, Mp4, Wav hay AIFF... Những hành động này sẽ bị coi là bất hợp pháp khi chúng chưa được sự cho phép của chủ sở hữu hay các bên liên quan. Một số người có thể cho rằng việc download, upload những đoạn nhạc nghe thử hay thậm chí là một bản nhạc đầy đủ là 10 hoàn toàn vô tội do sự thần tượng các ca sĩ hay nhóm nhạc. Tuy nhiên, các luật gia có thể cho rằng đó là hành vi làm phương hại đến các nhóm nhạc và đòi bồi thường tổn thất về doanh số bán hàng. Hình thức ghi âm lậu rồi công khai trên mạng Internet cũng là một hành động hết sức phổ biến. Đây là hình thức thu âm lại các tác phẩm âm nhạc mà chưa được chính thức công khai bởi nghệ sĩ hoặc quản lý liên quan của họ. Các bản ghi âm lậu có thể là các bản nháp, tài liệu phòng thu khác hoặc việc ghi âm buổi biểu diễn trực tiếp. Những tài liệu ghi âm lậu được phát tán một cách nhanh chóng trên mạng Internet gây thiệt hại vô cùng to lớn cho nghệ sĩ cũng như công ty sản xuất đĩa nhạc. Vì thế, thậm chí khi một tác phẩm chưa được chính thức phát hành và phân phối chính thức nhưng vẫn được bảo vệ đầy đủ bởi luật bản quyền. Các trang web âm nhạc mà công khai tải lên trang web của mình các tác phẩm âm nhạc chưa được công bố chính thức bị coi là xâm phạm bản quyền qua Internet.  Tải xuống và phân phối bất hợp pháp tác phẩm điện ảnh Các bộ phim xúc tiến quảng cáo, xem xét trao giải là những nguồn chính cho việc sao chép bất hợp pháp trên mạng Internet khi các bộ phim này còn đang trình chiếu ở rạp. Các bộ phim thường được tải xuống và phân phối bất hợp pháp dưới các định dạng như Wav, MPEG , Quicktime,... Ngoài ra, các tác phẩm điện ảnh còn bị phân phối bất hợp pháp bằng cách đặt trộm máy quay cá nhân vào rạp chiếu phim và công khai trình chiếu bộ phim đó trên trang web cá nhân. Mặc dù các bản sao như vậy thường có chất lượng thấp hơn đĩa DVD nhưng việc không mất tiền đến rạp chiếu phim hay mua một đĩa DVD chất lượng là một việc vô cùng hấp dẫn đối với những cá nhân yêu thích sử dụng Internet.  Tải xuống và phân phối bất hợp pháp phần mềm chương trình máy tính 11 Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt một kết quả cụ thể. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, Điều 22]. Việc tải xuống hay phân phối bất kỳ chương trình máy tính nào dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy mà bản thân không viết ra đều bị coi là xâm phạm bản quyền qua Internet. Mua một ứng dụng phần mềm thương mại chỉ có nghĩa là mua quyền sử dụng nó chứ không có nghĩa là được phép phân phối lại nó. Hiện nay có rất nhiều trang web chia sẻ phần mềm trực tuyến bất hợp pháp. Các phần mềm này hầu hết là các phần mềm được download, sao chép, phá mã và phân phối lại thông qua các trang web cá nhân bất hợp pháp. Thực trạng này phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới đặc biệt là Việt Nam. 2.1.3. Hình thức cắt xén, sửa chữa, làm sai lệch tác phẩm văn học Hình thức này ít phổ biến hơn các hình thức khác nhưng cũng thường thấy trên Internet. Các đối tượng của hình thức này thông thường là các tác phẩm văn học, các tác phẩm viết, tranh ảnh, đồ họa hay thậm chí là các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh nhưng phổ biến nhất vẫn là các tác phẩm văn học. Hiện nay, sự sẵn có của các kho lưu trữ tác phẩm văn học trên mạng Internet đã tạo điều kiện cho việc download và sửa chữa tác phẩm bất hợp pháp. Các tác phẩm văn học thường bị sửa chữa nội dung, tên nhân vật, và được đưa lên một trang