Vũ khí hạt nhân và an ninh toàn cầu

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận Vũ khí hạt nhân và an ninh toàn cầu 1) a) Chính sách của các nước đối với vấn đề vũ khí hạt nhân: Chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề vũ khí hạt nhân: Chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề vũ khí hạt nhân có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề hạt nhân trên thế giới hiện nay bởi không những đây là một trong số rất ít các quốc gia sở hữu loại vũ khí nghiêm trọng này mà còn bởi vấn đề hạt nhân của Hoa Kỳ có mối liên quan trực tiếp với rất nhiều các quốc gia khác. Dưới thời tổng thống mới Obama, chính sách về vấn đề hạt nhân của Hoa Kỳ này đang được quan tâm rộng rãi trên tòan thế giới với những cam kết thay đổi táo bạo từ vị tổng thống da màu này. i) Hoa Kỳ- cường quốc hạt nhân hàng đầu: Sở dĩ có thể khẳng định Hoa Kỳ là cường quốc hạt nhân hàng đầu trên thế giới bởi hai lý do chính: Thứ nhất, đây là một quốc gia có sở hữu một khối lượng hạt nhân cực kỳ lớn. Theo báo cáo năm 2002 của Bộ quốc phòng Mỹ, quốc gia này còn duy trì một kho vũ khí với khoảng 9.960 đầu đạn còn nguyên vẹn (trong đó 5.735 đầu đạn được xem là đang họat độngThứ hai, khối lượng hạt nhân của Mỹ còn được “dự trữ” trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ kháci. Theo báo cáo hàng năm của Liên đoàn Các nhà khoa học Mỹ (FAS), Lầu Năm Góc hiện "ký gửi" khoảng 350 quả bom hạt nhân nhiệt hạch B-61 tại 6 quốc gia châu Âu thuộc khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), trong đó 4 nước Bỉ, Đức, Hà Lan và Italia lưu giữ gần 250 quảii. Thậm chí, ngay tại quốc gia vốn nổi tiếng với “Ba nguyên tắc không hạt nhân” là Nhật Bản, vẫn có những thông tin cho rằng, đã có một khối lượng vũ khí hạt nhân nhất định được di chuyển bí mật từ Washington tới Tokyoiii. Từ đây, có thể thấy, với khối lượng vũ khí hạt nhân khổng lồ và có ảnh hưởng từ Á tới Âu mà Hoa Kỳ sở hữu, mỗi thay đổi nhỏ trong chính sách của nước này về vũ khí hạt nhân cũng có thể gây tác động rất lớn tới vấn đề hạt nhân trên tòan thế giới. ii) Những tham vọng phi hạt nhân hóa dưới thời Obama: Ngay trong bài tuyên thệ nhậm chức của mình, tổng thống Mỹ Obama khẳng định “cùng với cả những đồng minh và đối thủ cũ của mình, chúng ta sẽ chiến đấu không mệt mỏi để làm giảm nguy cơ từ vấn đề hạt nhân”. Trong gần nửa nhiệm kỳ đầu trên cương vị người đứng đầu nước Mỹ, vị tổng thống này đã có những hành động cụ thể để thực hiện tuyên bố đó mà cụ thể có thể kể tới các động thái cụ thể như: Thể hiện rõ mục tiêu đạt tới một thế giới không có hạt nhân. Trong bài phát biều tại Prague vào tháng 5/2009, Obama đã bộc lộ sự tán thành đối với Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT), ông cam kết tiến tới một thế giới phi hạt nhân với những bước hai bước đi chính là cắt giảm lượng vũ khí hạt nhân trong nước và đàm phán với bên ngoài thông qua kênh ngoại giao với cơ sở là tăng cường sức mạnh của Hiệp định về hạn chế phổ biến vũ khí hạt nhân. Cũng tại đây, tổng thống Obama cũng thể hiện sự đồng tình với tiến trình đàm phán về một Hiệp ước Cắt giảm nguyên liệu hạt nhân có thể thẩm tra, và mục tiêu để đảm bảo an toàn cho toàn bộ nguyên liệu hạt nhân dễ bị tấn công trên toàn thế giới trong vòng 4 năm. Từ tuyên bố này, có thể nhận ra sự thay đổi của chính