Vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình phát triển của văn học việt nam

  • Số trang: 150 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 572 |
  • Lượt tải: 14
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Nghi Dung VỊ TRÍ CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KÌ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Nghi Dung VỊ TRÍ CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KÌ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cảm ơn Mục lục DẪN NHẬP ................................................................................................................1 Chương 1. KHÁI LƯỢC VỀ THỂ LOẠI TRUYỀN KÌ ....................................11 1.1. Khái niệm thể loại ..........................................................................................11 1.2. Đặc trưng của thể loại truyền kì .....................................................................12 1.2.1. Đặc trưng về nội dung .............................................................................12 1.2.2. Đặc trưng về nghệ thuật ...........................................................................22 1.3. Một số tác phẩm truyền kì tiêu biểu ...............................................................28 1.3.1. Thánh Tông di thảo ..................................................................................28 1.3.2. Truyền kì mạn lục ....................................................................................29 1.3.3. Truyền kì tân phả .....................................................................................30 1.3.4. Tân truyền kì lục ......................................................................................30 1.3.5. Lan Trì kiến văn lục .................................................................................30 1.4. Quá trình phát triển của thể loại truyền kì Việt Nam .....................................31 1.4.1. Giai đoạn 1: Từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIV – giai đoạn manh nha của thể loại truyền kì ......................................................................................31 1.4.2. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVI, giai đoạn phát triển rực rỡ của thể loại truyền kì. ..........................................................................37 1.4.3. Giai đoạn 3: Từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX: giai đoạn cáo chung của thể loại truyền kì................................................................................41 Chương 2. TRUYỀN KÌ: CẦU NỐI GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT ...........................................................................................46 2.1. Đề tài của truyền kì: khai thác đề tài từ văn học dân gian .............................46 2.1.1. Truyện truyền kì khai thác đề tài từ truyện cổ tích ..................................46 2.1.2. Truyện truyền kì khai thác đề tài từ truyền thuyết...................................55 2.1.3. Truyền kì khai thác đề tài từ truyện ngụ ngôn .........................................61 2.2. Nghệ thuật của truyền kì: chịu ảnh hưởng của nghệ thuật văn học dân gian .64 2.2.1. Cốt truyện và kết cấu của truyền kì có nhiều nét tương đồng với cốt truyện, kết cấu của truyện dân gian .........................................................64 2.2.2. Truyện truyền kì sử dụng những mô – tip dân gian ................................71 2.2.3. Cách xây dựng nhân vật trong truyện truyền kì có nhiều điểm giống cách xây dựng nhân vật trong truyện dân gian ................................................73 Chương 3. TRUYỀN KÌ: THỂ LOẠI ĐÁNH DẤU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢ VĂN HỌC HIỆN ĐẠI.............................................................................................77 3.1. Văn xuôi Việt Nam trước khi thể loại truyền kì xuất hiện .............................77 3.2. Truyền kì đánh dấu sự phát triển của văn xuôi tự sự trung đại ......................81 3.2.1. Nội dung truyền kì giàu giá trị yêu nước, đậm chất hiện thực và thấm đẫm nhân đạo ...........................................................................................81 3.2.2. Nghệ thuật của truyền kì: một bước phát triển của nghệ thuật văn xuôi trung đại .................................................................................................102 3.3. Dấu vết của truyền kì trong văn học hiện đại ...............................................130 3.3.1. Dấu vết của truyền kì trong văn học 1930 – 1945 .................................130 3.3.2. Dấu vết của truyền kì trong văn học Việt nam hiện đại sau 1975 .........135 KẾT LUẬN ............................................................................................................141 