web khác hay các blog cá nhân, diễn đàn... Thực tế này là bức xúc của rất nhiều tác giả về quyền nhân thân của họ. Thực sự, Internet đã tạo ra một môi trường khó kiểm soát đối với kho dữ liệu vô tận của nó. Ngoài ra, hiện nay tại Việt Nam hiện nay, vấn đề lấy hình ảnh tìm kiếm trên mạng Internet để sửa chữa, thay đổi thành tác phẩm của mình rất phổ 12 biến. Các bức ảnh tìm thấy trên mạng Internet được tự do sửa chữa thành các bức tranh biếm họa để làm avatar mà không có sự cho phép của chủ sở hữu. Đặc biệt, hình thức này thường xảy ra trong vấn đề sáng tác tranh ảnh cổ động. Điển hình là đầu năm 2005, bức tranh " Đảng là cuộc sống của tôi" của tác giả Nguyễn Trung Kiên bị phát hiện sao chép và sửa đổi từ bức ảnh " Nụ hôn của gió" từng giành huy chương vàng quốc tế của tác giả Trần Thế Long. Hoặc tiếp đó vào tháng 4 năm 2006, trường hợp tương tự lại xảy ra với bức tranh cổ động " Tất cả trẻ em nghèo được học" của tác giả Chu Ngọc Thăng và bức ảnh " Lớp học vùng cao" của tác giả Lê Hồng Linh. Tất cả các tác phẩm trên đều được chỉnh sửa dựa trên những hình ảnh tìm thấy trên mạng Internet mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm. 2. 2. Bảo vệ chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet 2.2.1. Tự bảo vệ Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp tự bảo vệ như sử dụng các biện pháp công nghệ; yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm; khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 198] a) Các biện pháp công nghệ: Các chủ thể quyền sở hữu có quyền sử dụng tối đa các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Có hai biện pháp công nghệ chính để bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan để chắc chắn rằng Internet có thể trở thành một địa điểm an toàn để phổ biến và cấp phép cho tác phẩm trí tuệ hay các tài nguyên thông tin. + Biện pháp kỹ thuật 13 Các biện pháp kỹ thuật chống xâm phạm bản quyền qua Internet như biện pháp định dạng chống sao chép và cắt dán, chống chỉnh sửa văn bản bằng bằng file PDF, sử dụng các phần mềm chống download và sao chép nhạc...Ví dụ như một hoạt động phân phối trực tuyến cung cấp cho người dùng bản sao tác phẩm văn học hoặc các tác phẩm khác dưới dạng văn bản. Hoạt động phân phối trực tuyến này sử dụng hệ thống biện pháp kỹ thuật có thể ngăn chặn người sử dụng đối với việc sao chép, cắt dán các đoạn văn bản từ trang web này sang trang web khác. Tất cả các hành động cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu bản quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình đều được coi là hành vi xâm phạm bản quyền tác giả. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 28 Khoản 12]. Điều 11 WCT và Điều 18 WPPT cũng đề cập đến vấn đề này: " Các Bên ký kết sẽ quy định sự bảo hộ về pháp luật tương xứng và các biện pháp pháp lý hiệu quả chống lại việc vô hiệu hoá các biện pháp công nghệ được người biểu diễn hoặc nhà sản xuất bản ghi âm sử dụng trong việc thi hành các quyền của mình theo Hiệp ước này và ngăn chặn các hành vi không được người biểu diễn hoặc nhà sản xuất bản ghi âm cho phép hoặc không được phép theo pháp luật đối với các buổi biểu diễn hoặc bản ghi âm của họ." [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 18] + Biện pháp hệ thống thông tin quản lý quyền Hệ thống quản lý quyền vận hành trên cơ sở dữ liệu điện tử được gắn với tác phẩm hoặc những đối tượng của quyền. Dữ liệu có thể xác định được tác giả hoặc