Văn hóa dân gian với thơ nguyễn bính

  • Số trang: 140 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 56 |
  • Lượt tải: 1
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO T 6 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM T 6 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI THƠ NGUYỄN BÍNH T 0 Luận văn Thạc sĩ T 1 Khoa học Xã hội và Nhân văn T 1 T 1 Mã số: 5. 04. 33 Người hướng dẫn : T 6 1 Tiến sĩ Khoa học BÙI MẠNH NHỊ T 6 1 T1 6 Người thực hiện: T 6 1 NGUYỄN DUẬT TU. T 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2000 T 6 LỜI CẢM ƠN T 6 Luận văn này được hoàn thành nhờ sự giảng dạy và giúp đỡ của các Giáo sư, Tiến sĩ, Cán bộ các Phòng, Ban của Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh và đồng nghiệp gần xa. Đặc biệt là sự tận tình của Tiến sĩ Bùi Mạnh Nhị, người đã cung cấp tài liệu, trực tiếp hướng dẫn và góp nhiều ý kiến bổ ích để công trình hoàn thành đúng tiến độ. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Ngày 20 tháng 3 năm 2000. Người viết Nguyễn Duật Tu. MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2 T 8 6 T 8 6 MỤC LỤC .................................................................................................................... 3 T 8 6 T 8 6 QUY ƯỚC DÙNG SÁCH ........................................................................................... 5 T 8 6 T 8 6 DẪN LUẬN .................................................................................................................. 6 T 8 6 T 8 6 1. Lý do chọn đề tài. ............................................................................................................6 T 8 6 T 8 6 2. Lịch sử vấn đề. ................................................................................................................7 T 8 6 T 8 6 3. Nhiệm vụ và phướng pháp nghiên cứu. ......................................................................10 T 8 6 T 8 6 4. Kết cấu luận văn. ..........................................................................................................12 T 8 6 T 8 6 CHƯƠNG 1: NGUYỄN BÍNH, NGƯỜI KẾ TỤC VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG ............................................................................... 13 T 8 6 T 8 6 1.1. Những đặc điểm văn hóa mang tính truyền thống của quê hương và gia đình...13 T 8 6 T 8 6 1.2. Chân dung người kế tục văn hóa dân gian truyền thống. .....................................17 T 8 6 T 8 6 CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG ĐỀ TÀI THƠ NGUYỄN BÍNH......................................................................................................... 29 T 8 6 T 8 6 2.1. Đề tài quê hương. .......................................................................................................31 T 8 6 T 8 6 2.1.1. Làng và văn hóa làng. ...........................................................................................32 T 8 6 T 8 6 2.1.2. Dòng sông, con đò. ...............................................................................................38 T 8 6 T 8 6 2.1.3 Bức tranh bốn mùa. ................................................................................................41 T 8 6 T 8 6 2.2. Đề tài con người. ........................................................................................................48 T 8 6 T 8 6 2.2.1. Nhân vật "cô gái, chàng trai". ...............................................................................49 T 8 6 T 8 6 2.2.2. Nhân vật "người vợ người chồng ". ......................................................................54 T 8 6 T 8 6 2.2.3. Nhân vật "người mẹ, người con ". ........................................................................59 T 8 6 T 8 6 2.3. Tình yêu đôi lứa. ........................................................................................................62 T 8 6 T 8 6 2.3.1. Những tình huống trữ tình. ...................................................................................64 T 8 6 T 8 6 2.3.2 Những môtip ca dao quen thuộc. ...........................................................................67 T 8 6 T 8 6 CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG HÌNH ẢNH - BIỂU TƯỢNG THƠ NGUYỄN BÍNH............................................................................... 74 T 8 6 T 8 6 3.1. Hình ảnh so sánh........................................................................................................76 T 8 