quyền Mỹ đối với vấn đề hạt nhân, chuyển vai trò của vũ khí hạt nhân tới mức ngăn chặn tức Hoa Kỳ đã có một bước lùi đáng kể trong chính sách hạt nhân so với thời của tổng thống Bushiv. Thay đổi cơ sở hạ tầng hạt nhân với một số các loại vũ khí mới: Theo phát biều của Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Steven Chu trước Quốc hội, Chính quyền Obama sẽ không phát triển đầu đạn hạt nhân mới. Đề xuất ngân sách tài khóa 2010 đã đặt dấu chấm hết cho chương trình sản xuất đầu đạn hạt nhân thay thế tin cậy (RRW).Động thái này là bằng chứng về sự tích cực của chính quyền Obama trong việc thực hiện các cam kết đã có tại Prague. Tuy nhiên, cũng phải nói thểm rằng việc trì hoãn RRW không có nghĩa rằng Hoa Kỳ sẽ lơ là đối với vấn đề hạt nhân, cũng theo ông Steven Chu, “duy trì sự an toàn và tin cậy của các loại vũ khí hạt nhân của Mỹ vẫn là một nhiệm vụ chủ chốt của các phòng thí nghiệm vũ khí hạt nhân quốc gia và sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn khi kho vũ khí hạt nhân của Mỹ giảm” v Tập trung vào vấn đề giảm vai trò của vũ khí hạt nhân: Theo “Báo cáo định hướng Đánh giá Vị thế Hạt nhân 2009” của Trung tâm Tiến bộ Mỹ (CAP), một trung tâm có mối quan hệ khá tốt với chính quyền Obama “Hiện có một sự đồng thuận lưỡng đảng ngày càng tăng rằng vị thế vũ khí hạt nhân hiện tại của Mỹ tạo ra một gánh nặng không cần thiết cho các nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố hạt nhân và việc chuyển giao công nghệ, nguyên liệu và vũ khí hạt nhân tới các quốc gia khác. Do đó, Chính quyền Obama cần phải sử dụng NPR 2009 - 2010 để tạo dựng lại vị thế, các lực lượng và chính sách hạt nhân của mình để đối phó với các nguy cơ này”, trong đó, giảm vai trò của vũ khí hạt nhân trong chiến lược của Mỹ có thể bao gồm các vấn đề nhưgiảm cơ cấu lực lượng, hạ thấp nguy cơ cảnh báo, thậm chí có thể bỏ các kế hoạch tấn công các mục tiêu định sẵn. Có thể nói, đây là một trong những tham vọng tương đối táo bạo của Obama bởi nó vấp phải tương đối nhiều phản đối từ phía quốc hội . Xem lại vấn đề hệ thống phòng thủ tên lửa sao cho vừa bảo đảm được lợi ích của Mỹ vừa không vấp phải sự phản đối từ các nước liên quan mà đặc biệt là Nga. Về vấn đề này, chính quyền Obama không đưa ra các đề nghị sửa đổi căn bản, tuy nhiên, với việc cắt giảm các bộ phận tốn kém, bộ mặt của hệ thống phòng thủ tên lửa Hoa Kỳ sẽ có những thay đổi đáng kể. iii) Chính sách với các quốc gia khác về vấn đề hạt nhân: Như đã nói ở trên, chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề hạt nhân không chỉ gói gọn trong biên giới nước này mà còn có tác động tới hàng loạt các quốc gia khác. Nhìn chung, chính sách của Mỹ đối với vấn đề này dưới thời tổng thống Obama tương đối ôn hòa, nghiêng về đối thoại đàm phán hơn so với dưới thời tổng thống Bush. Có thể đưa ra một số ví dụ cụ thể như:  Ngày 19-5-2009 hai cường quốc hạt nhân Nga và Mỹ đã bắt đầu vòng đàm phán chính thức đầu tiên về Hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới nhằm thay thế cho START 1 hết hiệu lực vào 12/2009, mặc dù còn có một số bất đồng về các vấn đề như hệ thống phòng thủ tên lửa, phân chia đầu đạn hạt nhân… song cả hai bên đều có những quyết tâm đối với việc đưa ra một giải pháp chính trị phù hợp nhất.  