Vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên việt nam hiện nay thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 53 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, trước tác động của suy giảm kinh tế thế giới, lạm phát và giá cả các mặt hàng sinh hoạt thiết yếu tăng cao, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp và các tiêu cực xã hội đã ảnh hưởng rất lớn tới đời sống, sinh hoạt và tư tưởng của thanh niên, đặc biệt là thanh niên công nhân, nhóm đối tượng chịu tác động nhiều nhất của suy giảm kinh tế. Một bộ phận thanh thiếu niên chưa có ý chí phấn đấu vươn lên, thụ động, ý thức trách nhiệm bản thân còn hạn chế, ngại khó, ngại khổ; quan niệm về giá trị đạo đức còn lệch lạc, lối sống buông thả, vị kỷ, thực dụng, thiếu trách nhiệm. Đặc biệt, cơ chế kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã tác động không nhỏ lên tình trạng ngày càng gia tăng tội phạm trong thanh thiếu niên, đặc biệt là người chưa thành niên. Hiện nay, số lượng trẻ vị thành niên phạm pháp đang tăng theo xu hướng trẻ hóa và mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt có một bộ phận thanh thiếu niên đã tham gia vào các băng nhóm tội phạm có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính chất côn đồ hung hãn; thực hiện các hành vi giết người, cướp của, chống người thi hành công vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng. Đây đã và đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội. Tình hình vi phạm pháp luật do thanh thiếu niên thực hiện đã gióng lên “hồi chuông” báo động khiến cho toàn xã hội không khỏi lo lắng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội mà còn làm xấu đi truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam ta. Đứng trước thực trạng đó tòa xã hội có trách nhiệm to lớn trong việc chăm sóc, bảo vệ và phòng, chống thanh thiếu niên vi phạm pháp luật. Việc nhìn nhận vào thực trạng vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên ở nước ta trong những năm gần đây có ý nghĩa to lớn để chúng ta đưa ra những giải pháp hiệu quả trong công tác phòng, chống vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên Việt Nam trong thời gian tới. Chính vì những lý do trên em đã chọn đề tài: “” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu: Những năm vừa qua, việc nghiên cứu về vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức. Hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào có quy mô lớn về vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở một nhóm đối tượng thanh thiếu niên là người chưa thành niên và đa số dưới góc độ Luật hình sự và Luật hành chính. Có thể kể đến các công trình như: Phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội – Vũ Đức Khiển, Bùi Hữu Hùng, Phạm Xuân Chiến, Đỗ Văn Hán, Trần Phàn, Nxb Pháp lý; Hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đấu tranh với hành vi phạm tội của người chưa thành niên – Nguyễn Văn Tuấn, Luận văn thạc sĩ năm 1996; Xử lý vi phạm hành chính người chưa thành niên – Nguyễn Thị Thu Thủy, Khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2000; Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên – Nguyễn Ngọc Bích, Luận văn thạc sĩ năm 2003… Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong việc nêu lên thực trạng vi phạm pháp luật hiệu của một nhóm đối tượng thanh thiếu niên, đưa ra những dự báo, phương hướng và giải pháp hữu hiệu trong công tác phòng chống vi phạm pháp luật ở nhóm đối tượng này. Tuy nhiên việc nghiên cứu về vi phạm pháp luật của một nhóm đối tượng khá rộng là “thanh thiếu niên” thì cho tới nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, mặc dù đây là thế hệ được xã hội rất quan tâm trong thời gian qua. 3. Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu:  Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu đề tài là nêu lên thực trạng vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên Việt Nam trong thời gian gần đây. Trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân cũng như đề xuất một số giải pháp có hiệu quả nhằm hạn chế những vi phạm này.  Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi của một Khóa luận tốt nghiệp đại học, em sẽ tập trung nghiên cứu về thực trạng vi phạm pháp luật (mà chủ yếu là vi phạm hình sự và vi phạm hành chính) của thanh thiếu niên ở nước ta trong thời gian gần đây và đề xuất một số giải pháp để kiềm chế vi phạm pháp luật do thanh thiếu niên gây ra.  Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra bao gồm: - Nêu lên thực trạng vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên ở Việt Nam hiện nay; - Tìm hiểu những nguyên nhân phát sinh vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên ở Việt Nam trong những năm gần đây; - Đề xuất một số giải pháp nhằm kiềm chế những vi phạm pháp luật nói trên. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài “…” được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: so sánh, phân tích, thống kê số liệu kết hợp với phương pháp tổng hợp để làm rõ mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài. 5. Kết cấu của khóa luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khỏa, luận văn có kết cấu gồm 3 chương: CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA THANH THIẾU NIÊN Ở VIỆT NAM CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA THANH THIẾU NIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA THANH THIẾU NIÊN Ở VIỆT NAM 1.1. Thanh thiếu niên và khái niệm vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên: 1.1.1. Thanh thiếu niên: Thiếu niên thường được xác định trong khoảng từ 10 đến 16 tuổi, là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành. Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học, xã hội và tâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là dễ nhận thấy nhất. Sự kết thúc của tuổi thiếu niên là sự bắt đầu của một giai đoạn phát triển mới, được gọi là thanh niên. Trong ngôn ngữ đời thường, trong các văn bản pháp lý cũng như trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và nước ngoài hiện nay đều trước hết chia sẻ hai điểm chung sau đây: thứ nhất, đều công nhận có sự tồn tại khách quan của một giai đoạn trong cuộc đời con người được quan niệm đó là “độ tuổi thanh niên” và thứ hai, đều cho rằng “độ tuổi thanh niên” là độ tuổi nằm ở giữa “tuổi trẻ em và tuổi người lớn”. Cho đến nay các trường phái nghiên cứu về thanh niên đều nhất trí với nhau ở một điểm khi định nghĩa khái niệm “thanh niên” với ý nghĩa là một nhóm xã hội – dân cư đó là: Thanh niên là một nhóm xã hội – dân cư bao gồm tất cả những thành viên trong một xã hội cụ thể đang ở trong độ tuổi thanh niên. Như vậy, bộ phận dân cư được gọi là “thanh niên” này chỉ phân biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác của quốc gia – dân tộc ấy trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi. “Độ tuổi thanh niên” là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời của mỗi con người, nằm giữa độ tuổi trẻ em và độ tuổi người lớn. Đó là khoảng thời gian con người trải qua giai đoạn quá độ, hoàn thiện dần bản thân cả về thể chất và tinh thần, cả vầ sinh lý, tâm lý, tri thức, đạo đức và nhân cách để trở thành thành viên trưởng thành của xã hội. Trên thế giới, các nước cũng có quy định về độ tuổi thanh niên khác nhau:nhiều nước quy định từ 18 đến 24 tuổi hoặc 15 - 24 tuổi, một số nước quy định từ 15 - 30 tuổi, có nước quy định tuổi "trần" của thanh niên là 29 tuổi (Trung Quốc) hoặc 35 tuổi (Bangladesh), thậm chí tới 40 tuổi (Malaysia). Như vậy có thể thấy rằng độ tuổi thanh niên còn được quy định rất khác nhau giữa các nước trên thế giới. Theo Điều 1, Luật Thanh niên 2005: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Như vậy có thể thấy thanh niên hầu hết là những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường ở lớp 11, lớp 12, là học viên các trường trung cấp, các trường dạy nghề, là sinh viên cao đẳng, đại học, cao học, những người trong độ tuổi từ 16 đến 30 sinh sống, làm việc tự do.  Đặc điểm phát triển của thanh thiếu niên: Thứ nhất, đây là giai đoạn có nhiều thay đổi về tâm sinh lý. Khi bước vào độ tuổi thiếu niên thì đa số mọi người trong độ tuổi này đều có những thay đổi về sinh lý, xã hội và tâm lý. Về mặt sinh lý, trong giai đoạn này các em bắt đầu có những thay đổi mạnh mẽ của các tuyến nội tiết. Sự phát triển nhanh của các tuyến nội tiết này khiến các em dễ mất cân bằng và có các biểu hiện cảm xúc buồn vui vô cớ, khả năng kiểm soát bản thân chưa tốt… Bên cạnh đó, sự phát triển mang tính nhảy vọt về chiều cao do hệ xương phát triển nhanh trong khi hệ cơ chưa theo kịp nên các em hay lóng ngóng, vụng về, dễ làm đổ vỡ đồ vật, dù về chiều cao, các em đã gần ngang bằng với người trưởng thành. Ngoài ra, quá trình phát dục ở độ tuổi thiếu niên cũng diễn ra mạnh mẽ, cùng với quá trình đó các em đã bắt đầu quan tâm đến những người bạn khác giới, các em có biểu hiện ngượng ngùng, để ý tới hình ảnh bản thân và bạn bè nhiều hơn. Về mặt xã hội, trong giai đoạn này, các em bắt đầu có mối quan hệ bạn bè mở rộng hơn. Xuất hiện những nhóm bạn và những người bạn thân có thể sẽ gắn bó, chia sẻ với nhau trong suốt quãng đời sau này. Sau thời kỳ dậy