6 T 8 6 3.1.1. Các liên từ so sánh. ...............................................................................................79 T 8 6 T 8 6 3.1.2. So sánh tương phản. ..............................................................................................81 T 8 6 T 8 6 3.1.3. Hình ảnh ẩn dụ. .....................................................................................................83 T 8 6 T 8 6 3.2. Một số biểu tượng. .....................................................................................................85 T 8 6 T 8 6 3.2.1. Tình yêu hạnh phúc...............................................................................................86 T 8 6 T 8 6 3.2.2. Bất hạnh khổ đau. .................................................................................................87 T 8 6 T 8 6 3.3. Hình ảnh miêu tả. ......................................................................................................89 T 8 6 T 8 6 3.3.1. Cảnh vật thiên nhiên. ............................................................................................90 T 8 6 T 8 6 3.3.2. Miêu tả con người. ................................................................................................93 T 8 6 T 8 6 3.4. Không gian và thời gian nghê thuật. ........................................................................97 T 8 6 T 8 6 3.4.1. Không gian nghệ thuật. .........................................................................................97 T 8 6 T 8 6 3.4.2 Thời gian nghệ thuật. ...........................................................................................101 T 8 6 T 8 6 CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG THỂ LOẠI THƠ NGUYỄN BÍNH............................................................................................. 106 T 8 6 T 8 6 4.1. Thể thơ lục bát. ........................................................................................................106 T 8 6 T 8 6 4.1.1. Hiệp vần. .............................................................................................................110 T 8 6 T 8 6 4.1.2 Tiết tấu .................................................................................................................114 T 8 6 T 8 6 4.2. Kết cấu. .....................................................................................................................124 T 8 6 T 8 6 4.2.1. Lối đối đáp ..........................................................................................................125 T 8 6 T 8 6 4.2.2 Lối kể chuyện.......................................................................................................128 T 8 6 T 8 6 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 133 T 8 6 T 8 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 137 T 8 6 T 8 6 QUY ƯỚC DÙNG SÁCH 1 . Ý NGHĨA CÁC KÝ HIỆU: T 5 Sđd : Sách đã dẫn. H : Hà Nội. TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh. Tr : Trang. NXB : Nhà xuất bản. KHXH : Khoa học xã hội. GD : Giáo dục. T 6 T 6 T 6 T 6 T 6 T 6 T 6 TLI, II, III, C.112 T 6 1 T2 6 1 T2 6 : Tư liệu Kho tàng ca dao người Việt tập I, II, III. Mẫu tự C, câu số 112. T 6 Ví dụ :Em là cô gái nhà quê. T 6 (TLII, E.105). T 6 2 . CHÚ THÍCH: T 5 1,2…Ghi chú ở cuối trang. T 6 DẪN LUẬN 1. Lý do chọn đề tài. ĐX.Likhatrôp 1 trong cuốn "Thi pháp văn học Nga cổ" đã đặt câu hỏi: Tại sao phải T 1 F 0 TP 1 T 1 P nghiên cứu thi pháp văn học Nga cổ nói riêng và thi pháp văn học nghệ thuật nói chung? Và ông đã lý giải: "Quá trình văn hóa của mỗi dân tộc, không chỉ là quá trình biến cải, tạo nên cái mới, mà còn là quá trình giữ gìn cái cũ, quá trình tìm thấy cái mới trong cái cũ" Chúng tôi cho rằng: Ý kiến trên không chỉ đúng với "văn học Nga cổ" mà còn đúng T 1 với tất cả mọi nền văn học thế giới. Văn học dân gian Việt Nam là những "vốn văn học cổ" của dân tộc, đã tồn tại từ ngàn T 1 đời. Văn hóa dân gian, trong đó có ca dao, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhân dân lao động. Đó là lời ru ngọt ngào cho giấc ngủ trẻ thơ mau mắn, là mảnh đất màu mỡ cho tài năng văn học nảy mầm, kết trái; là "những hòn ngọc quý" 2 do quần chúng F TP 1 T 1 P sáng tạo, cần phải giữ gìn và phát triển. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn học đã chứng minh được ảnh hưởng của văn hóa T 1 dân gian và của ca dao đối với các tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... trước đây và ngày nay như Tố Hữu, cây đại thụ của thơ ca cách mạng. Các học giả cũng xác định được xu hướng trở về với văn học cội nguồn như là một đặc điểm chung của lịch sử văn học và thi pháp văn học. Hiện nay, phần lớn các nhà thơ Việt Nam vẫn tiếp tục đi theo xu hướng này để học T 1 tập, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc và tạo nên những đặc điểm phong cách nghệ thuật của mình. Thi pháp văn học Nga cổ - NXB Khoa Học. M.1979. Tr 352-353, Dẫn theo, Thi pháp ca dao - Nguyễn Xuân Kính NXB KHXH. H. 1992. Tr 236 1 Trích bài nói của Hồ Chủ Tịch tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30/10/1958. Dẫn theo, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam-Vũ Ngọc Phan, NXB KHXH, H., 1997, Tr.811. 2 Xuất phát từ quan điểm vừa trình bày, chúng tôi chọn đề tài: "Văn hóa dân gian với T 1 thơ Nguyễn Bính" để tìm hiểu một số ảnh hưởng của văn hóa dân gian, đặc biệt là của ca dao (bộ phận đặc sắc của văn hóa dân gian) với thơ Nguyễn Bính; mặt khác để làm rõ thêm phần nào các nhận xét: "Nguyễn Bính - Thi sĩ của đồng quê", "Nguyễn Bính - Nhà thơ chân quê" của các nhà nghiên cứu đi trước. Chúng tôi chỉ chọn nhà thơ Nguyễn Bính, một phần vì khuôn khổ luận văn; phần khác, T 1 bởi đây là tác giả tiêu biểu cho một thế hệ nhà thơ, một "tạng" nhà thơ, là người có dấu ấn dân gian rất rõ, đủ điều kiện làm sáng tỏ đề tài. Đồng thời theo chúng tôi, từ tác giả này có thể khái quát được một số đặc điểm tiêu T 1 biểu của văn học hiện đại Việt Nam, trong quan hệ với văn hóa dân gian cũng như một số quy luật của văn học hiện đại Việt Nam về tính dân tộc, tính nhân dân và một số đặc điểm thi pháp nổi bật của nhà thơ được nghiên cứu. 2. Lịch sử vấn đề. Trong quá trình chuẩn bị để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã được tiếp xúc với T 1 các bài viết liên quan đến ảnh hưởng của văn hóa dân gian, của ca dao đối với thơ hiện đại. Trước hết là phát biểu của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30/10/1958: T 1 "Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay mà lại ngắn, chứ không "tràng giang đại hải" dây cà ra dây muống... Các cán bộ văn hóa cần phải giúp các sáng tác của quần chúng. Những sáng tác ấy là "những hòn ngọc quý". Chúng tôi nghĩ, đây là quan điểm của Đảng ta về công tác sưu tầm nghiên cứu, kế thừa "truyền thống văn hóa cổ" của dân tộc. Sinh thời, Nguyễn Du - Nhà thơ lớn của dân tộc, trong "Thanh Minh ngẫu hứng", giải T 1 thích: Thôn sơ học tang ma ngữ, T 6 1 Dã khốc thời văn chiến phạt thanh T 6 1 T 1 (Tiếng hát nơi thôn xóm giúp ta học những câu tả về trồng dâu, trồng gai, tiếng khóc nơi đồng nội như nhắc lại thời gian chiến tranh). Ý kiến này rút ra từ thực tế sáng tác của bản thân chứ không phải khảo luận, nhưng đã khẳng định bài học: Sáng tác văn học cần phải dựa vào cái nền văn học dân gian. Tháng 3/1963, nhà thơ Tố Hữu, trong bài nói chuyện với giáo viên văn học Hà Nội, đã T 1 nói về cái việc làm "thư ký" cho cha hồi lên bảy tuổi, nhưng lại thật biết ơn người cha đã trang bị chút ít "vốn về hình thức thơ ca dân gian và cổ điển", để sau này trở thành nhà thơ lớn của dân tộc. Trong tạp chí Văn học tháng 11/1965, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn xác nhận: "Vai trò T 1 của văn học dân gian trong văn Việt Nam nói chung và trong truyện Kiều nói riêng". Hai năm sau nữa, ông lại khẳng định: "Phải triệt để khai thác vốn văn nghệ dân gian". Giữa khoảng thời gian hai bài viết của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, nhà thơ Xuân T 1 Diệu đọc tham luận trong đại hội thành lập Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam (tháng 11/1966): "Các nhà thơ học được những gì ở ca dao?". Ông tâm sự: "Học được nhiều lắm. Riêng tôi, từ ba chục năm nay tôi đã học. Làm thơ mà không nghe, không học ca dao từ thuở mới biết khôn, thì như lời khổng Tử: "Không học Kinh Thi lấy gì mà nói?". Ông còn cho biết "Nguyễn Du đã đi học ở trường cô Vy, cô Sa, trường hát ví của cô gái phường Vải, T2 1 thì mới có hơi thơ Kiều. Puskin vỡ lòng đã đi học trường văn học dân gian của bà nhũ mẫu". T2 1 Ở tạp chí văn học số 1-1973, ông lại cho đăng "Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống" để bổ sung ý kiến của mình mấy năm trước, cũng như xác nhận xu hướng sáng tác trong thời đại mới. Trong bài "Phong vị ca dao trong thơ Tố Hữu", Tạp chí Văn học, 11/1968, Nguyễn T 1 Phú Trọng chọn bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu để xác định "ảnh hưởng" của ca dao trong thơ. Đặc biệt nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, trong "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam" đã T 1 nói về "ảnh hưởng qua lại giữa tục ngữ ca dao xưa trong sáng tác mới"... và coi đó như là một tất yếu trong phương hướng sáng tác. Cho đến những năm 1980 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa T 1 văn hóa dân gian và văn học hiện đại, giữa ca dao và thơ, ảnh hưởng qua chúng lại càng phong phú và đi vào chiều sâu hơn. Đó là: "Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và văn học dân gian" (Tạp chí Văn học số 1 - 1989 của Giáo sư Đỗ Bình Trị), "Việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay" (Tạp chí Văn học 11/1994) và "Thi pháp ca dao", NXB KHXH, Hà Nội, 1992, đều của Nguyễn Xuân Kính. "Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục,1997 của Trần Đình Sử. "Lục bát và song thất lục bát", NXB KHXH,1998 của Phan Diễm Phương. "Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn Duy",Tạp chí Văn Học 07/1998 của Phạm Thu Yến. Từ những bài viết vừa liệt kê ở mục này, chúng tôi nhận thấy: So với mặt bằng nghiên T 1 cứu văn học dân gian, đề tài văn hóa dân gian trong thơ hiện đại còn khá khiêm tốn. Đúng như nhận xét của Giáo sư Đỗ Bình Trị: "Ở nước ta thật ra đã có một vài công trình nghiên cứu... Chúng tôi nghĩ, trước hết đến luận văn nổi tiếng của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn: Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung, trong truyện Kiều nói T6 1 T6 1 riêng. Rất tiếc, những công trình này chưa được tiếp nối để tạo ra hẳn một hướng nghiên cứu lớn, đặc biệt đối với vặn học quá khứ của dân tộc" 1. F 2 TP 1 T 1 P Nhưng việc nghiên cứu vấn đề đã nêu cũng có một quá trình phát triển nhất định. Từ những bài viết ban đầu có tính thông tin, đăng tải rải rác trên tạp chí, càng về sau, nhất là những năm cuối thập kỷ 80 trở lại đây, càng có nhiều công trình có tính chuyên môn hóa: thống kê, so sánh, phát hiện, đánh giá... nhiều vấn đề có liên quan đến ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với thơ và ngược lại. Điều đáng quan tâm nữa là, các công trình khoa học này được nhiều nhà xuất bản lớn in và phát hành rộng rãi trong cả nước, đồng thời được nhiều người trong và ngoài giới văn học đón nhận, nhất là tầng lớp sinh viên.... Ví dụ, riêng về nhà thơ Nguyễn Bính, đã có các công trình của các tác giả: Hà Minh Đức với "Nguyễn T 6 1 Bính, thi sĩ của đồng quê" NXB Giáo dục, Hà Nội,1995. Hoài Việt: "Nguyễn Bính, thi sĩ của T 6 1 T 6 1 quê hương" NXB Hội nhà văn,1992. Hoàng Xuân tuyển chọn "Nguyễn Bính, thơ và đời", T 6 1 T 6 1 NXB Văn học, Hà Nội,1994. Bên cạnh đó là các bài viết khác như "Lời giới thiệu" của Tô T 6 1 T 6 1 T 6 1 Hoài, "Lời bạt" của Chu Văn trong Tuyển tập Nguyễn Bính; Hoài Anh "Người chiến sỹ cuối T 6 1 T 6 1 T 6 1 T 6 1 T 6 1 cùng của thơ Việt" (Chân dung văn học, NXB Văn nghệ TP.HCM,1995). Đặc biệt lời nhận T 6 1 xét của Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: "Ở mỗi người chúng ta đều có T 6 1 T 6 1 một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ mấy nghìn năm đã ăn sâu vào tâm tư chúng ta. Nhưng khôn hay dại, chúng ta ngày một cố lìa xa nền nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh... Ở Nguyễn Bính thì không thế. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường...Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những 1 Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa Văn học và Văn hóa dân gian, tạp chí văn học 1/1989. tính tình căn bản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc ông đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm..." Do mục đích khác nhau, trong nhiều công trình của các tác giả nêu trên, vấn đề văn hóa dân gian, trong đó có ca dao với thơ Nguyễn Bính, là một hướng tiếp cận chuyên biệt thì vẫn chưa đặt ra. Luận văn của chúng tôi mang tính thử nghiệm, do đó, vẫn rất cần được tiếp tục bổ sung. Dĩ nhiên, con đường đến với khoa học là vô tận. Tương lai sẽ còn nhiều công trình khoa học khác giá trị. Song những công trình đã công bố vẫn là những tư liệu rất quý giá, gợi mở nhiều vấn đề về lý luận, về phương pháp nghiên cứu... là cơ sở vững chắc giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này. 3. Nhiệm vụ và phướng pháp nghiên cứu. Như tên gọi của luận văn, ở đây chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra mối liên hệ gần gũi giữa văn hóa dân gian và thơ Nguyễn Bính, tìm một số ảnh hưởng của văn hóa dân gian, đặc biệt là của ca dao đối với sáng tác nhà thơ "Chân Quê" này. Một nhiệm vụ như thế dẫu sao cũng rất rộng lớn. Chúng tôi không đặt cho mình mục đích đi tìm hết tất cả các ảnh hưởng của văn hóa dân gian, của ca dao đối với thơ Nguyễn Bính. Chúng tôi chỉ cố gắng khảo sát, miêu tả, so sánh để tìm ra một số ảnh hưởng tiêu biểu mà thôi. Mặt khác chúng tôi cũng không dừng lại chỉ ở những biểu hiện ảnh hưởng mà còn cố gắng chỉ ra một số ảnh hưởng chứng tỏ sự vận dụng ca dao sáng tạo của nhà thơ. Đây cũng là bằng chứng của sự ảnh hưởng tích cực của ca dao đối với nhà thơ và sự tiếp thu tích cực của nhà thơ đối với ca dao. Để thực hiện nhiệm vụ trên đây chúng tôi muốn nói rõ một số điểm về phương pháp nghiên cứu. Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết rất đa dạng tinh tế... Văn học dân gian và văn học nói chung, ca dao và thơ Nguyễn Bính nói riêng, tuy gần nhau nhưng thuộc hai hệ thống tư tưởng thẩm mỹ khác nhau. Khảo sát những mối liên hệ cũng như ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ Nguyễn Bính, không đơn giản là việc so sánh đối chiếu thuần túy. Để tìm ra ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong thơ, trước hết phải có các tác phẩm của nhà thơ có ảnh hưởng để làm dữ kiện so sánh, đối chiếu các hình thức nghệ thuật, "nội dung của ảnh hưởng"; sau đó là các tài liệu văn hóa dân gian để khảo sát, thống kê các yếu tố có quan hệ. Từ đó rút ra các ảnh hưởng về sự vận dụng sáng tạo văn hóa dân gian của nhà thơ. Mỗi sáng tác, dù của tập thể hay cá nhân, đều có một hoàn cảnh cụ thể. Cho nên khi tiếp nhận tác phẩm, phải thẩm định bằng cách phân tích đánh giá giá trị của nó qua hình thức, nội dung. Trong luận văn này, việc phân tích đánh giá, không chỉ đơn thuần là thưởng thức cái hay, cái đẹp của tác phẩm, mà để tìm ra mối quan hệ giữa văn hóa dân gian, ca dao với thơ Nguyễn Bính và một đôi nét về sự sáng tạo của nhà thơ. Nhà thơ không bao giờ tách khỏi không gian văn hóa, thời đại sống... nên đặt nhà thơ trong môi trường văn hóa (quê hương, gia đình, cá tính, sở thích cá nhân khi tiếp xúc với xã hội...) nhằm tìm hiểu cái "tạng" nhà thơ là điều kiện cần. Những yếu tố ngoài văn học này , giúp nhà nghiên cứu hiểu kỹ hơn, chính xác hơn "cái bên trong văn học"; đồng thời chỉ ra những ảnh hưởng riêng của tác giả khi tiếp xúc với văn hóa dân gian. Như vậy để triển khai thuận lợi và đạt hiệu quả đề tài, chúng tôi dựa vào chuyên đề giảng dạy: "Một số gợi ý về phương pháp nghiên cứu các yếu tố folklore trong tác phẩm văn học" của Giáo sư Chu Xuân Diên, coi đó như là một phương pháp cơ bản. Phương pháp này gồm ba bước: 1) Phát hiện các dấu vết Folklore trong tác phẩm thơ Nguyễn Bính. (Các dấu vết này hiện ra dưới nhiều hình thức khác nhau: là tác phẩm văn học dân gian nguyên vẹn, hoặc một phần, một yếu tố folklore, một từ, một ý của bài ca dân gian). 2) Phân tích và chỉ rõ vai trò ý nghĩa của các yếu tố Folklore, mà nhà văn sử dụng trong tác phẩm với tư cách là một yếu tố nghệ thuật. Chứng minh cách sử dụng các yếu tố dân gian đó phản ánh tính độc đáo về tư tưởng thẩm mĩ và tài năng của nhà thơ, đồng thời làm phong phú hơn nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và phong cách tác giả. 3) Dựa vào tiểu sử tác giả (quê hương, gia đình, bản thân, quá trình sáng tác...) để tìm nguyên nhân ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong đó có ca dao đến con người tác giả và những tác phẩm cụ thể. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi không tách bạch từng phần theo quy trình cụ thể, mà tùy từng trường hợp, có thể kết hợp để trình bày. 4. Kết cấu luận văn. Ngoài phần dẫn luận (07 trang) và phần kết luận ( 04 trang), nội dung của luận văn được tổ chức thành 4 chương như sau: - Chương 1: Nguyễn Bính, người kế tục và phát triển văn hóa dân gian truyền thống (15 trang) - Chương 2: Những yếu tố văn hóa dân gian trong đề tài thơ Nguyễn Bính (41 trang) - Chương 3: Những yếu tố văn hóa dân gian trong hình ảnh - biểu tượng thơ Nguyễn Bính (30 trang) trang) Chương 4: Những yếu tố văn hóa dân gian trong thể loại thơ Nguyễn Bính (24 CHƯƠNG 1: NGUYỄN BÍNH, NGƯỜI KẾ TỤC VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG 1.1. Những đặc điểm văn hóa mang tính truyền thống của quê hương và gia đình Trong "Ca dao tục ngữ Nam Hà" 1 có những câu giới thiệu những địa danh với những T 6 1 F 3 TP 6 1 P nghề truyền thống của địa phương: Ngọc Sài hương nén bán trăm T 6 1 Thiện Vịnh ương giống rau răm, rau cần T 6 1 Vân Tập đan đó, đan bồ T 6 1 Bối Xuyên khâu nón cho cô bán hàng T 6 1 T 6 1 Thôn