Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay

  • Số trang: 108 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HẠNH VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội Khoa học Mã số: 60.22.85 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Dƣơng Văn Thịnh HÀ NỘI, 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Ngày tháng năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hạnh LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, không thể không kể đến sự giúp đỡ rất nhiệt tình và sự động viên to lớn từ phía các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bệnh viện Ban ngày Mai Hương, từ gia đình và bạn bè đã giúp cho tôi hoàn thành nghiên cứu của mình. Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Dương Văn Thịnh đã tận tình hướng dẫn tôi từ những bước đi đầu tiên khi xây dựng đề cương cho tới khi hoàn thành luận văn này. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Triết học học, gia đình, đồng nghiệp và các em sinh viên đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Tuy đã có nhiều nỗ lực, nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quí Thầy Cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ngày tháng năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hạnh MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 3 1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 3 2. Tình hình nghiên cứu .............................................................................................. 4 3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn ................................................................... 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................... 6 5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................... 7 6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn ............................................................. 7 7. Kết cấu của luận văn................................................................................................ 7 CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG ĐÓ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM ... 8 1.1. Cơ sở ra đời và nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ...................................................................................... 8 1.1.1. Cơ sở ra đời .......................................................................................................... 8 1.1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam .............................................................. 22 1.2. Một số yêu cầu của việc vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam .................... 34 1.2.1. Khái niệm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ................................................. 34 1.2.2. Yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ................................................................................................... 37 Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................... 46 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................... 48 2.1. Thực trạng vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay..................................................... 48 1 2.1.1. Về thành tựu ...................................................................................................... 48 2.1.2. Về khuyết điểm, tồn tại...................................................................................... 68 2.2. Một số phƣơng hƣớng cơ bản nhằm tiếp tục vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay. ................................................................................................................................ 77 2.2.1. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.............................. 77 2.2.2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa..................................................................................... 82 2.2.3. Kết hợp hài hòa lợi ích của của các tầng lớp xã hội và các thành phần kinh tế trên lập trường giai cấp công nhân, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.................................................................................................................................. 87 2.2.4. Củng cố và tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ................. 90 Kết luận chƣơng 2 ...................................................................................................... 94 KẾT LUẬN ................................................................................................................. 