thì, bắt đầu vào độ tuổi thanh niên các bạn dù ở giới nào (nam hay nữ) đều cảm nhận rõ ràng hơn bao giờ hết về giới tính của mình. Từ đó, nhu cầu được thể hiện và được khẳng định trước những người bạn khác giới rất mạnh. Bắt đầu lứa tuổi này, sự rung động đầu đời về tình yêu đôi lứa cũng xuất hiện khá phổ biến. Sau đó bước hẳn vào độ tuổi thanh niên tình yêu có thể nói là điều không thể thiếu trong lứa tuổi này. Trước đó, ở lứa tuổi thiếu niên, ở các em mới nảy sinh nhu cầu có bạn khác giới, ở một sổ em có những cảm xúc mới mẻ như quý mến bạn khác giới, nhưng cảm xúc đó dễ mất đi nếu nó gặp những cản trở của điều kiện khách quan như bị đối tượng từ chối, bị bạn bè trêu chọc, cha mẹ, thầy cô để ý. Thứ hai, đây là giai đoạn hình thành nhân cách. Từ những thay đổi về tâm sinh lý nêu trên, khiến thanh thiếu niên cảm nhận rất rõ mình không còn là trẻ con nữa, nguyện vọng được mọi người đối xử với mình như người lớn thực sự trở nên mạnh mẽ. Ở độ tuổi này “cái tôi” của các bạn dần được hình thành và thể hiện, đa số các bạn tự đánh giá bản thân rất cao, cao hơn nhiều so với thực tế. Thanh thiếu niên thường muốn chứng minh mình là người lớn (được độc lập, không chịu sự kiểm soát của bố mẹ trong nhiều phương diện: thời gian đi về, cách ăn mặc, sử dụng tiền tiêu vặt…), được tôn trọng như người lớn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy thanh niên còn nhiều hạn chế so với “tiêu chuẩn” của một người lớn thực sự, vì ở độ tuổi này thanh niên còn phụ thuộc vào cha mẹ, ít trải nghiệm cuộc sống, ít hiểu biết và kinh nghiệm xã hội, khả năng làm chủ, tự chịu trách nhiệm chưa cao. Vì thế, cha mẹ và những người thân trong gia đình vẫn đối xử với các em như những người chưa trưởng thành. Từ đó, rất dễ nảy sinh mâu thuẫn trong giao tiếp, ứng xử giữa thanh thiếu niên với thế hệ đi trước. Khi lòng tự trọng của các em bị tổn thương, các em thường tỏ ra bất cần, ngang bướng, suy nghĩ và hành động theo ý chí chủ quan của mình. Chính vì vậy rất dễ bị người khác lôi kéo, dụ dỗ, xúi giục. Trong khi đó họ lại không tự đánh giá được bản thân mình và các mối quan hệ phức tạp, hành động theo sở thích không nhận thấy tính chất nguy hiểm của các hành vi mà mình thực hiện. Trên đây là một số đặc trưng tâm lý của lứa tuổi thanh niên, một giai đoạn chứa đựng nhiều khó khăn thử thách trong cuộc đời của mỗi người. Qua đó thấy rằng, những đặc trưng tâm lý của lứa tuổi này có tác động rất lớn đến hành vi, ứng xử của thanh niên trong giai đoạn này. Nếu nắm được những đặc trưng tâm lý chi phối hành vi, ứng xử của thanh thiếu niên, thì khi chúng ta cần xem xét, đánh giá hành vi của thanh thiếu niên sẽ có cơ sở nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, khoa học hơn, từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục, ngăn ngừa cũng như những biện pháp xử lý một cách hiệu quả, có ích cho xã hội, nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển tiếp theo của thanh niên. 1.1.2. Khái niệm vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên: 1.1.2.1. Định nghĩa: Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường đại học Luật Hà Nội: “Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”. Trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào, vi phạm pháp luật đều bị coi là hành vi bất hợp pháp, nên về nguyên tắc chủ thể của hành vi ấy phải chịu trách nhiệm pháp lý. Về mặt khoa học, ta thấy, thanh thiếu niên là người chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất và tâm sinh lý, nhận thức của họ thường non nớt, thiếu chin chắn trong suy nghĩ, bồng bột trong hành động. Do vậy, các em dễ bị kích động, lôi kéo, cuốn hút bởi những người xung quanh. Nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc, giáo dục chu đáo, thanh thiếu niên dễ bị tiêm nhiễm các thói hư tật xấu dẫn đến phạm pháp. Vì thế, rất cần sự định hướng đúng đắn từ phía gia đình, nhà trường và xã hội. Để hiểu rõ hơn về vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên, cần xem xét các dẫu hiệu đặc trưng của nó. 1.1.2.2. Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật do thanh thiếu niên thực hiện: Từ định nghĩa về vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên, có thể nêu lên những đặc trưng cơ bản của nó như sau:  Thứ nhất, vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên là hành vi xác định hay xử sự thực tế của thanh thiếu niên, thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Các Mác đã nhấn mạnh: “Ngoài hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn khồn tồn tại với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó”. Có thể thấy, pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của con người nếu như chúng không biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ. Vì thế, suy nghĩ, những đặc tính cá nhân khác của con người và cả sự biến cho dù có nguy hiểm cho xã hội cũng không liên quan đến vi phạm pháp luật. Do đó, vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên trước hết phải là hành vi được xác định cụ thể. Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (ví dụ như thanh thiếu niên thực hiện hành vi đánh bạc, trộm cắp…) hoặc bằng không hành động (ví dụ như thanh thiếu niên không đội mũ bảo hiểm khi di xe máy, hay thanh thiếu niên không tố tác hành vi vi phạm pháp luật…).  Thứ hai, vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên là hành vi trái pháp luật xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên không những là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó còn phải trái với pháp luật. Hành vi trái pháp luật của thanh thiếu niên là hành vi được thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật. Tính trái pháp luật của những hành vi này được thể hiện dưới các hình thức như: thứ nhất, không làm những việc mà pháp luật yêu cầu, ví dụ: thanh thiếu niên đi xe máy không đội mũ bảo hiểm; thứ hai, hành vi vượt quá sự cho phép của pháp luật, ví dụ: thanh thiếu niên điều khiển xe máy chạy quá tốc độ cho phép... thứ ba, làm những việc mà pháp luật cấm, ví dụ: thanh thiếu niên điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi; đua xe, tổ chức đua xe trái phép... Những hành vi hợp pháp hay hành vi trái với các quy định của các tổ chức xã hội, trái với tập quán, đạo đước, tôn giáo… mà không trái pháp luật thì không liên quan đến vi phạm pháp luật. Hành vi trái pháp luật của thanh thiếu niên ở những mức độ khác nhau đều xâm hại đến những quan hệ xã hội mà mỗi nhà nước xác lập và bảo vệ. Một cách khái quát, những gì mà pháp luật không cấm, không xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái, có xâm phạm cũng không bị coi là vi phạm pháp luật. Như vậy, tính trái pháp luật là dấu hiệu không thể thiếu của hành vi bị coi là vi phạm pháp luật.  Thứ ba, vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể. Lỗi là trạng thái tâm lý, thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hậu quả hành vi trái pháp luật của mình và đối với với hành vi trái pháp luật ấy ở thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật. Lỗi đặt ra trong điều kiện một người có khả năng lựa chọn một cách xử sự vừa thỏa mãn nhu cầu của bản thân vừa phù hợp với yêu cầu của pháp luật nhưng người đó đã lựa chọn xử sự trái pháp luật. Ví dụ như học sinh có một khoảng thời gian ôn tập trước khi thi nhưng đã không làm điều đó mà đợi đến khi thi lại sử dụng tài liệu. Như vậy, học sinh này có điều kiện lựa chọn xử sự để vừa được điểm cao vừa không vi phạm quy chế thi (ôn thi) nhưng đã lựa chọn xử sự trái với quy định (quay cóp) nên bị coi là có lỗi. Có thể nói mọi vi phạm pháp luật do thanh thiếu niên thực hiện đều là những hành vi trái pháp luật, nhưng không phải tất cả các hành vi trái pháp luật của thanh thiếu niên đều là những vi phạm pháp luật, mà chỉ những hành vi trái pháp luật nào được thanh thiếu niên thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý (tức là có lỗi của thanh thiếu niên) mới được coi là vi phạm pháp luật. Nếu thanh thiếu niên thực hiện những hành vi trái pháp luật do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan mà không cố ý và cũng không vô ý hoặc không thể nhận thức được, từ đó không thể lựa chọn hoặc điều khiển được hành vi của mình theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể thực hiện hành vi đó không bị coi là có lỗi và hành vi đó không phải là vi phạm pháp luật. Vì vậy, lỗi là dấu hiệu không thể thiếu để xác định vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên.  Thứ tư, vi phạm pháp luật là hành vi của thanh thiếu niên có năng lực trách nhiệm pháp lý. Chủ thể vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên phải là người có năng lực trách nhiệm pháp lý. Năng lực trách nhiệm pháp lý của thanh thiếu niên là khả năng mà pháp luật quy định cho họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình. Theo quy định của pháp luật,thanh thiếu niên sẽ có năng lực trách nhiệm pháp lý khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường. Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép thanh thiếu niên nhận thức được hành vi của mình, hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội và có khả năng điều khiển được hành vi nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Hai yếu tố này quan hệ thống nhất với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố sẽ không đủ điều kiện để kết luận về năng lực trách nhiệm pháp lý của một người nào đó. Thanh thiếu niên mắc bệnh tâm thần nhưng đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý theo luật định hoặc thanh thiếu niên chưa đến tuổi chịu trách nhiệm pháp lý theo luật định nhưng có sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần mà có hành vi trái pháp luật thì họ không được coi là những người có năng lực trách nhiệm pháp lý. 1.2. Các loại vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên: Khi nói đến vi phạm pháp luật hầu hết mọi người đều nghĩ đến tội phạm (vi phạm hình sự), tuy nhiên hiện tượng vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên trong xã hội rất phong phú. Thông thường, dưới góc độ lý luận chung có thể chia vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên thành các loại cơ bản sau: vi phạm kỷ luật học tập, lao động; vi phạm hành chính; vi phạm dân sự; vi phạm hình sự (tội phạm). 1.2.1. Vi phạm kỷ luật học tập, lao động: Thanh thiếu niên là đối tượng đang là học sinh, sinh viên hoặc đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức. Do đó, khi thanh thiếu niên thực hiện những hành vi có lỗi, trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ một công ty, xí nghiệp, trường học (tức là vi phạm kỷ luật) thì họ có thể bị xử lý kỷ luật theo nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức đó. Ví dụ: thanh thiếu niên là học sinh khi đi học không mặc đồng phục theo quy định hoặc có các hành vi không tôn trọng thầy cô, thanh thiếu niên là nhân viên của một xí nghiệp nhưng không tuân thủ những quy định về an toàn lao động… 1.2.2. Vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân (có năng lực trách nhiệm hành chính), tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Do đó, vi phạm hành chính của thanh thiếu niên là hành vi có lỗi của thanh thiếu niên có năng lực trách nhiệm hành chính vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không bị coi là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải xử phạt hành chính. Tuy nhiên, thanh thiếu niên có một giới hạn độ tuổi khá rộng, từ 10 đến 30 tuổi, trong đó bao gồm nhóm thanh thiếu niên chưa đến tuổi vị thành niên nên khi xác định vi phạm hành chính cũng như xử phạt hành chính đối với thanh thiếu niên cần lưu ý đến điều này. Khoản 1 Điều 6 PLXLVPHC năm 2002 (sửa đổi năm 2008) quy định: “Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra”. Như vậy, thanh thiếu niên dưới 14 tuổi là người chưa có năng lực hành chính nên sẽ không phải chịu trách nhiệm hành chính. Thanh thiếu niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là người có năng lực trách nhiệm hành chính chưa đầy đủ, sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính về vi phạm hành chính được thực hiện với lỗi cố ý. Thanh thiếu niên từ đủ 16 tuổi trở lên được xác định là có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính đối với mọi vi phạm hành chính mà họ gây ra. Việc xử lý vi phạm hành chính đối với thanh thiếu niên ở nhóm tuổi chưa thành niên được quy định tại Điều 7 PLVPHC năm 2002 (sử đổi năm 2008) như sau: “Người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụng hình thức xừ phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 12 của pháp lệnh này. Khi phạt tiền đối với họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên; trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay”. Thanh thiếu niên từ đủ 18 tuổi sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh mà không có bất kỳ hạn chế nào. 1.2.3. Vi phạm dân sự: Vi phạm dân sự của thanh thiếu niên là hành vi trái pháp luật và có lỗi của thanh thiếu niên có năng lực trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Cũng như việc xác định vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đối với thanh thiếu niên, việc xác định vi phạm dân sự của thanh thiếu niên phải căn cứ vào độ tuổi của họ. Theo khoản 2, khoản 3 Điều 606 BLDS năm 2005 thì năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thanh thiếu niên là người chưa thành niên khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật dân sự được xác định như sau: “2. Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản cha mẹ không đủ để bổi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bổi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bổi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. 3.Người chư thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tại sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”. 