1 DẪN NHẬP 1. Lí do chọn đề tài Văn học Việt Nam có lịch sử phát triển lâu dài, là nền văn học có sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, cũng là một nền văn học có sắc màu phong phú, phản ánh chân thật tâm hồn, đời sống dân tộc qua mỗi thời kì, mỗi giai đoạn lịch sử. Làm nên sắc màu phong phú của văn học dân tộc là sự góp mặt của nhiều loại hình văn học với rất nhiều thể loại đa dạng. Có những thể loại giờ đây đã không còn phát triển nữa. Có những thể loại xuất hiện từ rất lâu mà vẫn tồn tại, phát triển đến hôm nay. Cũng có những thể loại dù không còn được sáng tác nữa nhưng dấu ấn của thể loại đó vẫn còn để lại trong những tác phẩm văn học sau này. Truyền kì là thể loại thuộc dạng cuối cùng này. Dẫu rằng tên gọi thể loại này chỉ xuất hiện trong văn học viết trung đại, tồn tại và phát triển đến hết thời kì văn học trung đại, nhưng sự đóng góp của truyền kì cho sự phát triển chung của loại hình tự sự trong văn học trung đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung là không thể phủ nhận. Các tác phẩm truyền kì nổi tiếng của các tác giả tên tuổi như Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông – (?)), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh) là những cứ liệu không thể bỏ qua khi xem xét sự phát triển về nội dung, nghệ thuật của văn học Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau. Nói cách khác, nghiên cứu về truyền kì, qua những tác phẩm tiêu biểu, ta phần nào thấy được diện mạo nền văn học Việt Nam ở cả hai mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Chọn đề tài Vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, chúng tôi muốn góp một cái nhìn khách quan, công bằng hơn về vai trò của thể loại này đối với sự phát triển chung của văn học dân tộc, cũng là để có cơ hội hiểu thêm về thể loại này và hiểu thêm về văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, với những đặc trưng của mình, các sáng tác truyền kì luôn gây cho người đọc sự thích thú. Thế giới huyền ảo, kì lạ của truyền kì đủ sức hấp dẫn người đọc nhiều thế hệ khác nhau và có sức sống trong dòng chảy văn học. Thế giới ấy 2 cũng cuốn hút tôi, một người học văn, dạy văn và có nhiều tình cảm với văn chương. Trong chương trình văn học trung đại ở hai cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, cùng với thơ Đường luật, ngâm khúc, hát nói, truyện thơ, tiểu thuyết chương hồi…, truyền kì là một thể loại được chọn giảng dạy trong chương trình, cụ thể là ở chương trình Ngữ văn lớp 6, lớp 9 và chương trình Ngữ văn lớp 10. Là một giáo viên môn Ngữ văn, tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu về thể loại truyền kì và vị trí của thể loại này trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam sẽ giúp ích cho công tác giảng dạy văn học ở trường phổ thông. Thực tế nghiên cứu sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn vừa toàn diện, vừa cụ thể chi tiết về thể loại này, lấy đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu, giảng dạy các tác phẩm truyền kì trong chương trình ngữ văn ở các cấp học. Qua đó, có thể giúp các em học sinh thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương trung đại (vốn không phải là một điều dễ dàng) qua một thể loại cụ thể và trân trọng hơn văn học dân tộc mình. Tóm lại, nhận thức được vai trò quan trọng của thể loại truyền kì trong sự phát triển của văn học Việt Nam, niềm yêu thích đối với thể loại này và từ yêu cầu thực tế công tác, tôi chọn đề tài Vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình văn học Việt Nam làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình với mong mỏi có thể góp chút hiểu biết của mình vào hiểu biết chung về văn học nước nhà và khơi gợi sự hứng thú của mọi người trong việc tìm hiểu về thể loại truyền kì, từ đó sẽ có thêm những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị về thể loại này. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những tác phẩm cụ thể thuộc thể loại truyền kì, từ Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục đến Lan Trì kiến văn lục nhưng hầu như chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về vị trí của thể loại này trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, với những đóng góp quan trọng về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật của thể loại. Số lượng công trình khoa học hay những bài viết nghiên cứu, tìm hiểu về những tác phẩm truyền kì cụ thể (trên những phương diện khác nhau) khá lớn, trong 3 khi các bài viết nghiên cứu về thể loại truyền kì nói chung và vị trí của thể loại này trong tiến trình văn học Việt Nam nói riêng chưa nhiều, cũng có nghĩa là vấn đề này chưa nhận được sự quan tâm xứng đáng của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học và những người quan tâm đến văn học. Trước thế kỉ XX, nhiều tác giả Nho học đã thể hiện sự quan tâm đến thể loại truyền kì qua những sáng tác truyền kì cụ thể. Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều đã dành nhiều ưu ái cho Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả. Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân Am cư sĩ phả kí coi Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là một “thiên cổ kì bút”. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục ca ngợi Truyền kì mạn lục là “lời lẽ thanh tao, tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen”. Phan Huy Chú khen rằng Truyền kì mạn lục là “áng văn hay của bậc đại gia”. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú nhận xét về Truyền kì tân phả: “Lời văn hoa lệ nhưng khí chất yếu ớt, không bằng văn của Nguyễn Dữ”. Như vậy các tác giả trước thế kỉ XX quan tâm đến thể loại truyền kì qua các tác phẩm truyền kì cụ thể và về một phương diện nào đó như văn phong, ngôn từ chứ chưa có cái nhìn bao quát về thể loại này. Từ đầu thế kỉ XX đến nay, các sáng tác truyền kì nói riêng, thể loại truyền kì nói chung nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình văn học hơn. Khi điều kiện nghiên cứu hiện thời đã thuận lợi hơn, khi nhu cầu tìm về những tác phẩm nổi tiếng của thời trung đại để xem xét giá trị của chúng trong nền văn học ngày càng cao hơn thì những công trình khoa học về các tác phẩm truyền kì và thể loại truyền kì xuất hiện nhiều hơn. Đặc biệt, tác phẩm Truyền kì mạn lục được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều bài viết, công trình khoa học như: - Truyền kì mạn lục dưới góc độ so sánh văn học (Con đường giải mã văn học trung đại, NXB Giáo dục, 2006) – Nguyễn Đăng Na - Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Tạp chí văn học số 7 – 1987) - Nguyễn Phạm Hùng - Truyền kỳ mạn lục - một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán (Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, 2001) – Bùi Duy Tân 4 - Bàn thêm về tác giả, tác phẩm Truyền kì mạn lục (Tạp chí văn học số 10/ 2002) – Lại Văn Hùng - Bàn góp về tiếp thu và đổi mới trong Truyền kì mạn lục (Trang điện tử Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm TpHCM, tháng 12, 2011) – Phạm Tuấn Vũ - Đóng góp của Nguyễn Dữ cho thể loại truyền kì Đông Á (Trang điện tử của Viện Văn học, tháng 10, 2006)– Vũ Thanh - Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kì mạn lục (Trang điện tử trường ĐHKHXHNV, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, tháng 6, 2009) – Nguyễn Hữu Sơn - Vũ nguyệt vật ngữ của Ued Akanari và Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (Trang điện tử trường ĐHKHXHNV, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, tháng 01, 2010) Đoàn Lê Giang - Bước tiến của thể loại truyện ngắn truyền kì Việt Nam qua Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (Báo cáo nghiên cứu khoa học trường Cao đẳng sư phạm Bà Rịa Vũng Tàu, 2007)- Lê Văn Hùng Ngoài ra, còn có những bài viết, những công trình nghiên cứu về các tác phẩm truyền kì khác như: - Đoàn Thị Điểm và Truyền kì tân phả (Tạp chí Văn hóa Nghệ An tháng 9 – 2010) - Mối liên hệ giữa Truyền kì tân phả và lễ hội văn hóa dân gian (Trang điện tử của Viện văn học, tháng 8, 2011) – Trần Thị Băng Thanh và Bùi Thị Thiên Thai - Thánh Tông di thảo – nhìn từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam và từ đặc điểm truyện truyền kì (Báo cáo nghiên cứu khoa học trường Đại học Vinh, 2008) – Vũ Thị Phương Thanh Những bài báo, công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu xem xét từng tác phẩm truyền kì cụ thể trên những phương diện, góc nhìn khác nhau: so sánh tác phẩm với những tác phẩm khác cùng thể loại (như bài viết Truyền kì mạn lục dưới góc độ so sánh văn học; Vũ nguyệt vật ngữ của Ued Akanari và Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ); sự đóng góp của tác phẩm đối với sự phát triển của thể loại (như Bàn 5 góp về tiếp thu và đổi mới trong Truyền kì mạn lục, Bước tiến của thể loại truyện ngắn truyền kì Việt Nam qua Truyền kì mạn lục, Truyền kỳ mạn lục - một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán), ảnh hưởng của văn hóa, văn học dân gian đến tác phẩm truyền kì (như bài Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo của Nguyễn Dữ trong Truyền kì mạn lục; Mối liên hệ giữa Truyền kì tân phả và lễ hội văn hóa dân gian); … Với chúng tôi, những công trình, bài báo này tuy chưa cung cấp một cái nhìn toàn diện về thể loại truyền kì và vai trò của thể loại này trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nhưng đã cho chúng tôi những gợi ý quý báu cho nội dung của luận văn này. Trong thế kỉ XX, XXI, ở các công trình liên quan đến văn học trung đại, thể loại truyền kì nói chung đã