Thiện Vịnh thuộc xã Cộng Hòa và thôn Vân Tập, xã Minh Tân đều của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định - là quê nội và quê ngoại của nhà thơ Nguyễn Bính - những cái làng, đồng trũng mà đến mùa nước thì con đường, con đê trên huyện kia chỉ là sợi chỉ mỏng manh bên mép nước. Cái làng quê ấy đã đi vào trong thơ Nguyễn Bính: Làng tôi cũng có sông có núi T 6 1 Núi nhỏ, sông con chảy lặng lờ T 6 1 Lụt năm Tỵ 2 , dân xiêu đi quá nửa T 6 1 F 4 TP 6 1 T 6 1 P Làng đã nghèo, càng nghèo xác nghèo xơ. T 6 1 (Làng tôi) Mảnh đất sơn thủy hữu tình, với "dãy núi Trang Nghiêm đứng chống trời", với "đê cao có đất thả diều", cũng là quê hương có khá nhiều chợ và lễ hội thu hút khách thập phương: Mồng Một chơi cửa chơi nhà T 6 1 Mồng Hai chơi điếm, mồng Ba chơi đình T 6 1 Bùi Văn Cường, Vũ Quốc Ái, Đỗ Nguyên Hạnh, Đoàn Tùng biên soạn: Ca dao tục ngữ Nam Hà, Ty văn hóa Nam Hà, 1975. 2 Năm 1929. 1 Mồng Bốn chơi chợ Quả Linh 1 . T 6 1 F 5 TP 6 1 T 6 1 P Mồng Năm chợ Trình, mồng Sáu non Côi T 6 1 Cách ngày mồng Bảy mới thôi T 6 1 Bước sang mồng Tám đi chơi chợ Viềng T 6 1 Chợ Viềng năm có một phiên... 2 T 6 1 F TP 6 1 Đồng Quan mở hội vui thay T 6 1 Thi văn thi võ lại bày cờ tiên T 6 1 Sân đình nhạc múa đôi bên T 6 1 Dưới sông chèo hát lại dìm bóng trâu T 6 1 Bắt dê, bắt vịt leo cầu... T 6 1 Ba năm vua mở khoa thi T 6 1 Đệ Nhất thi hát, Đệ Nhì thi bơi T 6 1 Đệ Tam thi đánh cờ người T 6 1 Phương Bông, Đệ Tứ mồng Mười tháng Ba T 6 1 3 7F TP 6 1 P "Mồng Mười tháng Ba" là ngày khai hội Đền Trần. Sau khi vua Trần mất, các làng vẫn giữ lệ thường, ba năm một lần mở hội vào dịp triều đình mở khoa thi. Đây là nơi ba lần hội đại quân trở về khôi phục Thăng Long. Cung Thiên Trường đã đi vào lịch sử, vào thơ: Cảnh thanh u, vật cũng thanh u T 6 1 Mười mấy châu tiên đây một châu T 6 1 Trăm tiếng đàn chim, dàn nhạc hát T 6 1 Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu... 4 T 6 1 F 8 TP 6 1 Chợ Quả Linh, xã Lê Lợi ; chợ Trình Xuyên, xã Liên Bảo; chợ Gói xã Thanh Côi, chợ Viềng xã Kim Thái, - đều thuộc huyện Vụ Bản, Nam Định. 2 Ca dao tục ngữ Nam Hà. Tr 29-30. 3 Các làng Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Phương Bông thuộc xã Mỹ Trung; Đệ Tứ, xã Lộc Hạ đều thuộc huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Quê Vua Trần. 4 Ngự chơi Hành cung Thiên Trường - Trần Nhân Tôn. Bản địch của Hoàng Việt. Dẫn theo, Lê Trí Viễn. Đặc trưng văn học Trung đại Việt Nam, NXB KHXH. H. 1996. Tr 199. 1 Cũng vào đầu tháng ba âm lịch còn có hội Phủ Giầy: Thứ nhất là hội Phủ Giày T 6 1 Vui là vui vậy không tày chùa Bi 1 T 6 1 F 9 TP 6 1 Phủ Giày là đền thờ công chúa Liễu Hạnh, bà tổ của tơ lụa, một trong tứ bất tử của Việt Nam 2. 0F 1 P P Từ những cuộc giao du này đã tạo ra những cơ hội học tập kinh nghiệm sản xuất để hình thành nhiều ngành nghề nổi tiếng trong nhân dân: "Làng Mai đan lát, Giáp Nhất đánh rèn" 3, những tục thi làm bánh, nấu xôi: "Giầy Gôi, xôi Báng, rượu Hầu" 4 và những gánh hát F 1 P P F 2 1 P P dân gian náo nức lòng người: "Con hát Thông Khê, đan sề Trang Hạ" 5 đến thế hệ Nguyễn F 3 1 P P Bính còn xốn xang: Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay T 6 1 Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy T 6 1 Hội chèo làng Đặng 6 đi qua ngõ T 6 1 F 4 TP 6 1 T 6 1 P Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay" T 6 1 (Mưa xuân) Mảnh đất chuộng võ mà cũng sành văn này, từ thời vua Hùng dựng nước đã từng đúc trống đồng với kỹ thuật tinh xảo 7 đặc biệt, đã sinh ra những người con làm rạng rỡ non sông F 5 1 P P đất nước. Đó là những vua chúa, tướng lĩnh thuộc dòng họ Trần ở thôn Tức Mạc (xã Lộc Hòa, huyện Mỹ Lộc ngày nay), từng ba lần đánh thắng quân Nguyên, giành lại nền độc lập dân tộc. Mười hai đời kế tiếp danh khoa, vẻ vang tộc phả T 6 1 Trăm nghìn năm vốn dòng thi lễ, rạng rỡ gia phong 8 T 6 1 F TP 6 1 Ca dao tục ngữ Nam Hà. Tr 28. Phủ Giày ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định. Tứ bất tử của Việt Nam là: Tản Viên (con rể vua Hùng), Thánh Dóng (tướng của vua Hùng), Chữ Đồng Tử (lấy công chúa Kim Dung, con gái vua Hùng) và bà chúa Liễu Hạnh. 3 Thuộc xã Quang Trung - Vụ Bản. 4 Làng Gôi (Côi) xã Thanh Côi. Làng Xuân Báng, xã Kim Thái, Làng Hầu, xã Liên Minh đều thuộc huyện Vụ Bản. 5 Làng Thông Khê thuộc xã Cộng Hòa, Vụ Bản nổi tiếng con hát sắc đẹp hát hay. 6 Làng Đặng Xá, xã Mỹ Hưng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, kế huyện Vụ Bản. 7 Trống đồng Ngọc Lũ, Vũ Bị , Núi Gôi. 8 Trần Quốc Vượng - Việt Nam cái nhìn địa-văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, H,.1998, Tr 228. 