1.2.4. Vi phạm hình sự (tội phạm): Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Trách nhiệm hình sự của thanh thiếu niên được quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999 sửa đổi năm 2009 như sau: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”. Như vậy, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí cũng như khả năng nhận thức của thanh thiếu niên, pháp luật quy định trách nhiệm hình sự của thanh thiếu niên ở các nhóm tuổi khác nhau là không giống nhau. Thanh thiếu niên là người dưới 14 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, nói cách khách họ là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự. Thanh thiếu niên từ đủ 14 tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội phạm. Ngoài ra, thanh thiếu niên là người chưa thành niên là nhóm đối tượng đặc biệt, chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cũng như khả năng nhận thức nên BLHS đã có những quy định riêng áp dụng đối với người chưa thành niên tại Chương X của Bộ luật. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY. Thanh thiếu niên vi phạm pháp luật là một vấn đề xã hội tồn tại ở mọi quốc gia. Ở nước ta, công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và phạm tội của thanh thiếu niên thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân. Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện của thanh thiếu niên. Chính phủ, các Bộ, ban, ngành và chính quyền các cấp đã đề ra nhiều chương trình, kế hoạch cũng như áp dụng nhiều biện pháp để tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên nói riêng. Tuy nhiên, trước tác động của suy giảm kinh tế thế giới, lạm phát và giá cả các mặt hàng sinh hoạt thiết yếu tăng cao, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp và các tiêu cực xã hội đã ảnh hưởng rất lớn tới đời sống, sinh hoạt và tư tưởng của thanh niên, đặc biệt là thanh niên công nhân, nhóm đối tượng chịu tác động nhiều nhất của suy giảm kinh tế. Một bộ phận thanh niên chưa có ý chí phấn đấu vươn lên, thụ động, ý thức trách nhiệm bản thân còn hạn chế, ngại khó, ngại khổ; quan niệm về giá trị đạo đức còn lệch lạc, lối sống buông thả, vị kỷ, thực dụng, thiếu trách nhiệm. Đặc biệt, cơ chế kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã tác động không nhỏ lên tình trạng ngày càng gia tăng tội phạm trong thanh thiếu niên, đặc biệt là người chưa thành niên. Hiện nay, số lượng trẻ vị thành niên phạm pháp đang tăng theo xu hướng trẻ hóa và mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt có một bộ phận thanh thiếu niên đã tham gia vào các băng nhóm tội phạm có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính chất côn đồ hung hãn; thực hiện các hành vi giết người, cướp của, chống người thi hành công vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng. Vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên rất đa dạng, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó trong bài viết của mình em xin nêu lên thực trạng vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên Việt Nam trong những năm gần đây thông qua những số liệu thực tế cũng như đưa ra một số nhận xét cơ bản về vấn đề này. 2.1. Tình hình vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay: Như trên đã đề cập, vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên rất đa dạng, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt tập trung nhiều nhất với diễn biến phức tạp và đáng báo động ở một vài nhóm sau: 2.1.1. Nhóm các hành vi xâm phạm sở hữu, an ninh trật tự Đây là nhóm hành vi vi phạm pháp luật do thanh thiếu niên thực hiện có số lượng đối tượng nhiều nhất. Trong nhóm này, những đối tượng từ 16 tuổi trở xuống, chủ yếu thực hiện hành vi như trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, chỉ có một số rất nhỏ các đối tượng ở lứa tuổi này có những hành vi như cướp tài sản, cướp giật, giết người… Ngược lại, các đối tượng từ 16 tuổi trở lên thì hành vi vi phạm bao gồm cả trộm cắp, lừa đảo, cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản, giết người và hành vi của các đối tượng này có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với hành vi của các đối tượng dưới 16 tuổi, phần lớn hành vi vi phạm của các đối tượng này đã cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đáng lo ngại nhất là trong các vụ gây rối này có nhiều loại hung khí, vũ khĩ có khả năng gây thương tích cao được sử dụng. Theo kết quả thống kê của Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm học (Học viện Cảnh sát nhân dân) về tội phạm giết người trong giai đoạn từ tháng 