được chú ý hơn so với trước đó. Tuy nhiên, xem xét thể loại truyền kì trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nói chung, văn học trung đại nói riêng, những nhà phê bình, nghiên cứu chưa thật sự dành sự quan tâm xứng đáng cho thể loại này. Chúng ta có thể tìm thấy trong các công trình Lịch sử văn học Việt Nam (NXB Khoa học xã hội, 1980), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử, NXB ĐHQGHN, 2005), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (Trần Nho Thìn, NXB GD, 2008) những trang viết về thể loại truyền kì. Những phần về Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục trong chương XIV (Văn học viết từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII) và chương XVI (Truyền kì mạn lục và những thành tựu của văn xuôi chữ Hán) trong Lịch sử văn học Việt Nam, về truyện truyền kì (Chương IV: Thể loại truyện chữ Hán, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam), về thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam (Phần một: Một số vấn đề lí luận của văn học trung đại nhìn từ góc độ văn hóa, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa) tuy không nhiều nhưng cũng giúp chúng tôi tham khảo được nhiều nội dung quan trọng liên quan đến đề tài luận văn. Có lẽ người đầu tiên cho ra đời một công trình quy mô, có hệ thống về truyền kì chính là Nguyễn Huệ Chi với tuyển tập Truyện truyền kì Việt Nam gồm 3 tập do NXB Giáo Dục Việt Nam xuất bản năm 1999. Đây là tác phẩm tuyển tập trên 200 6 truyện truyền kì và phỏng truyền kì của văn học Việt Nam trong 7 thế kỉ, từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XX, là một công trình thật sự có giá trị, không chỉ cung cấp cho người đọc những truyện truyền kì cụ thể mà còn qua đó thấy được đặc điểm của thể loại này. Công trình của tác giả Nguyễn Huệ Chi chính là một trong những nguồn tư liệu quan trọng cho luận văn của chúng tôi. Chính từ công trình này, chúng tôi có thể hình dung ra sự phát triển của thể loại truyền kì qua các thời kì, giai đoạn, cũng như có cái nhìn rõ ràng, đầy đủ hơn về đặc điểm của thể loại này. Cùng với Nguyễn Huệ Chi, tác giả Vũ Thanh dường như cũng là những học giả khá quan tâm đến truyền kì với nhiều công trình nghiên cứu về thể loại này như: Những biến đổi của yếu tố kì và thực trong truyện ngắn truyền kì Việt Nam (in trong Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học), Dư ba của truyện truyền kì, chí quái trong văn học hiện đại Việt Nam (in trong Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học – Kỉ yếu hội thảo của Viện văn học năm 2001), Thể loại truyện kì ảo Việt Nam thời trung đại – quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm của (in trong Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIX Những vấn đề lịch sử và lí luận, NXB GD, 2007)… Tác giả Bùi Thanh Truyền lại thể hiện sự quan tâm của mình đối với thể loại truyện kì ảo, truyền kì trong những công trình về thể loại này trong văn học hiện đại qua các bài viết: Sự hồi sinh của yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam (luận án Tiến sĩ trường Đại học Sư phạm Huế), Truyện kì ảo trong đời sống văn học Việt Nam… Tác giả Nguyễn Đăng Na trong Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại – Những vấn đề văn xuôi tự sự (NXBGD, 2007) cũng đã đề cập đến thể loại truyền kì như là một thể loại tiêu biểu của văn học trung đại giai đoạn thế kỉ XV – XVI. Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Na cũng là tác giả chủ biên tuyển tập Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1, Truyện ngắn (NXB GD, 1999). Những bài viết, công trình này đã mang đến cho chúng tôi những ý tưởng quý giá để hoàn thiện nội dung luận văn về những đặc điểm của thể loại truyền kì, sự ảnh hưởng của thể loại này đến văn học hiện đại. Như vậy, tất cả các công trình trên, dù ít, dù nhiều cũng đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu đáng quý để góp phần hoàn thành luận văn. Tuy nhiên, điểm qua đôi nét chúng tôi nhận thấy mặc dù các tác phẩm truyền kì nổi tiếng đều nhận được 7 nhiều sự quan tâm của người nghiên cứu phê bình văn học nhưng thể loại truyện kì lại chưa có được vị trí tương xứng với đóng góp của nó cho sự phát triển văn học Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. Đây là một trong những nguyên nhân thúc đẩy chúng tôi chọn Vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam làm đề tài cho luận văn cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam của mình. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình phát triển của văn học, chủ yếu là văn học trung đại nhìn từ đóng góp của thể loại này về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật trên những phương diện cụ thể. Do nội dung đề tài quy định, trong quá trình nghiên cứu về thể loại truyền kì nhìn từ vị trí của nó trong tiến trình văn học, chúng tôi có so sánh thể loại này với văn học dân gian (mảng truyện dân gian) và văn học hiện đại (mảng truyện ngắn). Do hạn chế về tài liệu chúng tôi không có điều kiện nghiên cứu tất cả các truyện ngắn được xếp vào thể loại truyền kì. Hơn nữa, việc xác định những truyện ngắn nào là thật sự thuộc thể loại truyền kì không phải là một việc dễ dàng khi mà những tiêu chí để phân biệt thể loại này với các thể loại khác vẫn còn những phức tạp. Trong điều kiện của mình, chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại này qua những sáng tác truyền kì tiêu biểu trong văn học trung đại, những sáng tác đã được các nhà nghiên cứu văn học từ trước đến nay khẳng định là những tác phẩm truyền kì hoặc bản thân tên tác phẩm đã khẳng định là thuộc thể loại này, cụ thể là các tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Tân truyền kì lục và Lan Trì kiến văn lục. Tổng số lượng truyện ngắn truyền kì mà chúng tôi thu thập được qua các tuyển tập và các nguồn khác nhau để phục vụ cho đề tài này là 75 truyện trong đó Thánh Tông di thảo: 10 truyện (Hai Phật cãi nhau, Duyên lạ xứ Hoa, Chuyện lạ nhà thuyền chài, Người hành khất giàu, Chồng dê, Ngọc nữ về tay chân chủ, Hai thần hiếu để, Hai gái thần, Tinh chuột và Truyện Dòng dõi con thiềm thừ), Truyền kì mạn lục: 20 truyện (Nhà xuất bản Trẻ và Nhà xuất bản Hồng Bàng xuất bản 2011), Truyền kì tân phả: 4 truyện (An Ấp liệt nữ, Hải khẩu linh từ, Vân Cát 8 thần nữ, Bích Câu kì ngộ), Lan Trì kiến văn lục: 39 truyện (trong tuyển tập Truyện truyền kì Việt Nam, tập 2, NXB Giáo Dục Việt Nam xuất bản năm 2009), Tân truyền kì lục: 2 truyện (Ve sầu và Nhặng xanh, Con chó nhà nghèo có nghĩa). Ngoài ra, trong luận văn, người viết cũng đề cập đến những tác phẩm tuy chưa được gọi là truyền kì nhưng ít nhiều mang màu sắc của thể loại này xuất hiện trước hoặc sau khi thể loại này xuất hiện và cáo chung như Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh, Tam Tổ thực lục, Lĩnh Nam chích quái… và một số truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945, 1975 trở về sau. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng phối hợp những phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp loại hình: được dùng để xem xét các tác phẩm truyền kì đựa trên đặc điểm loại hình tự sự của văn học trung đại để từ đó thấy được đóng góp của thể loại này đối với sự phát triển về nội dung, hình thức nghệ thuật của văn xuôi tự sự trung đại. - Phương pháp thống kê: sử dụng phương pháp thống kê, chúng tôi khảo sát sự ảnh hưởng của văn học dân gian lên các sáng tác truyền kì nhằm chứng minh truyền kì là cầu nối giữa văn học dân gian với văn học viết; phương pháp này cũng được sử dung khi chúng tôi xem xét những đóng góp về nghệ thuật ngôn từ của truyền kì đối với văn xuôi tự sự trung đại. - Phương pháp miêu tả - so sánh: cùng với phương pháp thống kê, phương pháp này được sử dụng để xem xét vai trò của truyền kì như cầu nối giữa văn học dân gian và văn học viết, bên cạnh đó còn nhằm chứng minh truyền kì là một bước tiến của văn xuôi tự sự trung đại so với những tác phẩm xuất hiện trước đó. - Phương pháp phân tích – tổng hợp: trong quá trình hoàn thành luận văn, để làm rõ cho những nhận định của mình, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích những tác phẩm truyền kì cụ thể, từ đó cũng tổng hợp, khái quát lại trên cơ sở đã phân tích để có cái nhìn khách quan, chính xác. 9 5. Đóng góp của luận văn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tác phẩm truyền kì tiêu biểu như Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả hay Thánh Tông di thảo… nhưng hầu như chưa có công trình nghiên cứu bao quát về thể loại này mà chỉ có những công trình sưu tập, tuyển chọn các truyện truyền kì như bộ Tuyển tập truyện truyền kì Việt Nam gồm 3 quyển do Nguyễn Huệ Chi chủ biên chẳng hạn. Với luận văn này, người viết mong muốn góp một cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về thể loại này trong việc đánh giá giá trị nội dung, nghệ thuật của thể loại đối với sự phát triển của văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Hiểu thêm về vị trí của thể loại truyền kì sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu, phân tích từng tác phẩm cụ thể của thể loại, đồng thời hiểu thêm về lịch sử phát triển của văn học dân tộc, ảnh hưởng qua lại giữa các bộ phận văn học (văn học dân gian và văn học viết). Việc đi sâu tìm hiểu về vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình văn học để đi đến một số kết luận thỏa đáng nào đó là một dịp để người viết rèn luyện khả năng thao tác nghiên cứu khoa học, cũng là cơ hội để người viết mở rộng thêm kiến thức, khả năng cảm thụ, phân tích, bình giá văn chương của bản thân. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được tổ chức thành 3 chương. Ở chương 1, Khái lược về thể loại truyền kì, luận văn trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan đến thể loại như khái niệm truyền kì, đặc điểm của thể loại, các tác phẩm truyền kì tiêu biểu trong văn học Việt Nam và các giai đoạn phát triển của thể loại này. Trong chương 2, Truyền kì: cầu nối giữa văn học dân gian và văn học viết, người viết xem xét vị trí của truyền kì trong tiến trình văn học Việt Nam với vai trò là chiếc cầu nối của văn học dân gian và văn học viết. Qua đó, có thể thấy được sự ảnh hưởng và tiếp biến của văn học dân gian vào văn học viết thể hiện qua thể loại truyền kì. 10 Với chương 3, Truyền kì: thể loại đánh dấu sự phát triển của văn xuôi trung đại và ảnh hưởng đến cả văn học hiện đại, luận văn tiếp tục khẳng định vị trí của thể loại truyền kì trong tiến trình văn học Việt Nam khi xem xét thể loại này với tư cách là một thể loại đánh dấu sự phát triển của văn học trung đại và còn ảnh hưởng đến cả văn học thời hiện đại. 11 Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THỂ LOẠI TRUYỀN KÌ 1.1. Khái niệm thể loại Theo Từ điển Văn học, khái niệm truyền kì xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc vào thời nhà Đường trong tên gọi thể loại tiểu thuyết truyền kì. Tiểu thuyết truyền kì kế thừa những nhân tố của loại truyện chí quái thời Lục triều. Tiểu thuyết truyền kì là thể văn tự sự cổ điển của Trung Quốc, có nguồn gốc từ truyện dân gian, sử dụng những yếu tố hoang đường, kì ảo để phản ánh hiện thực cuộc sống. Những yếu tố hoang đường kì ảo này không phải là dạng nhân vật Bụt, tiên với vai trò là nhân vật chức năng như trong truyện cổ tích thần kì, cũng không phải là lực lượng tự nhiên được nhân hóa như trong truyện thần thoại. Sự tham gia của yếu tố thần kì, hoang đường trong tiểu thuyết truyền kì phần lớn ở trong hình thức “phi nhân tính” của các nhân vật. Đó là dạng nhân vật ma, quỷ, hồ li, vật hóa người. Truyện bao giờ cũng có nhân vật là người thật và những nhân vật như ma quỷ, yêu quái… cũng là sự cách điệu, phóng đại tâm lí, ẩn dụ cho một loại người nào đó trong xã hội hiện thực. Theo tác giả Đoàn Lê Giang, chữ “kì” trong “truyền kì” trong những tác phẩm Truyền kì của Bùi Hình, Đường Tống truyền kì (Lỗ Tấn) không có nghĩa là kì ảo, kì dị mà phải hiểu như một quan niệm văn học, một phương pháp sáng tác; quan niệm này xem trọng cái “lạ” trong sáng tác. Điều đó giúp chúng ta lí giải vì sao một số truyện dù được gọi là “truyền kì” nhưng lại hiếm hoi hoặc thậm chí không có yếu tố hoang đường, kì ảo như những truyện Oanh Oanh truyện, Liễu Thị truyện (Trung Quốc) hay những truyện trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh (Việt Nam). Trong luận văn này, chúng tôi hiểu “kì” trong “truyền kì” theo cả hai nghĩa trên. Tuy gọi là tiểu thuyết nhưng tiểu thuyết truyền kì có dung lượng ngắn, tuy nhiên không phải sự thu ngắn của kiểu truyện dài. Tiểu thuyết truyền kì phần nào mang dáng dấp của thể loại truyện ngắn cận – hiện đại. 12 Trong văn học Trung Quốc, hai chữ “truyền kì” được khai sinh vào thời vãn Đường với một tập sách của Bùi Hình, nhưng thể loại truyền kì đã được xác lập từ thời sơ Đường với các truyện Cổ kính kí (Vương Độ (?) ), Bổ Giang tổng Bạch Viên truyện (không rõ tác giả), Du tiên quật (Trương Thốc). Còn trong văn học Việt Nam, có thể nói tên gọi truyền kì chính thức xuất hiện lần đầu trong văn học viết vào thế kỉ XVI với tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Tuy nhiên, những đặc điểm của thể loại truyền kì đã xuất hiện khá rõ nét từ Thánh Tông di thảo (thế kỉ XV) và nhạt hơn trong một số tác phẩm trước đó như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh… Thậm chí, theo Vũ Thanh, truyện kì ảo của Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỉ XIII với truyện Ứng Minh trì dị sự (Chuyện lạ ở ao Ứng Minh) [52,739]. Như vậy, có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam, thể loại truyền kì đã manh nha xuất hiện từ buổi đầu của văn học viết trong những tác phẩm ghi chép các truyện kì lạ được lưu truyền trong dân gian như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh sau đó phát triển mạnh và đạt đến đỉnh cao với những sáng tác như Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục; đặc biệt là với Truyền kì mạn lục, thể loại truyện truyền kì Việt Nam đã đạt được thành tựu rực rỡ, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Có thể nói, truyện truyền kì Việt Nam có nguồn gốc từ truyền kì của Trung Quốc nhưng có một quá trình hình thành, phát triển nội sinh, gắn liền với nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa dân gian và văn xuôi lịch sử. Trong quá trình phát triển của mình, truyền kì Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học