1 2 Đó là những danh sĩ tài hoa như Trạng Nguyên Lương Thế Vinh, Hoàng Giáp Phan Văn Nghị, nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương, nhà sử học Trần Huy Liệu; nhà viết kịch Trúc Đường, nhạc sĩ - tác giả "Quốc ca" Văn Cao... Mảnh đất nhỏ nhoi trong địa bàn tổ quốc bao la, đã để lại bao nhiêu tình cảm cho con người "chôn nhau cắt rốn" nơi đây: Quê ta đó yên vui đẹp đẽ T 6 1 Dân làng ta chăm chỉ cần cù T 6 1 (Bức thư nhà - Nguyễn Bính ) Và khi phải chia xa thì chẳng bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ: Anh đi anh nhớ non Côi T 6 1 Nhớ dòng sông Vị, nhớ người tình chung. T 6 1 Non Côi, sông Vị là nơi chứng kiến tiếng khóc chào đời, bước chân chập chững đầu tiên và là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của nhà thơ Nguyễn Bính. Đất nước, quê hương bao giờ cũng có ảnh hưởng đến con người, nhất là những người mà thiên bẩm đã phú cho họ sự mẫn cảm trong quan hệ với môi trường xã hội văn hóa. Chúng ta đã từng biết ảnh hưởng của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh với Nguyễn Du, vùng văn hóa Phong Châu đối với Tản Đà, vùng văn hóa Phú Xuân đối với Tố Hữu... Và chính mảnh đất Nam Định, quê hương của Lương Thế Vinh, của Trần Huy Liệu, Văn Cao; quê hương của hội Phủ Giầy, hội Đền Trần... đã nuôi dưỡng hồn thơ dân gian Nguyễn Bính. Điều thú vị hơn nữa là, những miền đất Nguyễn Bính sống sau này như Hà Nội, Huế, Tháp Mười... cũng đều là những chiếc nôi hoặc những vùng đậm đặc văn hóa dân gian, mà chắc chắn sẽ là những ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách thơ Nguyễn Bính: Thăng Long, Hà Nội đô thành T 6 1 Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ T 6 1 Cố đô rồi lại tân đô T 6 1 Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây T 6 1 Thừa Thiên trai hiền gái lịch T 6 1 Non xanh nước biếc điện ngọc đền rồng T 6 1 Tháp bảy tầng, Thánh Miếu, Chùa Ông T 6 1 Chuông chùa Diệu Đế, trống rung Tam Tòa. T 6 1 1.2. Chân dung người kế tục văn hóa dân gian truyền thống. Nguyễn Bính sinh năm 1918, tên thật là Nguyễn Trọng Bính. Cụ thân sinh là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, tính tình điềm đạm hiền lành, thường dạy các con: "Nhà ta coi chữ hơn vàng. Coi tài hơn cả giàu sang trên đời". Cụ thân mẫu là Bùi Thị Miện, nguyên là thôn nữ nết na xinh đẹp, con gái gia đình khá giả, có truyền thống yêu nước, em ruột cụ Bùi Trình Khiêm 1 nổi tiếng khắp vùng: “Vụ Bản Trình Khiêm, Hà Nam Sứ Chỉ ” F 7 1 P P Nguyễn Bính mồ côi mẹ lúc mới ba tháng tuổi nên cuộc sống của ông gắn bó nhiều với bên ngoại. Ngay cả cái tên Nguyễn Trọng, cũng do người cậu Trình Khiêm "Văn hay chữ tốt", rồi sau này là người thầy đầu tiên của Nguyễn Bính đặt cho. Nguyễn Bính thông minh học giỏi, làm thơ từ bé. Mười ba tuổi đã nổi tiếng "thần đồng", "thơ tiên" 2 được cậu Khiêm khen và "cưng" hơn so với các anh Bùi Hạnh Cẩn, Trúc F 8 1 P P T 5 T 5 Đường 3 Nguyễn Mạnh Phác - Trúc Đường là anh ruột Nguyễn Bính, sau khi thi đỗ Thành F 9 1 P P Chung vào loại giỏi ở Hà Nội (1932), năm 1933 vào Hà Đông dạy ở trường tư thục, bắt đầu viết văn, làm thơ. Anh đi, Nguyễn Bính đi theo để được anh dạy thêm tiếng Pháp, truyền đạt vặn học Pháp cho Bính (Nguyễn Bính đã có vốn thơ Đường). Trúc Đường thay mẹ chăm sóc em. Suốt cuộc đời Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Đường cả về văn chương lẫn đời sống. Những bài thơ ở dạng bản thảo của Nguyễn Bính, Trúc Đường là người đọc đầu tiên và góp ý kiến cho Bính. Học xong tiểu học, lên trung học, Nguyễn Bính tỏ ý xin anh đi sáng tác thơ. Trúc Đường không cản được, đành bụng để cho em theo đuổi nghiệp thơ. Thế là Nguyễn Bính được dịp tung hoành. Nhưng đi đâu? Làm gì? sống bằng gì với hai bàn tay trắng và cái vốn T 5 T 5 Thân sinh nhà văn Bùi Hạnh cẩn. Tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Đại biểu quốc hội tỉnh Nam Định, khóa I nước VNDCCH. 2 Theo Thanh Hằng, cháu ruột Nguyễn Bính, con gái Trúc Đường. 