người biểu diễn tác phẩm, bản thân tác phẩm hoặc thậm chí hơn nữa là mô tả những điều khoản và điều kiện sử dụng. Điều này sẽ tác động đến sự yên tâm của chủ sở hữu quyền trong việc khai thác tài nguyên trí tuệ của họ trên Internet đồng thời cho phép người tiêu dùng có thể tin tưởng vào độ 14 chính xác của thông tin mà họ nhận được để họ có thể cảm thấy an toàn khi tiến hành các hoạt động trực tuyến. Luật pháp các quốc gia dựa theo hai Công ước quốc tế của WIPO về Internet đều cung cấp sự ủng hộ về mặt luật pháp cho hệ thống thông tin quản lý quyền. Những hành động cố ý hủy, xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm là một hành vi xâm phạm quyền tác giả. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 28, Khoản 13] Trong Công ước quốc tế, điều này được nêu rõ trong Điều 12 WCT và Điều 19 WPPT: " (1) Các Bên ký kết sẽ quy định những biện pháp pháp lý tương xứng và hiệu quả đối với bất kỳ người nào cố ý thực hiện các hành vi sau đây, hoặc theo các biện pháp dân sự, có cơ sở hợp lý biết rằng hành vi đó tạo khả năng, điều kiện hoặc che giấu sự vi phạm bất kỳ quyền nào được quy định trong Hiệp ước này: (i) dỡ bỏ hoặc thay đổi bất kỳ thông tin quản lý quyền điện tử nào mà không được sự cho phép; (ii) phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp tới công chúng, không được sự cho phép, các buổi biểu diễn, bản sao của các buổi biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm mà biết rằng thông tin quản lý quyền điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi mà không được sự cho phép. (2) Trong Điều này, “thông tin quản lý quyền” là thông tin xác định người biểu diễn, buổi biểu diễn của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, bản ghi âm, chủ sở hữu bất kỳ quyền nào đối với buổi biểu diễn hoặc bản ghi âm, hoặc thông tin về điều khoản và điều kiện sử dụng buổi biểu diễn hoặc bản ghi âm, và mọi con số hoặc mã ký hiệu thể hiện thông tin đó, khi các mục thông tin này được gắn với bản sao của buổi biểu diễn đã được định hình hoặc 15 bản ghi âm hoặc xuất hiện cùng với việc truyền đạt hoặc cung cấp buổi biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm tới công chúng" [The WIPO Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 19] Hạn chế: Dù biện pháp công nghệ được sử dụng có tài tình đến đâu thì cũng có những cách thức tinh vi ngang bằng được sử dụng nhằm vô hiệu hóa chúng. Ví dụ, với trường hợp tác giả sử dụng hệ thống chống sao chép văn bản trực tiếp, cách thức này chỉ có thể ngăn sự sao chép tạm thời vì người sử dụng có thể chép lại văn bản bằng tay hoặc in văn bản ra, sau đó đánh máy vào một trang văn bản mới trên máy tính. Cách sao chép này có vẻ bất tiện nhưng nó đặt người sử dụng vào tình thế phải sử dụng vì mục đích cá nhân. Đạt được: Những ý niệm về sự mất an toàn trên mạng Internet làm cho các tác giả hạn chế việc đưa các công trình giá trị lên mạng Internet. Điều này mất đi một lợi ích to lớn mà Internet đem lại cho người sử dụng. Các biện pháp công nghệ trên đã giúp cho hệ thống bảo vệ bản quyền trên Internet được hoàn thiện hơn. Tuy các biện pháp công nghệ này không bảo vệ một cách hoàn toàn quyền tác giả nhưng lại đủ tinh vi để có thể ngăn chặn việc tìm kiếm của những của những tác phẩm thông thường để vô hiệu hóa hành vi xâm phạm bản quyền. Trong thời gian đó, luật sẽ được sửa lại để đối phó với những mối đe dọa lớn hơn từ các tin tặc, những người coi vô hiệu hóa pháp luật như