1-2007 đến 9-2010, với trên 4.000 phạm nhân đang thụ án tại bốn trại giam thuộc Bộ Công an quản lý. Kết quả cho thấy tội phạm thường xảy ra chủ yếu ở nhóm tuổi từ đủ 18-30 (41,12%) và nhóm tuổi từ 30-45 (34,06%), ở nhóm tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 chiếm 16,7%; còn lại ở nhóm tuổi khác là 8,75%... Trong báo cáo của Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an về trật tự xã hội trong 5 năm từ năm 2004- 2009, trên cả nước xảy ra 25.508 vụ phạm pháp hình sự. Lực lượng cảnh sát điều tra tội pham về trật tự xã hội, công an các đơn vị, địa phương đã điều tra khám phá 18.597 vụ, bắt giữ xử lý 27.396 đối tượng, triệt phá 1.986 băng nhóm tội phạm hình sự, xử lý 6.484 đối tượng. Trong số đối tượng gây án, tỷ lệ HSSV chiếm 3,6%, trong đó có nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng như giết bạn cùng lớp, cùng trường, giết cướp. Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Bộ công an) thì trong năm 2001 có 11.376 thanh thiếu niên ở độ tuổi dưới 18 vi phạm pháp luật, trong đó 48,99% là trộm cắp, 4,29% là tội cướp, 0,76% là tội giết người, 11,4% là cố ý gây thương tích… nhưng đến năm 2008 thì con số này đã tăng lên thành 17.138, trong đó chiếm đa số vẫn là tội trộm cắp (34%), 4,5% là tội giết ngưới, cướp và cướp giật chiếm 13,6%... (Chỉ tiêu trẻ em Việt Nam, 2005-2009). Còn thống kê tư Hội thảo về Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011 – 2020, do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức tại Đà nẵng (diễn ra từ 16 đến 18/8/2011) cho thấy chỉ trong sáu tháng đầu năm 2010 đã có gần 60 vụ giết người và hơn 200 vụ cướp do trẻ em gây ra. Trong 3 tháng đầu năm 2011 trên phạm vi cả nước, các băng nhóm vị thành niên sử dụng vũ khí gây ra 107 vụ xô xát, tăng 51 vụ so với cùng kỳ năm 2010, chiếm 34% so với tổng số vụ vi phạm pháp luật xảy ra trên cả nước. 2.1.2. Nhóm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giáo dục Cùng với sự phát triển của xã hội, mỗi chúng ta được sống trong môi trường văn minh, hiện đại hơn, nhưng kéo theo đó là nhiều vấn đề nảy sinh. Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay, đó là đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên đang bị xuống cấp, dẫn đến tình trạng, bạo lực học đường, cư xử vô lễ với thầy cô, hay những vụ án nghiêm trọng trong thanh thiếu niên… Thời gian gần đây các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đưa tin về các vụ bạo lực học đường, điều đáng lo ngại là bạo lực học đường không chỉ đáng bảo động về số lượng mà cả ở mức độ nghiêm trọng. Các vụ bạo lực học đường không chỉ là đấm đá, túm tóc, mà còn lột áo, dùng dao lam để hăm dọa, thậm chí là đâm chém… Theo số liệu được đưa ra tại “Hội thảo giải pháp phòng ngừa từ xa và ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 28/7/2010 thì trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến ngày diễn ra hội thảo, các trường trên toàn quốc đã xả lý kỷ luật, khiển trách gần 900 học sinh, buộc thôi học hơn 730 học sinh và cảnh cáo gần 1600 học sinh do tham gia vào các vụ đánh nhau trong và ngoài nhà trường. Riêng năm học 2009 – 2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người. Tại thành phố Hà Nội từ năm 2010 – 11/2011 đã xảy ra 42 vụ học sinh tụ tập đánh nhau gây hậu quả nghiêm trọng (trong đó có 2 vụ giết người). Nguyên nhân chỉ vì những mâu thuẫn rất nhỏ trong sinh hoạt và học tập. Trong vụ án mạng nghiêm trọng xảy ra vào 19/12/2012 tại trường Đại học Kinh doanh Công nghệ (Hà Nội) nam sinh tên Vũ Ngọc Cương (SN 1992, quê Bắc Ninh) đã bị đâm chết ngay tại lớp. Theo tài liệu của cơ quan điều tra, bạn của Cương tên Hoàng và Phan vốn có mâu thuẫn cá nhân từ trước. Vào khoảng thời gian xảy ra án mạng, Hoàng đeo tai nghe đứng ở ngoài cửa lớp học, Phan đi qua và nói Hoàng “nhìn đểu” mình rồi gọi Bùi Ngọc Quân và Nguyễn Hồng Quân tới để "xử" Hoàng. Thấy vậy, Cương đang ngồi trong lớp liền nói vọng để bênh vực cho Hoàng: “Nhìn đểu thì làm gì được”. Ngay lập tức, Cương bị nhóm bạn học lao tới hành hung và đâm chết. Qua khảo sát 200 học sinh tại các trường THPT ở địa bàn thành phố Hà Nội năm 2011, có đến 96,7% số học sinh được hỏi đều cho rằng ở trường các em học, có xảy ra hiện tượng nữ sinh đánh nhau, trong đó có 12,7% nữ sinh 1 lần đánh nhau, 20,7% 2-3 lần, 10,7% 4-5 lần, 19,3% từ 5 lần trở lên; phần lớn các nữ sinh có hành vi đánh nhau đã cho rằng việc đó là “bình thường” (57%) và “chấp nhận được” (gần 40%). Bên cạnh đó, khảo sát trong 200 cha, mẹ học sinh về sự thể hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống hàng ngày của trẻn em so với