Ngày 22/2/2010, Mỹ thông báo không chính thức cho Nhật Bản về kế hoạch ngừng sử dụng các tên lửa hành trình Tomahawk mang đầu đạn hạt nhân đặt trên các tàu chiến, thể hiện quyết tâm của Obama trong đối với vấn đề phi hạt nhân hóa. Tuy nhiên, đối với vấn đề Iran và hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, Mỹ có thái độ tương đối cứng rắn, sau những nỗ lực giải quyết vấn đề hạt nhân trong hòa bình Obama cũng đã sử dụng các biện pháp đe dọa trừng phạt, ra tối hậu thư đối với Iran và Bắc Triều Tiên giống như người tiền nhiệm George W Bush của mình. iv) Hiệu quả của chính sách: Nhìn chung, các chính sách về vấn đề hạt nhân của Hoa Kỳ dưới thời Obama cho tới thời điểm này vẫn chưa đem lại một kết quả cụ thể nào song nó cũng đã đem đến những dấu hiệu khả quan về một tương lai hợp tác không có vũ khí hạt nhân đối với tòan thế giới. Tất cả còn phụ thuộc vào việc liệu Bản báo cáo đánh giá tình hình hạt nhân, một văn bản hướng dẫn đại cương chiến lược hạt nhân mới mà chính quyền Obama sẽ báo cáo trước Quốc hội Mỹ vào tháng 3 tới sẽ mang lại phản ứng như thế nào và các quốc gia còn lại sẽ có những hành động tích cực như thế nào trong công cuộc hợp tác với các chính sách của Hoa Kỳ vì một thế giới phi hạt nhân. b) Chính sách của Trung Quốc Trung Quốc là thành viên Thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc và là một trong 5 nước lớn sở hữu vũ khí hạt nhân của thế giới nên có ảnh hưởng lớn đến vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân. Chính sách quân sự của Trung Quốc thực hiện theo phương châm “hậu phát chế nhân”, tức là thực hiện phòng ngự tích cực, tự vệ và ra đòn sau để khống chế đối phương. Trung Quốc cho rằng họ có một số ít vũ khí hạt nhân là xuất phát từ nhu cầu trnahs sự uy hiếp của tấn công hạt nhân và năng lực tự vệ hạt nhân hữu hạn, hiệu quả. Vì thế, lực lượng hạt nhân của Trung Quốc là lực lượng bảo vệ hòa bình thế giới, chính sách hạt nhân của Trung Quốc là chính sách chống chiến tranh hạt nhân, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân1. Trung Quốc có sức mạnh hạt nhân chiến lược “Tứ vị nhất thể” gồm bom hàng không, tên lửa hạt nhân bố trí trên đất liền, tàu ngầm hạt nhân, tên lửa hành trình. Trung Quốc bảo đảm với tất cả các nước rằng mình không sử dụng trước vũ khí hạt nhân và đã công khai tuyên bố vào năm 1964 bất cứ lúc nào, trong bất cứ tình huống nào cũng không sử dụng trước vũ khí hạt nhân. Sau này đồng ý vô điều kiện không sử dụng hoặc răn đe sử dụng vũ khí hạt nhân với các nước không có vũ khí hạt nhân và khu vực không có vũ khí hạt nhân. Trung Quốc đã ký kết nhiều Hiệp định như “ Hiệp định không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1992, “Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện” năm 1996 và đưa ra dự thảo “Hiệp định cùng nhau không sử dụng trước vũ khí hạt nhân” với bốn nước Mỹ, Anh, Nga, Pháp. Chủ trương của Trung Quốc là ngăn cấm toàn diện và tiêu hủy triệt để vũ khí hạt nhân và vũ khí mang tính giết người hàng loạt khác, thực hiện phương châm “không chủ trương, không giúp đỡ nước khác phát triển vũ khí hạt nhân”2. Có thể thấy Trung Quốc rất tích cực trong việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân cũng như ngăn chặn chiến tranh hạt nhân. Điều này có thể xuất phát từ xu hướng hòa bình trên thế giới cộng thêm thực tế là nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng cao so với các cường quốc khác. Vì vậy, Trung Quốc cần kéo dài thêm thời gian hòa bình, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh xảy ra để có khả năng phát triển một nền kinh tế vững mạnh, thậm chí vượt cả Mỹ, làm cơ sở cho sức mạnh quân sự của quốc gia. Tham vọng của Trung Quốc luôn là rất lớn bởi tư tưởng bá quyền đã có từ hàng nghìn năm trước. Tuy nhiên, tạm thời Trung Quốc là một quốc gia tích cực ngăn chặn việc phổ biến vũ khí hạt nhân mà nhiều nước nên ủng hộ. c) Chính sách của Nga Nga là một trong những nước nắm giữ kho vũ khí hạt nhân lớn nhất trên thế giới nên việc cắt giảm cũng như không phổ biến vũ khí hạt nhân cảu quốc gia có tầm quan trọng lớn đối với hòa bình thế giới. Nga đã nhiều lần tham gia các hiệp định về giải trừ vũ khí hạt nhân với Mỹ và đã ký kết một số hiệp định quan trọng như “Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968, hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược START 1 năm 1991. Tuy nhiên quan hệ giữa Nga và phương Tây căng thẳng những năm gần đây do việc Matxcova phản đối kế hoạch xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa ABM ở Đông Âu của Mỹ. Nga đã đáp trả bằng việc rút khỏi Hiệp ước hạn chế vũ khí thông thường ở Châu Âu (CFE) và còn tuyên bố sẽ chế tạo một hệ thống tên lửa hạt nhân mới để bảo đảm khả năng làm nhụt chí tấn công của kẻ thù. Mặc dù vậy, tổng thổng Nga Dmitry Medvedev và tổng thổng Mỹ Barrack Obama cũng nhất trí sẽ tổ chức một hội nghị thượng đỉnh hạt nhân quốc tế trong năm 2010. Vấn đề lớn nhất trong những cuộc thảo luận theo Nga là các kế hoạch của Mỹ trên căn bản sẽ phá hoại sự cân bằng quyền lực Chiến tranh lạnh và do đó Nga buộc lòng phải phát triển các vũ khí tấn công mới. Nhiều chuyên gia cho rằng, việc cắt giảm nhiều về số lượng cũng như thiết bị vận chuyển đầu hạt nhân sẽ mang lại những lợi ích nhất định cho Nga vì sẽ giảm được gánh nặng về chi phí và nguy cơ của việc duy trì hàng nghìn đơn vị đầu đạn hạt nhân, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế vừa qua. Nhưng tổng thống Nga tỏ ra e ngại khi cắt giảm xuống còn sở hữu vài trăm đơn vị đầu đạn hạt nhân, động thái này sẽ khuyến khích một số cường quốc hạt nhân nhỏ hơn như Trung Quốc sẽ tăng cường dự trữ vũ khí hạt nhân nhằm xứng tầm với khả năng hạt nhân của Nga và Mỹ. Việc chưa đi đến hiệp định mới thay thế cho Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược START 1 đã hết hiệu lực vào ngày 5/12/2009 cho thấy cả hai bên chưa đủ quyết tâm chính trị để đảm bảo các cuộc đàm phán đi đến kết quả như mong đợi. Khó khăn trong việc giải quyết vấn đề này là Mỹ và Nga phải cắt giảm bao nhiêu và kiểm soát, kiểm tra mức độ cắt giảm đó bằng cơ chế nào. Cả hai quốc gia đều muốn cắt giảm, nhưng vẫn muốn duy trì ưu thế tương đối so với bên kia trong khi phải chịu nhiều sức ép đòi hỏi làm cho thế giới không còn vũ khí hạt nhân trong khi thật ra chẳng có quốc gia nào hiện có vũ khí hạt nhân lại sẵn sàng từ bỏ chúng. Do vậy, việc Mỹ và Nga để cho hiệp ước START 1 tiếp tục có hiệu lực là có lợi cho cả hai bên. Tuy nhiên, kể cả khi không còn một sức ép nào nữa, Nga vẫn muốn mặc cả với Mỹ về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân nhằm buộc Mỹ cung cấp tất cả thông tin về hệ thống phong thủ tên lửa ở Châu Âu. Vì thế việc ký kết thành công Hiệp định hay không phụ thuộc nhiều vào quyết định của tổng thống Obama. 