là nghề của họ. b) Yêu cầu chấm dứt xâm phạm và bồi thường thiệt hại Trước khi đưa sự việc ra nhờ bên thứ ba giải quyết, thông thường chủ sở hữu bản quyền thường dàn xếp ổn thỏa để tránh chi phí kiện tụng. Các biện pháp hòa giải thường là yêu cầu bên vi phạm chấm dứt xâm phạm và bồi thường một mức tiền hợp lý dựa trên tổn thất mà chủ sở hữu bản quyền chịu. Tại Mỹ, chủ sở hữu bản quyền thường chấp nhận mức bồi thường khoảng từ 16 3000$ đến 5000$. Biện pháp này nếu đạt được sự đồng thuận của cả hai bên sẽ là một biện pháp hết sức hiệu quả vừa giúp cho chủ sở hữu quyền tự bảo vệ tác phẩm của mình vừa hạn chế được việc tiếp tục xâm phạm bản quyền của bên vi phạm. c) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài Khi không thể thỏa thuận hòa giải được, để tự bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của mình, chủ sở hữu bản quyền có thể khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài. Tòa án hoặc trọng tài sẽ thực hiện giải quyết tranh tụng và có biện pháp cưỡng chế đối với bên vi phạm. Cách giải quyết này là hình thức phổ biến nhất được chủ sở hữu bản quyền sử dụng hiện nay. Tại Mỹ, khi đã nhờ đến sự giúp đỡ của bên thứ ba, chủ sở hữu có thể chọn bồi thường thiệt hại theo luật định tối thiểu là 250$ đến mức tối đa là 10.000 $. Tòa án có thể điều chỉnh giới hạn này dựa trên sự cố ý và vô ý của bên vi phạm. Bên vô ý vi phạm có thể chứng minh thiện chí của mình và có thể giảm mức phạt xuống còn 100$. Trong khi đó bên cố ý xâm phạm bản quyền có thể bị tòa tuyên phạt lên đến 50.000 $. 2.2.2. Biện pháp dân sự Khi tranh tụng về xâm phạm bản quyền qua Internet được đưa ra tòa, tòa án có thể áp dụng các biện pháp dân sự để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm. Biện pháp dân sự bao gồm các biện pháp sau: + Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm: Đây là mệnh lệnh của tòa án mà thường cấm bên vi phạm tiếp tục xâm phạm bản quyền qua Internet. Mệnh lệnh này có thể bao gồm yêu cầu dừng sử dụng tác phẩm bị xâm phạm bản quyền, xin lỗi, cải chính công khai. Nếu bên vi phạm không tuân theo, tòa án có thể sử dụng biện pháp cưỡng chế như phạt vi phạm hoặc các hình phạt hình sự khác. + Buộc tiêu hủy hoặc thu hồi đối tượng xâm phạm bản quyền: 17 Mệnh lệnh này của tòa có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn. Bên vi phạm có thể bị buộc thu hồi lại đối tượng xâm phạm bản quyền và những thiết bị sử dụng để thực hiện hành vi xâm phạm bản quyền. Sau khi thu hồi, tòa có thể buộc phân phối hoặc buộc đưa vào sử dụng các đối tượng đó với mục đích phi thương mại hoặc thậm chí tiêu hủy nếu cần thiết với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu. Nếu bên vi phạm không thể thực hiện điều này vì có thể đối tượng này đã bị bán đi thì tòa án có thể yêu cầu chuyển đổi đối tượng thu hồi thành một mức tiền phạt hợp lý. + Buộc bồi thường thiệt hại: Mức bồi thường thiệt hại thông thường dựa trên mức thiệt hại thực tế mà chủ sở hữu bản quyền phải chịu do hành vi xâm phạm bản quyền gây ra. Thiệt hại này bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần cho chủ sở hữu bản quyền  Thiệt hại vật chất : Thiệt hại vật chất thường bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. [ Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 204, Khoản 1a] Ngoài ra, mức thiệt hại này còn được tính với lợi nhuận tăng thêm tạo ra bởi bên vi phạm để xác định mức bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại vật chất theo các căn cứ trên thì mức bồi thường thiệt hại vật chất do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại do bên vi phạm gây ra.  