3 Nhà văn, nhà viết chèo, kịch lịch sử (1911 -1991). Tác giả của 4 vở kịch ngắn, 14 vở kịch dài về đề tài lịch sử. 1 học vấn không bằng cấp, trong cái xã hội đầy những cạm bẫy bất công của chế độ phong kiến nửa thuộc địa đang tàn lụi? Vậy mà, Nguyễn Bính vẫn quyết dứt áo ra đi, coi như là: Cha đừng tiếc, mẹ đừng thương T 6 1 Cầm như đồng kẽm qua đường đánh rơi. T 6 1 (Thư gửi thầy mẹ) Nguyễn Bính mắc phải cái bệnh thông thường của khá đông văn nhân, thi sỹ lúc bấy giờ: bệnh giang hồ. Trong "Một quãng đường" nhà văn Tô Hoài kể: "Một lần Nguyễn Bính rủ tôi đi "giang hồ". Nghĩa là đi chơi không cần tiền. Có tiền mới đi chơi thì là xoàng rồi, ai cũng làm được... ở sông Thương, ngày ngày, Chương (Vũ Hoàng Chương) và Bính tha thẩn vào xóm Thùng Đấu phía ngoại ô thị xã Bắc Giang. Hai bạn thơ vừa đi vừa nghêu ngao đọc thơ. Ông Chương thì "Tố của Hoàng ơi", ông Bính thì "Ngày xưa vua nước Bướm...", tôi đi giữa, ngất nghểu như ba thằng rồ..." Lang thang như thế, hết Bắc Giang, Bắc Ninh lại đến Thái Nguyên, Lạng Sơn; trở về Hà Nội, Nguyễn Bính lại tiếp tục xuống Hải Dương, sang Hải Phòng... chán chê mê mỏi, lại về sống với anh ruột. Nhưng chỉ được một thời gian là Nguyễn Bính lại đi. Lúc này (năm 1940) Trúc Đường đã chuyển ra Hà Nội và đang viết truyện dài "Nhan sắc". Nguyễn Bính quyết định chia tay anh, đi Huế. Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, bèn cho Bính chiếc máy ảnh, rồi về quê bán dãy thềm đá xanh - vật báu duy nhất còn lại của gia đình, đưa tất cả tiền cho em. Bính vô Huế, tháp tùng có Vũ Trọng Can. Chính tại đây, giữ đúng lời giao ước với Trúc Đường, Nguyễn Bính sáng tác đều đặn: "Xuân tha hương", "Hoa với rượu", "Tựu trường", "Giời mưa ở Huế"... và cũng đều đặn gửi ra cho Trúc Đường đọc, trước khi đưa đăng báo. Năm 1942, khi "Nhan sắc" của Trúc Đường ra mắt bạn đọc, thì cũng là thời gian Nguyễn Bính trở ra Hà Nội và về thăm quê mẹ, chuẩn bị một chuyến "hành phương Nam", 1943: Ta đi nhưng biết về đâu chứ T 6 1 Đã dấy phong yên khắp bốn trời. T 6 1 Lưng vốn vẫn là mấy vần thơ, một bộ quần áo cũ nát, vẫn cũng mấy người bạn sính thơ, thích giang hồ; Nguyễn Bính đã đặt được chân đến Sài Gòn, Lục tỉnh. Những tháng năm lưu lạc ở miền Nam, Nguyễn Bính đã đến Ba Tri - nhà của cụ Đồ Chiểu, đến Hà Tiên nổi tiếng phong cảnh đẹp, ở trong nhà Mộng Tuyết, Đông Hồ một thời gian rồi lại trở lên Sài Gòn. Cách mạng tháng Tám (1945), tổng khởi nghĩa, Nam bộ kháng chiến, chống Nhật rồi chống quân Anh, Pháp; Nguyễn Bính lưu lạc từ vùng này sang vùng khác, khi thì bị hãm trong vòng thế lực của Bình Xuyên, khi thì lạc lõng ở các vùng giáo phái…với bao nhiêu tin đồn thất thiệt, lúc nói sống, lúc nói chết…nhưng thực sự, Nguyễn Bính đã trụ lại ở chiến khu Đồng Tháp và với tư cách nhà thơ - chiến sỹ, ông đang cất cao giọng hào hùng ca ngợi Đồng Tháp Mười: Bảy trăm nghìn mẫu đất T 6 1 Sớt chia bốn tỉnh miền Nam T 6 1 Khăng khít biên thùy Chùa Tháp T 6 1 Nằm trong tay trái Cửu Long Giang T 6 1 Đồng Tháp Mười T 6 1 Đồng Tháp Mười T 6 1 Bao la bát ngát T 6 1 … T 6 1 Kể từ khi Đặt chân lên đất nước này Giặc Pháp giở trò xâm lược Ngậm hờn vong quốc Tháp Mười chung oán hận với non sông … Gươm báu chôn vùi Đợi giờ quật khởi Dân ta giành được chính quyền Gieo mùa hạnh phúc xây nền tự do. Đặc biệt, bài thơ ca ngợi tiểu đoàn 307 của Nguyễn Bính được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, đã lan truyền khắp trong Nam ngoài Bắc. Cho đến tận bây giờ, khí thế "đánh đâu được đấy, oai hùng biết mấy..." vẫn còn hừng hực. Từ một người bị thành kiến là "Văn nghệ sĩ cũ", "Văn nghệ sĩ lãng mạn", Nguyễn Bính đã thành người tri kỷ, tri âm của đông đảo cán bộ chiến sĩ, từ các đồng chí lãnh đạo như Lê Duẩn, Trần Văn Trà... anh chị em văn nghệ sĩ như Bảo Định Giang, Hoàng Tấn, Đoàn Giỏi, Minh Lộc, Sơn Nam, Trần Kim Trắc, Hoàng Việt, Ba Du, Tám Danh... cho đến các chiến sĩ vệ quốc đoàn, dân quân du kích, bà con nông dân, các em học sinh... Nguyễn Bính sống trong tình yêu thương, đùm bọc của quê hương Nam bộ. Ông cũng sống những giờ phút sảng khoái nhất để viết những câu thơ "Gươm súng bật giọng thép, thù sâu ôi thù sâu", những bài ca dao vận động đồng bào đánh giặc: Con chim có cánh thì bay Con ơi! Có nước thì mày phải thương Thà rằng chết ở chiến trường Còn hơn chết ở trên giường thê nhi Nhà thơ đã hoàn toàn hòa mình vào nhịp sống của toàn dân chiến đấu. Hòa bình lập lại, tập kết ra Hà Nội, Nguyễn Bính trở về ở với gia đình Trúc Đường. Hơn mười năm xa cách, âu lo, nhung nhớ, anh em nay lại bên nhau, tiếp tục bàn bạc về sáng tác... Nhưng một nửa trái tim của Nguyễn Bính còn ở miền Nam. Niềm vui chưa trọn vẹn đối với Nguyễn Bính cũng như cán bộ chiến sĩ miền Nam tập kết. Nguyễn Bính còn vợ và hai con gái ở Nam Bộ. Lại những nhớ thương khắc khoải: Mỗi tin bọn nó gây tang tóc Em ạ! Đêm đêm mộng chẳng lành Còn vang tiếng thét rừng Tân Lập Vẫn ứ thù sâu đập Vĩnh Trinh Đèn chong suốt sáng thơ đòi viết Cắn chặt vành môi lệ chảy quanh
- Xem thêm -