2) Các cơ chế cấm phổ biến vũ khí hạt nhân: a) Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) The Comprehensive Nuclear Test Ban Treaty (Tên gọi đầy đủ là "Hiệp định cấm thí nghiệm vũ khí hạt nhân toàn diện”) i) Lịch sử:  Ngày 10/9/1996 tại Hội nghị toàn thể Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 10, Hiệp định này đã được thông qua (158 phiếu thuận, 3 phiếu trống, 5 phiếu trắng).Theo như Hiệp ước này: cấm tất cả các nước trên thế giới tiến hành các vụ nổ hạt nhân.  Tính đến nay, số nước phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) đã lên tới 151 nước, một mốc mới trong tiến trình đưa hiệp ước quan trọng này thực sự có hiệu lực trên thực tế.  Ủy ban trù bị Hiệp ước CTBT của Liên hợp quốc thông báo Liberia đã chính thức chuyển các văn bản phê chuẩn CTBT cho Liên hợp quốc và như vậy, cho đến nay, châu Phi đã có 51 nước ký và 37 nước phê chuẩn hiệp ước. Đến nay, 182 nước trong tổng số 195 nước thành viên Liên hợp quốc đã ký hiệp ước này.  Hiệp ước sẽ chính thức có hiệu lực 180 ngày sau khi được tất cả 44 nước có vũ khí hoặc có công nghệ vũ khí hạt nhân phê chuẩn. Hiện tại, đã có 35 nước trong số này phê chuẩn hiệp ước, trong đó có Nga, Pháp, Anh là các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Mỹ, Trung Quốc, Triều Tiên và I-ran từ chối phê chuẩn hiệp ước. ii) Lợi ích các bên khi tham gia Hiệp ước  Điều khoản cốt lõi của Hiệp định này nhằm: cấm tất cả các vụ nổ hạt nhân ở bất cứ đâu và bởi bất cứ nước nào. Chính vì thế, khi các quốc gia tham gia vào Hiệp ước này tức là đã tự nguyện trở thành một nước trong số nhóm nước muốn tăng cường mục tiêu không phổ biến vũ khí hạt nhân và ủng hộ giải trừ quân bị. Qua đó, góp phần vào hòa bình và an ninh thế giới.  Hiệp định gồm có một lời nói đầu, 17 mục , hai phụ lục và một Nghị định thư với hai phụ lục.  Hiệp ước này là cần thiết cho việc không phổ biến vũ khí hạt nhân bởi vì rõ ràng với các điều khoản của mình, nó giới hạn khả năng phát triển vũ khí hạt nhân ở các quốc gia.  Hơn nữa, nó cũng rất quan trọng trong việc góp phần giải trừ vũ khí hạt nhân vì nó kiềm chế sự phát triển của các kiểu và loại vũ khí hạt nhân mới một khi các nước đã ký và phê chuẩn thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. iii) (1) Tác động của cơ chế đối với vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế giới: Tích cực:  Hiệp ước CTBT là rất quan trọng trong bối cảnh một thế giới màsự trỗi dậy của năng lượng hạt nhân là điều dễ thấy Hiệp ước này sẽ là một ràng buộc pháp lý cấm thử các vụ nổ hạt nhân; cung cấp một hàng rào rõ ràng giữa cấm và cho phép các hoạt động hạt nhân  CTBTsẽ là một biểu hiện mạnh mẽ việc xây dựng biện pháp an ninh quốc tế, khu vực và song phương.  Hiệp định là một khuôn mẫu mới chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân. (2) Tiêu cực: Bất chấp những nỗ lực của Hiệp định cấm thử các vụ nổ hạt nhân toàn diện nhưng hàng loạt các vụ thử hạt nhân vẫn diễn ra lẳng lặng trên thế giới =>Con đường tiến tới một thế giới phi hạt nhân còn rất dài. Hiệp định CTBT thành công sẽ là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình giải quyết vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế giới. =>Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon nhấn