Thiệt hại tinh thần: 18 Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 204, Khoản 1b] Trong trường hợp chủ sở hữu bản quyền có thể tự xác định được thiệt hại về tinh thần có thể yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường về tinh thần trong giới hạn do luật pháp quy định tùy theo mức độ thiệt hại. Ngoài các khoản bồi thường thiệt hại trên, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm bản quyền phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư và các chi phí khác để thực hiện tranh tụng tại Tòa. 2.2.3. Biện pháp xử phạt hành chính: Các hành vi xâm phạm bản quyền qua Internet bị xử phạt hành chính bao gồm hành vi xâm phạm bản quyền gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội và hành vi không chấm dứt xâm phạm bản quyền mặc dù đã được chủ sở hữu bản quyền thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó. Hai hình thức xử phạt hành chính thông thường là cảnh cáo và phạt tiền. + Cảnh cáo: Hình thức cảnh cáo trong xử phạt hành chính có thể là ngắt đường truyền Internet trong thời gian nhất định hay một tiến trình cảnh báo liên tục với các biện pháp công nghệ nhằm vào những đối tượng liên tục có hành vi xâm phạm bản quyền qua Internet. + Phạt tiền: Mức tiền phạt trong xử phạt hành chính thông thường được ấn định ít nhất bằng giá trị đối tượng xâm phạm được phát hiện ra và nhiều nhất không vượt quá 5 lần giá trị đó. [ Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 214, Khoản 4]. Tại Việt Nam hiện nay, mức phạt hành chính tối đa đối với xâm phạm bản quyền sở hữu trí tuệ là 500 triệu đồng. [Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 04/2008/UBTVQH12]. 19 Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thiết lập khung pháp lý về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam. 2.2.4. Biện pháp hình sự: Các cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm bản quyền có yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 212]. Tội phạm hình sự có thể là tội phạm cố ý xâm phạm bản quyền với mục đích thương mại hoặc tài chính cá nhân và tội phạm xâm phạm bản quyền quy mô quốc tế. Biện pháp hình sự có thể khác nhau tùy mức độ xâm phạm bản quyền và tùy theo luật các quốc gia quy định. Tại Anh, có 2 trường hợp xử phạt hình sự tùy theo mức độ nghiệm trọng của tội. Thứ nhất là phạt tù 6 tháng cộng với mức phạt không vượt quá 5000 Bảng. Thứ hai là mức phạt không giới hạn và tù 10 năm đối với xâm phạm bản quyền qua Internet một cách chủ ý với mục đích thương mại hoặc kinh doanh bất hợp pháp. 2.2.5. Các biện pháp bảo vệ chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet khác: Ngoài các biện pháp bảo vệ chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet đã nói ở trên, còn có các biện pháp sáng kiến khác rất hiệu quả. + Biện pháp khuyến khích: Các biện pháp này thông thường đánh vào tâm lý người sử dụng Internet. Biện pháp này có thể bao gồm việc giảm giá các tác phẩm bản quyền cung cấp trên mạng Internet để hướng đến các đối tượng xâm phạm bản quyền vì không có tiền để mua trực tuyến như sinh viên, tầng lớp bình dân trong xã hội. Ngoài ra có các biện pháp khuyến khích hiệu quả khác như đầu tư thiết lập cổng trực tuyến cho phép khách hàng tiếp cận hợp pháp đến các tác phẩm bản quyền trên Internet 20
- Xem thêm -