thế hệ trước, 30,8% cho rằng sự hiếu thảo với ông bà và cha mẹ kém trước; chỉ có 26,3% biết ơn thầy cô giáo và 27% nhường nhịn, hòa thuận với ạnh chị em. Những con số trên đây cho thấy bạo lực học đường đang thực sự trở thành vấn nạn của ngành giáo dục. Bất chấp những lời cảnh cáo của các cơ quan chức năng, của những người làm công tác giáo dục… nạn bạo lực học đường vẫn không hề suy giảm mà ngày càng diễn biến phức tạp. Ngoài ra, có nhiều vụ học sinh nữ đánh nhau hội đồng, lột quần áo, dùng điện thoại ghi hình rồi phát tán lên mạng Internet ngày càng diễn biến phức tạp gây tâm lý hoang mang lo ngại cho cha mẹ học sinh, gây bức xúc dư luận xã hội. Gần đây vào ngày 4/1/2013 một đoạn clip nữ sinh bị nhóm bạn nữ “xử” ngay trong lớp học được tung lên mạng xã hội facebook, với độ dài gần 3 phút, clip đã khiến nhiều người không khỏi bức xúc vì những cảnh tượng đánh bạn dã man của nhóm nữ sinh. Trong clip, nữ sinh là nạn nhân đã bị nhóm ban khoảng 3, 4 bạn giật tóc, đấm đa kèm theo những lời lẽ lăng mạ. Một điều khiến dư luận lên án và lo ngại nữa là trong các clip bạo lực học đường thì thái độ thờ ơ, lãnh cảm của những học sinh khi đứng chứng kiến vụ việc. Cho dù nhìn thấy ban bị đánh hoặc bạn có hành vi đánh người sai trái nhưng các cô cậu áo trắng này vẫn dửng dưng như không hề có chuyện gì xảy ra, thậm chí còn reo hò, cổ vũ, chụp ảnh, quay clip. Vô lễ với thầy cô, coi thường kỷ luật của nhà trường cũng là biểu hiện của sự lệch lạc đạo đức, lối sống đáng lo ngại trong thanh thiếu niên ở lứa tuổi học sinh hiện nay. Vụ trưởng vụ công tác học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục vào đào tạo năm 2010 đã có cuộc điều tra 500 học sinh THCS ở quận 6 thành phố Hồ Chí Minh, số liệu từ cuộc điều tra cho thấy 32,2% học sinh có thái độ vô lễ với thầy, cô giáo, nhiều em chỉ chào thầy cô khi ở trong sân trường, khi ra đường lại coi như không quen biết; 38% học sinh thường xuyên nói tục… Gần đây có thể kể đến vụ việc một nữ sinh trường THCS Lý Tự Trọng (TP Tam Kỳ, Quảng Nam) đã có những lời lẽ xúc phạm thầy cô trên mạng xã hội facebook dẫn đến bị đuổi học. Một cuộc tranh luận nổ ra, người cho rằng án phạt dành cho bạn học sinh đó là quá nặng, người lại đồng tình với hình thức kỉ luật của nhà trường, cần phải trừng trị nghiêm để làm gương cho các học sinh khác. Chưa nói đến mức độ của kỉ luật, nhưng động thái của nhà trường đã như một hồi chuông cảnh tỉnh đến những bạn trẻ vẫn đang ngày ngày “hồn nhiên” sử dụng những từ ngữ thô tục. Bởi dù mạng là ảo, bạn cho rằng việc mình thỏa sức nói bậy, mắng chửi người khác sẽ chẳng được ai biết đến, nhưng hậu quả đôi khi lại vượt xa sức tưởng tượng của bạn. Một kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam năm 2010 cho thấy, tỷ lệ học sinh nói dối cha mẹ ở bậc tiểu học là 22%, THCS là 50%, THPT là 64%; còn tỷ lệ học sinh đi học muộn ở tiểu học là 20%, THCS là 21%, THPT là 58%. Cũng theo khảo sát này, tỷ lệ quay cóp ở tiểu học là 8%, ở THCS là 55%, ở cấp THPT là 60%. Như vậy, sự xuống cấp trong đạo đức, lối sống ở lứa tuổi thanh thiếu niên đặc biệt là học sinh, sinh viên là một thực trạng đáng báo động. Sự biến đổi quá nhanh của xã hội, với tốc độ phát triển của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường và quá trình mở cửa trong quan hệ quốc tế, khoa học công nghệ, là yếu những tố khách quan dẫn đến sự lệch chuẩn trong giao tiếp, ứng xử xuất hiện ngày càng nhiều của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay. Chính sự lệch chuẩn này là môt trong những nguyên nhân góp phần dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên vi phạm pháp luật trong thời gian gần đây. 2.1.3. Nhóm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông Đi môtô, xe gắn máy khi chưa đủ tuổi, không có giấy phép lái xe, vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ, lạng lách, đánh võng, không đội mũ bảo hiểm, đi xe đạp dàn hàng, chở quá số người quy định… là các vi phạm mà thanh thiếu niên thường mắc khi tham gia giao thông. Bên cạnh đó, học sinh, sinh viên khi tham gia giao thông chưa có biểu hiện văn hoá, còn bóp còi inh ỏi, lắp các loa to, phát nhạc ầm ĩ trên đường, nói tục, chửi bậy khi đi trên đường, đùa nghịch khi đang lái xe… Đáng lưu ý là những hành vi của các em diễn ra rất “hồn nhiên”. Theo số liệu thống kê của Hội sinh viên Việt Nam (SVVN) có tới 80% số sinh viên đi xe máy không có giấy phép lái xe, 95% số sinh viên khi lái xe máy còn sử dụng sai kỹ thuật. Đối với học sinh phổ thông hầu như 100% không có Giấy phép lái xe (GPLX), vì chưa đủ tuổi. Đã có nhiều giải pháp đưa ra nhằm
- Xem thêm -