mạnh một thế giới không hạt nhân "tuy còn cần một chặng đường dài nữa nhưng không phải là một giấc mơ không thể thành. b) Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) là một công ước quốc tế do Mỹ và Liên Xô cùng 59 quốc gia khác đã ký vào năm 1968. Hiệp định này đã rất thành công trong việc làm giảm thiểu số lượng những nước sở hữu VKHN và đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải giáp hạt nhân. i) Tổng quan – Quá trình đàm phán Hiệp ước được đề xuất bởi Ái Nhĩ Lan, bắt đầu được ký kết năm1968, và Phần Lan là quốc gia đầu tiên thực hiện việc ký kết. Ngày 12/6/1968, Đại hội đồng Liên hiệp quốc phê chuản bản dự thảo hiệp ước này. Ngày 5/3/1970 bắt đầu có hiệu lực. Kể từ sau khi Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực, các nước đã liên tục gia nhập và làm tăng tính phổ cập của Hiệp ước này. Năm1992, cả năm quốc gia có vũ khí hạt nhân đều tham gia ký hiệp ước. Đến nay đã có 188 quốc gia tham gia ký kết. Ngày 11/5/1995, tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thảo luận về “Hiệp định không phổ biến vũ khí hạt nhân”, tất cả các nước thành viên đã nhất trí tán thành Hiệp định này kéo dài không kỳ hạn. ii) Nội dung cơ bản của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. (1) Không phổ biến vũ khí hạt nhân (theo chiều rộng): có 5 quốc gia được phép sở hữu vũ khí hạt nhân, đây đồng thời là các nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Năm nước này thoả thuận không chuyển giao kỹ thuật hạt nhân cho các nước khác, và các quốc gia không có vũ khí hạt nhân cũng đồng ý không mưu cầu có vũ khí hạt nhân. (2) Giải trừ quân bị (3) Quyền sử dụng kỹ thuật hạt nhân cho mục đích hòa bình: Vì chỉ có rất ít quốc gia đang sử dụng lò phản ứng hạt nhân để sản xuất năng lượng tự nguyện hoàn toàn từ bỏ nhiên liệu hạt nhân, nên trọng tâm thứ ba của hiệp ước là cung ứng cho các quốc gia khả năng sản xuất năng lượng hạt nhân, với điều kiện không sử dụng kỹ thuật này để phát triển vũ khí hạt nhân. (4) Nghĩa vụ của các quốc gia không có vũ khí hạt nhân chấp nhận thanh sát do IAEA tiến hành. iii) Lợi ích của các bên tham gia (1) Lợi ích chung nhất của các bên tham gia ký kết hiệp ước cũng nằm trong mục đích của hiệp ước: chấm dứt các cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân và đưa tới việc giải trừ quân bị nhằm đưa thế giới hướng tới mục tiêu phi hạt nhân (2) Trước hết, đối với 5 nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân. Các nước này dường như là sẽ có nhiều lợi ích khi tham gia ký kết hiệp ước này bởi chỉ có 5 quốc gia này mới được phép sở hữu vũ khí hạt nhân. Các quốc gia này có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp hiệu quả để có thể giải trừ vũ khí hạt nhân, tuy nhiên, một vấn đề lớn có thể thấy là không có một thời hạn cụ thể nào được đặt ra cho việc giải trừ quân bị. Chính vì vậy, cả 5 nước có vẻ miễn cưỡng đối với việc tháo dỡ, phá hủy kho vũ khí của mình và dường như là không thể biết chính xác số lượng vũ khí hạt nhân của họ là bao nhiêu. (3) Đối với các nước còn lại, khi tham gia ký kết và hiệp ước này, một mặt họ phải chịu sự thanh sát của IAEA nhưng đồng thời cũng được IAEA hỗ trợ về mặt kỹ thuật trong việc sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích hòa bình iv) giới Tác động của hiệp ước này đối với vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế (1) Tích cực Hiệp ước NPT đã rất thành công trong việc làm giảm thiểu số lượng những nước sở hữu VKHN và đóng và đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải giáp hạt nhân. Một vài quốc gia ký kết Hiệp ước đã loại bỏ vũ khí hạt nhân hoặc từ bỏ các chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân. Cộng hòa Nam Phi đã xúc tiến chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân dưới sự trợ giúp của Israel. Tuy nhiên, nước này đã từ bỏ chương trình hạt nhân và tham gia ký Hiệp ước năm 1991 sau khi phá huỷ kho hạt nhân của mình. Ukraine và một vài nước khác thuộc Liên Xô cũ cũng đã phá huỷ hoặc chuyển giao cho Nga các loại VKHN mà họ thừa hưởng từ Liên Xô. Thêm vào đó hai cường quốc hạt nhân là Nga và Mỹ cũng đang tiến hành đàm phán để đạt được một Hiệp ước mới nhằm thay thế Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí chiến lược (START). Theo đó, hai nước sẽ cắt giảm đáng kể kho vũ khí hạt nhân của mình. (2) Tiêu cực: Tuy nhiên, một hiệp ước được hình thành trong chiến tranh lạnh, tức là cách đây hơn 40 năm cùng với nhiều điểm khiếm khuyết liệu có còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay hay không? Thứ nhất, hiệp ước này lại không đưa ra một thời hạn cụ thể nào đặt ra cho việc giải trừ kho VKHN hiện có trên thế giới. Chính vì vậy, số lượng vũ khí hạt nhân cắt giảm vẫn không đáng kể so với mức 5 cường quốc hạt nhân nắm giữ. Cho đến nay, năm nước này còn giữ 18.500 đầu đạn hạt nhân trong tay họ. Thứ hai, nhiều chuyên gia cho rằng thật là bất hợp lý khi một số quốc gia sở hữu hàng loạt vũ khí hạt nhân thì được coi là hợp pháp trong khi các quốc gia khác lại không thể sở hữu vì như thế sẽ bất hợp pháp. Sự thiếu công bằng này không thể làm cho cơ chế trên có được sự ổn định và tiếp tục ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân. Hội nghị “xét lại” NPT đã được diễn ra vào tháng 5-2005. Những nước không có vũ khí hạt nhân than phiền mạnh mẽ các cường quốc hạt nhân - trước tiên là Mỹ - chỉ làm chiếu lệ việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Bên cạnh các quốc gia tự dỡ bỏ vũ khí hạt nhân của mình thì cũng có những quốc gia tuyên bố rút khỏi hiệp ước NPT như trường hợp của CHDCND Triều Tiên vào năm 2003 và nước này cùng với Iran vẫn đang là những điểm nóng về hạt nhân trên thế giới. . Ngoài Bắc Triều Tiên và Iran, có thể sẽ có Hàn Quốc trong trường hợp Bắc Triều Tiên và Nhật Bản cũng có vũ khí hạt nhân, Đài Loan, Ai Cập, Algerie, Saudi Arabia, Brazil... Như vậy, liệu hiệp ước NPT có còn là phù hợp trong bối cảnh hiện nay và đâu là việc mà các nước thành viên sẽ phải làm để hiệp định thực sự có hiệu lực như tên gọi của nó? c) Hiệp định cắt giảm vũ khí hạt nhân: “Hiệp định cắt giảm vũ khí hạt nhân” (START) là một công ước quốc tế được ký kết giữa Liên Xô và Mỹ về vấn đề phân chia giai đoạn để cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi bên. Hiệp định này nhằm mục đích phòng ngừa các cuộc chạy đua vũ trang trong không gian và chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang trên trái đất giữa hai nước. Tham gia hiệp định START, Mỹ và Liên Xô có khả năng ổn định chiến lược và thiết lập quan hệ song phương. Ngoài ra, mối đe dọa về vũ khí hạt nhân sẽ giảm đi đáng kể; các bên sẽ có thể tập trung nhân lực