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 98 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tình hình thế giới hiện nay đang đan xen những yếu tố phức tạp, phát triển và suy thoái, hợp tác và đấu tranh, ổn định và mất ổn định. Đó là kết quả của sự tác động nhiều chiều và phụ thuộc lẫn nhau của nhiều yếu tố, trong đó, phải kể đến mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc dân tộc và lợi ích giai cấp. Không thể tiếp cận vấn đề một cách phiến diện, càng không thể đưa ra một giải pháp đơn lẻ nào đó để khắc phục được tất cả, thậm chí một bộ phận các vấn đề đang nảy sinh trong mối quan hệ ấy, mà đòi hỏi phải có sự nỗ lực trên nhiều mặt, từ công tác lý luận đến hoạt động thực tiễn của các quốc gia, dân tộc. Công cuộc đổi mới ở nước ta diễn ra toàn diện, triệt để và sâu sắc trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội. Đó cũng là quá trình không ngừng nảy sinh những vấn đề mới. Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đa dạng hóa quan hệ sở hữu đã làm biến đổi cơ cấu giai cấp ở nước ta, tạo ra sự không thuần nhất, xung đột các lợi ích trái ngược nhau. Thêm vào đó hiện nay các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây tác động tiêu cực tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta. Do đó, Đảng ta chủ trương mở cửa nền kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải huy động sức mạnh to lớn của khối đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân. Đảng và Nhà nước phải thường xuyên nhận thức và kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh để thúc đẩy xã hội phát triển. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lợi ích dân tộc phải đặt cao hơn hết thảy, phải chống lại mọi sự vận dụng lí luận giai cấp và đấu tranh giai cấp một cách máy móc, giáo điều. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể khai thác được mọi nguồn lực để phát triển đất nước, tạo 3 điều kiện cho mọi người Việt Nam yêu nước có thể đóng góp phần công sức của mình vào sự phát triển dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp là sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm về giai cấp và dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đưa lại cho cách mạng Việt Nam những thắng lợi to lớn. Do đó, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này sẽ giúp cho chúng ta có những hướng đi thích hợp trong bối cảnh đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Chính vì những lí do đó mà tôi quyết định chọn vấn đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Bàn về vấn đề dân tộc, giai cấp và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp không phải là một đề tài mới, nhưng nó vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Có thể nêu ra một số công trình như: “Nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh” của Lương Thuỳ Liên, luận án Tiến sĩ Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, 2009. “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam” của Trần Văn Hải, luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001. “Lý luận Mác xít về quan hệ giai cấp và dân tộc với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” của Đinh Ngọc Quyên, luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003. Trong đó luận án “Nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh” của Lương Thuỳ Liên đã nghiên cứu và đánh giá nội dung và đặc điểm của nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Phân tích những nhân tố quy định sự hình thành và những biểu hiện chủ yếu của nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng 4 Hồ Chí Minh, làm rõ giá trị của nguyên tắc đó đối với Việt Nam hiện nay. “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam” của Trần Văn Hải đã hệ thống hoá những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng Việt Nam, nổi bật nhất là quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra còn có một số bài viết, chuyên khảo đăng tải trên các tạp chí như: “Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Duy Quý, Tạp chí Khoa học xã hội, số 5/ 2004; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giai cấp và dân tộc” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 4/1996; “Sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong sự nghiệp đổi mới” của Trần Hữu Tiến, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3 - 1996…Trong bài “Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh” tác giả Nguyễn Duy Quý khái quát quá trình Hồ Chí Minh tiếp cận lý luận dân tộc và giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, những kết luận Hồ Chí Minh rút ra qua việc nghiên cứu lý luận đó và thực tiễn lịch sử thế giới và đất nước. Tác giả cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới. Tác giả Nguyễn Ngọc Long trong bài nêu trên đã phân tích quan điểm của giai cấp vô sản với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa. Tác giả cũng khái