các nước trong khu vực Đông Á (như Triều Tiên, Nhật Bản) và đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển chung của thể loại này trong văn học khu vực thời trung đại. 1.2. Đặc trưng của thể loại truyền kì 1.2.1. Đặc trưng về nội dung Truyền kì là một thể loại giàu giá trị phản ánh hiện thực. Dù thế giới trong truyền kì là một thế giới hoang đường, kì ảo nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó là hiện thực lịch sử, xã hội cùng với những số phận con người trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể. 13 Đó có thể là một xã hội đầy biến động, rối ren, loạn lạc với giặc giã, trộm cướp, với những cuộc nội chiến trong Truyền kì mạn lục hay Lan Trì kiến văn lục. Trong hai mươi truyện của Truyền kì mạn lục, có những truyện vẽ nên hình ảnh một đất nước “binh biến rối ren” (Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu), “người chết chóc nhiều, những oan hồn không có chỗ tựa nương thường họp lại thành từng đoàn, từng lũ” (Chuyện tướng Dạ Xoa). Lan Trì kiến văn lục cũng ghi lại một thời kì “giặc cướp nổi lên như ong, lại thêm mất mùa, dịch bệnh” (Dốc Lôi Thủ). Xã hội phong kiến trong các sáng tác truyền kì là một xã hội nhiều tệ lậu với những hôn quân, những quan tham lại nhũng bè phái nhau hãm hại dân lành. Những tên vua quan đó có khi được miêu tả trực tiếp, có khi được ẩn dụ gián tiếp qua hình ảnh quỷ thần hoặc loài vật. Đọc Truyền kì mạn lục, ta thấy hình ảnh những vị vua nhà Lê thời suy vong (Lê Uy Mục, Lê Tương Dực) qua hình ảnh của vua Hồ Hán Thươnng trong Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na. Hiện lên trong truyện ngắn này là một vị vua “dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim Âu, dốc cạn kho của để mở phố Hoa Nhai, phao phí gấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình ngục có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được, kẻ dâng lời ngay bị giết, kẻ nói điều nịnh thì được thưởng, lòng dân động lay…” [11,tr.176]. Trong khi đó, quan lại khi quyền cao lộc hậu thì tham của đút lót, “kêu xin chạy chọt lúc nào cũng rộn rịp những người ra vào, vàng bạc châu báu trong nhà chồng chất đầy rẫy”, nhờ đó mà ăn chơi xa hoa “khoản đãi khách khứa mỗi ngày tốn phí đến hàng chuông thóc” [11,tr.199] Không những thế, như Lý Hữu Chi trong Chuyện Lý tướng quân lại còn “dựa lũ trộm cướp coi như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho ruộng đất, đi kiếm những kì hoa đá lạ từ bên huyện khác đem về…” [11,tr.226] Truyện tuy khẳng định đó là vào thời vua Giản Định Đế thời Hậu Trần nhưng thực tế hẳn không xa lạ với xã hội thế kỉ XVI của Nguyễn Dữ. Trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào, Nguyễn Dữ mượn lời Tử Hư đã vẽ nên bộ mặt triều đình 14 phong kiến mục ruỗng thời bấy giờ với những tên quan lại chỉ là bọn sâu dân hại nước: “ông mỗ ở ngôi trọng thần mà tham lam không chán, ông mỗ làm chức sư tư mà mô phạm không đủ, ông mỗ coi lễ mà lễ nhiều thiếu thốn, ông mỗ chăn dân mà dân nhiều tai hại, ông mỗ chấm văn mà lấy đỗ thiên vị, ông mỗ trị ngục mà buộc tội oan uổng; lại còn những người lúc thường bàn nói thi môi mép bẻo lẻo, đến lúc trù tính, quyết định kế lớn của quốc gia thì mờ mịt như ngồi trong đám mây mù, thậm chí không nói theo danh, không xét theo thực, không trung với đấng quân thượng, lớn thì làm việc bán nước như Lưu Dự, nhỏ thì làm việc dối vua của Diên Linh.”[11,tr.145] Có khi các tác giả truyện truyền kì mượn hình ảnh của quỷ thần, loài vật để ẩn dụ cho bọn quan lại phong kiến thời bấy giờ. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, hình ảnh “các đền miếu gần quanh đều ăn của đút lót” của hồn ma Bách hộ họ Thôi mà bao che cho hắn, để hắn mặc sức hưng yêu tác quái và lời thổ thần nước Việt vì vậy không thông đạt được lên trên phải chăng là hình ảnh bọn vua quan phong kiến trên cõi trần thời Nguyễn Dữ sống, những tên quan lại bè phái nhau hãm hại dân lành? Đọc Tân truyền kì lục của Phạm Quý Thích, ta thích thú với hình ảnh Nhặng xanh và Ve sầu (truyện Ve sầu và Nhặng xanh). Cuộc đối đáp của hai côn trùng này vẽ nên tích cách của hai loại người. Ve sầu tượng trưng cho nhà Nho quân tử giàu lòng tự trọng, trong khi đó Nhặng xanh là hình ảnh của bọn mọt nước sâu dân, không chút tự trọng, liêm sỉ, chỉ cần biết vơ vét cho túi tham của mình. Trong hoàn cảnh xã hội như vậy, cuộc sống của nhân dân muôn phần khổ sở. Quyền sống của con người không được trân trọng, hạnh phúc bị chà đạp, đặc biệt người phụ nữ phải chịu nhiều bất hạnh hơn cả. Người dân sống dưới ách cai trị của những vua quan như vậy hẳn nhiên chịu cực khổ trăm bề, phải “phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều tai sưng vai rách, rất là khổ sở…” [11,tr.226]. Có những gia đình nghèo khó đến nỗi chẳng có tiền làm ma khi người thân qua đời, phải