và vật lực để phát triển kinh tế. Đến nay Mỹ và Liên Xô đã ký kết hai hiệp định START. Hiệp định START 1 là hiệp định cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược. Quá trình đàm phán hiệp định START 1 bắt đầu từ tháng 6/1986 đến cuối tháng 7/1991, tại Moscow. Hiệp định này quy định phương tiện vận tải vũ khí hạt nhân1 không được quá 1.600 đơn vị và tổng số đầu đạn được chuyên chở không vượt quá 6.000 quả. Hiệp định START 2 – hiệp định cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược mang tính tiến công giai đoạn hai – được ký kết tại Moscow vào tháng 1/1993. Tại đây, Liên Xô và Mỹ đã đồng ý với điều khoản mới, quy định tổng số phương tiện vận tải vũ khí hạt nhân nằm trong khoảng từ 3.800 – 4.250 đơn vị và trong bất kỳ tình huống nào cũng không được vượt quá 4.250 đơn vị. Tổng số đầu đạn hạt nhân kèm theo tính đến ngày 01/01/20032 phải cắt giảm xuống trong khoảng 3.000 – 3.500 quả, hoặc tùy theo ý kiến mỗi bên, nhưng trong bất kỳ tình huống cũng không được vượt quá 3.500 quả. Ngoài việc hoàn thành quy định của START 2, Mỹ và Liên Xô đang đàm phán vấn đề START 3 nhằm cắt giảm hơn nữa vũ khí hạt nhân chiến lược. Mục tiêu của hiệp định lần này là cắt giảm số lượng đầu đạn hạt nhân xuống còn từ 2.000 – 2.500 quả. Việc không phổ biến vũ khí hạt nhân là nguyện vọng đơn phương của các quốc gia và những người lương thiện. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhận thức rằng: kỹ thuật chế tạo vũ khí hạt nhân, sự phổ biến và cập nhật về vũ khí hạt nhân là việc tất yếu. Từ đó có thể thấy rằng việc phổ biến vũ khí hạt nhân là phù hợp với quy luật phát triển của sự vật, thuộc về hiện tượng tuyệt đối và lâu dài. Việc không phổ biến vũ khí hạt nhân chỉ mang tính tương đối và tạm thời. Thực tế đã chứng minh, một số quốc gia thuộc Thế giới thứ ba và các tổ chức phi quốc gia chủ trương sử dụng vũ khí hạt nhân như một biện pháp răn đe quân sự, phát 1 Phương tiện vận tải vũ khí hạt nhân bao gồm: tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo bắn từ tàu ngầm và các phương tiện phóng liên quan như máy bay oanh kích hạng nặng. 2 Sau này kéo dài đến ngày 01/01/2007. động chiến tranh hạt nhân cục bộ và tiến hành các hoạt động khủng bố hạt nhân, đối đầu với các cường quốc thế giới hoặc cường quốc khu vực. Ngoài việc Mỹ, Nga và Ấn Độ đã sử dụng kỹ thuật máy tính mô phỏng thí nghiệm hạt nhân, Mỹ và Nga còn nghiên cứu thế hệ vũ khí hạt nhân thứ tư3 với nguyên lý từ bom nguyên tử và bom khinh khí. Đây là một loại vũ khí hạt nhân không cần có vụ nổ hạt nhân mà vẫn có thể giải phóng năng lượng hạt nhân lớn sinh ra hiệu ứng phá hoại sát thương quy mô lớn. i Norris, Robert S.; Hans M. Kristensen (January/February 2006). "U.S. nuclear forces, 2006". Bulletin of the Atomic Scientists 62 (1): 68–71. doi:10.2968/062001020. ii http://antg.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=71003 http://vietnamnet.vn/thegioi/200911/Tokyo-Washington-va-nhung-thoa-thuan-hat-nhan-bi-mat-880509/ iv http://www.huffingtonpost.com/2009/04/05/obama-prague-speech-on-nu_n_183219.html?just_reloaded=1 v http://vovnews.vn/Home/Chinh-sach-hat-nhan-cua-My-duoi-thoi-Chinh-quyen-Obama/200912/129576.vov iii 3 Ví dụ: vũ khí khinh khí kim loại, vũ khí hạt nhân có những nguyên tố hạt nhân đồng chất dị năng và vũ khí phản vật chất.
- Xem thêm -