bán vợ đợ con, như trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang (Truyền kì mạn lục), người mẹ vì không tiền để đưa ma chồng về quê đã bán người con gái nhỏ cho một nhà phú thương. Những người phụ nữ trong xã hội ấy, 15 dù đoan chính, dịu hiền, mẫu mực như Vũ Nương (Chuyện người thiếu phụ Nam Xương – Truyền kì mạn lục), Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu – Truyền kì mạn lục) hay táo bạo, phá phách như Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu) thì cũng đều chịu kết cục đau đớn, hoặc bị nghi oan đến phải trầm mình (Vũ Nương), hoặc bị biến thành vật gán nợ thua bạc (Nhị Khanh) hoặc bị cướp về làm thê thiếp (Túy Tiêu), hoặc bị ép uổng không lấy được người mình yêu để đến nỗi đau buồn mà mất (Chuyện tình ở Thanh Trì – Lan Trì kiến văn lục). Xã hội đó cũng là một xã hội đầy những kẻ bất nhân với những nho sĩ lừa thầy phản bạn, kẻ phú thương hay quan lại cậy tiền của cướp vợ người. Đây là lời của Dương Trạm, nhận xét về những người “mặc áo nhà nho” thời nhà Trần, mà có lẽ không khác thời nhà Lê lúc Nguyễn Dữ sống là mấy: “Ngày nay những người mặc áo nhà nho, đeo dải nhả nho thì lại khác hẳn. Họ thường đổi họ để đi học, thay tên để đi thi; hễ trượt thì đổ lỗi mờ quáng cho quan chấm trường, hơi thành danh thì hợm mình tài giỏi hơn cả tiền bối, chí khí ngông ngạo tính tình tráo trở, thấy thầy nghèo thì lãng tránh, gặp bạn nghèo thì làm ngơ, không biết rằng ngày thường dẫn dắt rèn cặp phần nhiều là công đức của thầy bạn. Vả như ta ngày xưa, dạy có đến mấy nghìn học trò, giao du ở kinh đô có rất nhiều bè bạn thế mà sau ta mất, nghe có người đai vàng, mũ bạc, có người quan cả, ngôi cao nhưng không hề một ai tìm đến thăm viếng mồ ta mà tưới lên một vài chén rượu.” [11,tr.144] Trong Chuyện nàng Túy Tiêu, Túy Tiêu dù đã là vợ của Nhuận Chi, nhưng vẫn bị quan Trụ quốc họ Thân bắt cướp mang về làm của mình, dù Nhuận Chi làm đơn kiện tận triều đình nhưng vì họ Thân uy thế rất lớn nên các tòa các gác đều không dám xét xử. Như vậy, kẻ bất nhân lại được triều đình phong kiến dung túng, mặc sức làm càn. Hay như Đỗ Tam trong Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu, vì ham vợ đẹp củaTrọng Quỳ nên lấy lợi dử chàng, bày trò đánh bạc mà vật đặt cược lại là Nhị Khanh, vợ Trọng Quỳ, nhân đó mà lấy được Nhị Khanh, đến nỗi nàng đau lòng phẫn uất mà thắt cổ chết. Trong Tân truyền kì lục, với truyện Con chó nhà nghèo có nghĩa, Phạm Quý Thích một mặt ca ngợi những con người sống ân nghĩa qua hình ảnh chú chó Hàn 16 Lư, mặt khác ngầm phê phán những kẻ bất nhân, đổi mặt thay lòng, không bằng một con vật. Ví như người chủ nhà họ Nguyễn, vì chê cung cách thầy đồ Đào Cảnh Long hèn kém nên đối xử bạc bẽo, dù đó là thầy dạy học ở nhà mình; hay như người nhà giàu họ Trương, vì thấy chú chó Hàn Lư là con vật kì lạ, muốn lôi kéo về với mình mà bảo Hàn Lư bỏ nghèo theo giàu, bỏ người chủ hiện thời mà theo hắn và bị Hàn Lư đáp trả thông minh, đầy tình nghĩa khiến phải sững sờ. Đọc Lan Trì kiến văn lục, ta đau lòng khi thấy có kẻ vì ham vợ kế đẹp đẽ mà nỡ giết con, mang con vào rừng cho hổ dữ ăn thịt; có người chồng một phút ghen tuông mà giết vợ; có người anh tham lam chiếm hết gia tài… Đó là hình ảnh hiện thực xã hội phong kiến trong thời kì suy tàn. Không chỉ giàu giá trị hiện thực, những sáng tác thuộc thể loại truyền kì còn đầy giá trị nhân đạo và đậm chất nhân văn. Các tác phẩm truyền kì ca ngợi tài năng và phẩm chất tốt đẹp của con người, thể hiện niềm cảm thương sâu sắc của các tác giả với những số phận bất hạnh, từ đó lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người bị chà đạp trong xã hội xưa; đồng thời cũng đồng cảm với những khát vọng chân chính của con người như khát vọng khẳng định mình, khát vọng tình yêu, hạnh phúc. Đọc truyện truyền kì, từ Truyền kì mạn lục đến Truyền kì tân phả, Lan Trì kiến văn lục…, ta đều có thể bắt gặp những nhân cách cao thượng đáng quý, những con người vì dân trừ hại, đặc biệt là những người phụ nữ tài sắc, tiết nghĩa, thủy chung. Đọc Truyền kì mạn lục , ta sẽ gặp những con người chọn cách sống nghèo khó mà thanh bạch, không chấp nhận vào luồn ra cúi, công hầu giàu sang mà hại dân, hại nước. Họ không màng đến bổng lộc triều đình, nếu đó là một triều đình mục ruỗng, thối nát. Tiêu biểu cho hình tượng này là nhân vật người tiều phu trong Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na. Khi được Trương Công, quan hầu của Hồ Hán Thương mời về triều, đã mỉm cười trả lời: “Ta là kẻ ẩn dật trốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh nhai trong búa gió rìu trăng, ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chân khách tục, bạn cùng ta là hươu nai tôm cá, quẩn bên là tuyết nguyệt phong hoa, chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà
- Xem thêm -