quát những luận giải của Hồ Chí Minh về sự thống nhất không thể tách rời đó và khẳng định đó là một nội dung cơ bản và quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hầu hết, các công trình trên đã trình bày khá rõ ràng các vấn đề về dân tộc, vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, phân tích được mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, cũng như lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. Tuy nhiên, riêng những vấn đề triết học thì phần lớn các công trình trên chỉ dừng lại ở những vấn đề có tính chất phương pháp luận chung nhất. Trong khi đó, trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng quốc tế hóa và sự phát triển 5 không ngừng của khoa học - công nghệ, mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp cũng như việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ dân tộc và giai cấp đang nảy sinh nhiều vấn đề mới cần giải quyết. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống vấn đề“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” là một yêu cầu cấp thiết. 3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn * Mục đích: Trên cơ sở phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, thực trạng vận dụng tư tưởng đó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam trong những năm qua, từ đó đề xuất một số phương hướng cơ bản nhằm tiếp tục vận dụng tư tưởng đó ở Việt Nam hiện nay. * Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau: - Phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. - Trình bày thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong những năm đổi mới. - Đề xuất một số phương hướng nhằm tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong giai đoạn hiện nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và giai cấp ở Việt Nam hiện nay. 6 * Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp từ năm 1986 đến nay dưới góc độ triết học. 5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu * Cơ sở lí luận Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc, giai cấp, mối quan hệ dân tộc và giai cấp. * Phương pháp nghiên cứu Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, trong đó một số phương pháp chủ yếu như: sự thống nhất giữa lôgích và lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp khoa học liên ngành… 6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn * Ý nghĩa lí luận Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lí luận cho việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, góp phần thống nhất nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình đổi mới. * Ý nghĩa thực tiễn Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến dân tộc, giai cấp. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 7 CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG ĐÓ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1.1. Cơ sở ra đời và nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp 1.1.1. Cơ sở ra đời * Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ dân tộc và giai cấp Giai cấp và dân tộc là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giai cấp ra đời trước dân tộc rất lâu. Còn dân tộc ở Châu Âu ra đời gắn với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan điểm của Mác và Ăngghen về quan hệ dân tộc và giai cấp được thể hiện trong nhiều tác phẩm như “Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản”, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” song tập trung nhiều nhất là ở tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”. Vấn đề dân tộc được Mác và Ăngghen xem là một bộ phận của hệ vấn đề dân tộc và giai cấp tức là xem xét vấn đề dân tộc dưới góc độ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản. Nó là một bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, đồng thời cũng là giải phóng toàn thể những người lao động khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột. Mác và Ăngghen đã đề cập đến sự ra đời của dân tộc gắn liền với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, của chủ nghĩa tư bản. Lẽ tất nhiên đó là dân tộc tư sản mà giai cấp tư sản là đại biểu. Ở châu Âu khi chủ nghĩa tư bản ra đời đã tồn tại các lãnh địa phong kiến cát cứ, phân tán và biệt lập. Ở Đức, chẳng hạn, trước công cuộc thống nhất của Bixmac đã tồn tại tới 38 công quốc lớn, nhỏ, mà Phổ là lớn nhất. Các công quốc này có quân đội, tài chính, đơn vị đo lường và tiền tệ, quan thuế riêng. Do đó việc xóa bỏ tình trạng phân tán, cát cứ, xây dựng thị trường dân tộc thống nhất là nhiệm vụ dân tộc của cách mạng tư sản, và giai cấp tư sản đã hoàn thành nhiệm vụ này. Các ông đã viết về vấn đề này như sau: “Giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ 8 tình trạng phân tán của tư liệu sản xuất, của tài sản và của dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất yếu của những thay đổi ấy là sự tập trung về Chính trị. Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất có tính chất giai cấp và một thuế quan thống nhất” [54, tr.546 – 547]. Như vậy, dân tộc trong quan điểm của Mác và Ăngghen là cộng đồng người gắn với xã hội có giai cấp, có nhà nước và có các thể chế chính trị. Nhưng khác với các hình thức cộng đồng người trước đó, những mối liên hệ dân tộc chặt chẽ hơn, bền vững hơn, một mặt do chúng được hình thành trong quá trình lịch sử rất lâu dài, đã trải qua nhiều thử thách, mặt khác, do chúng được hình thành và củng cố trên cơ sở mới là quan hệ trong một địa bàn, tầng lớp có những lợi ích chung và riêng và có quan hệ với lợi ích dân tộc ở những mức độ khác nhau. Trong các quan hệ ấy, quan hệ dân tộc và giai cấp là quan hệ chi phối. Quan hệ giai cấp với tư cách là sản phẩm của một phương thức sản xuất nhất định là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc, tính chất dân tộc, xu hướng phát triển của dân tộc. Trong kết cấu giai cấp của xã hội, giai cấp nào mạnh nhất về kinh tế thì sẽ giữ vai trò thống trị đối với dân tộc. Tính chất của giai cấp thống trị bị quy định bởi tính chất của phương thức sản xuất và quy định tính chất của dân tộc, áp bức giai cấp sẽ sinh ra áp bức dân tộc: “hãy xóa bỏ nạn người bóc người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng mất” [54, tr.565]. Mác và Ăngghen đã phân tích và chỉ rõ tính chất đặc biệt của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Cuộc cách mạng vô sản, theo Mác và Ăngghen là cuộc cách mạng mang tầm vóc thế giới, và là cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Bởi vì, nó là cuộc cách mạng 9 duy nhất trong lịch sử không phải nhằm thay thế sự thống trị của giai cấp bóc lột này bằng giai cấp bóc lột khác, mà là nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu sản sinh ra sự bóc lột, mà biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của nó là chế độ tư sản, từ đó xóa bỏ hoàn toàn cơ sở cho bóc lột, áp bức giai cấp, áp bức dân tộc và áp bức con người nói chung. Do vậy, không thể giải quyết được vấn đề dân tộc nếu không tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân để thủ tiêu chế độ người bóc lột người. Mác và Ăngghen khẳng định rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản mới xóa bỏ triệt để ách áp bức dân tộc. Do đó, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trước tiên phải được thực hiện trên địa bàn một quốc gia – dân tộc nhất định. Là đại biểu chân chính của lợi ích và truyền thống dân tộc, giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết mọi lực lượng yêu nước cách mạng xây dựng mặt trận dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu đến nay thống nhất rằng trong quan hệ dân tộc – giai cấp thì Mác và Ăngghen tập trung làm sáng tỏ vấn đề giai cấp. Sở dĩ như vậy là bởi thời của các ông trong xã hội Tây Âu mâu thuẫn cơ bản nổi cộm là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Chính vì vậy, Mác và Ăngghen tập trung giải quyết vấn đề giai cấp. Vấn đề dân tộc mà hai ông nói đến mới chỉ được đặt ra chủ yếu với giai cấp vô sản ở các nước tư bản phát triển, chưa phải đối với giai cấp vô sản ở các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc. V.I. Lênin là người kế tục sự nghiệp cao cả của Mác và Ăngghen. Song, sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã bổ sung thêm vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác những luận điểm mới về mối quan hệ dân tộc và giai cấp với những điều kiện mới của thời đại. Trong vấn đề dân tộc, Lênin đã nêu lên hai xu hướng của chủ nghĩa tư bản: một là thức tỉnh và phát triển đời sống dân tộc và các phong trào dân tộc, hình thành các quốc gia dân tộc. Xu hướng này tương ứng với việc xóa bỏ chế độ phong kiến cát cứ xây dựng những quốc gia tư sản độc lập, phong trào dân 10 tộc trở thành phong trào có tính chất quần chúng, các quốc gia dân tộc lần lượt ra đời. Và hai là phá vỡ những hàng rào ngăn cách các dân tộc. Xu hướng này tương ứng với giai đoạn các quốc gia tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển, làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, hình thành thị trường thế giới. Trách nhiệm của giai cấp vô sản Nga là phải lật đổ mọi ách áp bức phong kiến, xóa bỏ mọi áp bức dân tộc, xóa bỏ mọi đặc quyền của bất kì dân tộc nào. Giai cấp vô sản Nga, về vấn đề dân tộc, một mặt phải chống mọi thứ chủ nghĩa dân tộc, trước hết là chủ nghĩa dân tộc đại Nga giữ vững quyền bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc, giải quyết vấn đề quyền tự quyết về chính trị của các dân tộc, mặt khác cần giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế, giữ vững cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và sự thống nhất về tổ chức của giai cấp vô sản, gắn công nhân các dân tộc trong nước thành một khối. Lênin viết: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” [15, tr.84]. Lênin đã giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở gắn nó với thời đại chủ nghĩa đế quốc, từ đó mở rộng phạm vi vấn đề dân tộc từ những dân tộc nhỏ bé ở Châu Âu thành vấn đề giải phóng, độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đặc biệt là khi giai cấp tư sản ở các nước trên thế giới đã liên minh với nhau để cùng đối phó với giai cấp vô sản thì cách mạng xã hội chủ nghĩa càng không thể chỉ là của giai cấp vô sản cách mạng ở từng nước riêng biệt chỉ chống lại giai cấp tư sản nước mình. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản là cuộc đấu tranh mang tính liên hợp giữa những người vô sản trên toàn thế giới với nhân dân tất cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc. Như vậy, từ việc tìm bạn đồng minh cho giai cấp vô sản, Lênin đã chỉ ra và hướng phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vào con đường cách mạng vô sản, giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp theo lập trường vô sản. Xem xét vấn đề dân tộc – thuộc địa để chuẩn bị cho cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi ở nước Nga, Lênin nhận ra rằng giai cấp vô sản không chỉ có bạn đồng minh to lớn 11 mà để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nó cần phải liên hiệp với lực lượng này, đó là nhân dân các dân tộc thuộc địa. Người cho rằng nếu: “Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được” [45, tr.206]. Ngay cả sau này khi cách mạng Nga đã thành công, trong nhiều văn bản chỉ thị của Người đối với Đảng Bônsêvích Nga và Quốc tế cộng sản, Người cũng rất chú ý và nhấn mạnh về sự cần thiết phải thực hiện sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa để thực sự đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng, để cho giai cấp vô sản giữ được thành quả cách mạng của mình trước sự tấn công điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc. Không dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung Lênin khẳng định sự cần thiết “phải thi hành một chính sách thực hiện sự liên minh chặt chẽ nhất của tất cả các phong trào giải phóng dân tộc và thuộc địa với nước Nga Xôviết, bằng cách đem lại cho sự liên minh ấy những hình thức phù hợp với trình độ phát triển của phong trào cộng sản trong nội bộ giai cấp vô sản ở mỗi nước, hay của phong trào giải phóng dân tộc dân chủ tư sản của công nhân và nông dân ở các nước chậm tiến hay ở các dân tộc chậm tiến” [45, tr.200]. Cũng trong tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, Lênin đã xác định vai trò của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa phải “ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng dân tộc ấy” [45, tr.203]. Quan điểm này của Lênin hoàn toàn khác với quan điểm giai cấp cực đoan phổ biến ở Quốc tế Cộng sản những năm 30 thế kỷ XX. Tuy nhiên, do nước Nga thời Lênin còn sống vốn là “nhà tù lớn” của các dân tộc nên vấn đề dân tộc được đặt ra với Lênin chỉ như là hệ quả của vấn đề giai cấp. Tóm lại con đường mà Lênin chỉ ra là: Giải phóng giai cấp đi đến giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại. Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp quan hệ biện chứng với nhau không thể tách rời. Việc giải 12 quyết vấn đề giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn đề dân tộc. Ngược lại, bất cứ ở đâu và khi nào sự hình thành và phát triển của dân tộc, việc giải quyết vấn đề dân tộc đều gắn liền với lợi ích giai cấp, được sự chỉ đạo bởi quan điểm của giai cấp nhất định. Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà việc giải quyết vấn đề dân tộc hay vấn đề giai cấp trở thành nhiệm vụ chủ yếu trong từng giai đoạn cách mạng. Quan hệ dân tộc và giai cấp theo chủ nghĩa Mác - Lênin như là quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, như là quan hệ giữa phần tử chính, chủ yếu của hệ thống với toàn hệ thống đó. Khi mà phần tử này giữ vai trò chủ đạo, chi phối các phần tử khác, và phù hợp ở một mức độ nhất định đối với toàn hệ thống phần tử này sẽ giữ vai trò thống trị. Nhưng một khi vai trò chủ đạo ấy mất đi thì nhất định một phần tử chính, chủ yếu khác của hệ thống sẽ xuất hiện và thay thế. Sự xuất hiện và trưởng thành của giai cấp công nhân trong các dân tộc và trên thế giới cũng tương tự như vậy. Chủ nghĩa Mác – Lênin kết luận rằng: trong thời đại ngày nay, dân tộc gắn liền với giai cấp công nhân và để làm tròn sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân phải nắm lấy ngọn cờ dân tộc. Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Luận cương của Lênin đã giải đáp cho Người con đường giành độc lập cho đất nước, tự do cho đồng bào. Có thể khẳng định rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Chính trên cơ sở của lý luận Mác - Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những nhân tố tích cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để tạo nên tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Vì vậy, trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò to 13 lớn, là cơ sở, nguồn gốc chủ yếu trong việc hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh. * Quan hệ dân tộc – giai cấp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Từ nửa sau của thế kỷ XIX trở đi, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc. Chính phủ tư sản của các nước đế quốc đã dùng vũ lực và sức mạnh đi xâm lược và đặt ách đô hộ lên giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước nhược tiểu. Mâu thuẫn cơ bản của thời đại đế quốc đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, và mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa. Từ chỗ thống nhất với lợi ích dân tộc, đi tiên phong trong phong trào dân tộc, giai cấp tư sản từ cuối thế kỷ XIX đã đứng lên trên dân tộc, mượn danh công lý và chính nghĩa của dân tộc tư sản đi xâm lược, đặt ách áp bức lên các dân tộc thuộc địa, gây ra nhiều xung đột và mâu thuẫn. Đỉnh cao của sự xung đột ấy vào đầu thế kỷ XX là chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918. Chiến tranh đế quốc đã tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tại các nước đế quốc tham chiến có điều kiện phát triển. Đấu tranh giải phóng của các dân tộc thúc đẩy sự suy yếu của chủ nghĩa đế quốc và sự trưởng thành lớn mạnh của giai cấp công nhân. Tiêu biểu của phong trào đấu tranh thế kỷ XX là sự bùng nổ và giành thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Đó là thắng lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga nói riêng và thế giới nói chung; là sự khẳng định vai trò đầu tàu lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới. Nhìn chung, từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX, lịch sử loài người đã mở ra một thời đại mới, đó là thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Là một bộ phận không thể tách rời của thế giới, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. 14 Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Đây là kẻ thù mới có tiềm lực kinh tế và quân sự rất mạnh. Trong lúc đó, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt, xã hội phong kiến đang suy tàn với hai giai cấp đối kháng chủ yếu. Trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, quan hệ giữa giai cấp địa chủ với các tầng lớp nhân dân, quan hệ giữa triều đình và nhân dân trở nên khủng hoảng chia rẽ gay gắt. Hậu quả của sự khủng hoảng ấy là nước Việt Nam mất độc lập (1884) sau 27 năm kể từ khi thực dân Pháp xâm lược. Chính sách cai trị và các chương trình khai thác thuộc địa của thực dân pháp dẫn đến những biến đổi xã hội sâu sắc, hình thành cơ cấu giai cấp – xã hội mới khác với cơ cấu giai cấp – xã hội cổ truyền. Bên cạnh những giai cấp cũ là địa chủ phong kiến và nông dân, giờ đây xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới, đó là công nhân, tư sản và tiểu tư sản. Thân phận, quyền lợi và thái độ chính trị của các giai cấp đối với vấn đề dân tộc, dân chủ không giống nhau. Sự phân hóa trong cùng một giai cấp đã diễn ra. Giai cấp địa chủ, phong kiến phân hóa thành hai bộ phận là đại địa chủ phong kiến (vua quan phong kiến) và trung, tiểu địa chủ phong kiến. Đến năm 1884, Nhà nước và giai cấp phong kiến đã hoàn toàn đầu hàng. Vua tồn tại chỉ là bù nhìn, nhà nước phong kiến còn nhưng chỉ là thủ đoạn để thực hiện chính sách thực dân của Pháp, là hình thức, công cụ để thực dân Pháp sử dụng. Bộ phận trung tiểu địa chủ thì mâu thuẫn với đế quốc và chống đế quốc. Giai cấp nông dân Việt Nam là một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến. Giờ đây, ngoài bị bóc lột phong kiến họ còn chịu thêm bóc lột thực dân. Nông dân phân hóa theo thời gian thành cố nông, bần nông, trung nông, phú nông. Giai cấp nông dân Việt Nam là một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến. Thuế khoá nặng nề, lao dịch chồng chất đã làm đời sống người nông dân Việt Nam rất cơ cực. Bị mất ruộng và phá sản, nông dân phải cày thuê cho địa chủ, một bộ phận phải bỏ làng đi xiêu tán ra các thành thị kiếm việc làm, chạy vào các đồn điền, hầm mỏ làm thuê trở thành đội 15 quân vô sản. Nông dân Việt Nam chiếm trên 90% dân số, họ tuy là lực lượng đông đảo nhưng còn non yếu vì thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Muốn trở nên hùng mạnh họ cần một giai cấp tiên tiến lãnh đạo và giai cấp nào muốn lãnh đạo cách mạng thành công tất yếu phải lôi kéo bộ phận hùng hậu này đi theo. Cùng với sự phát triển của đô thị, tầng lớp tiểu tư sản cũng từng bước hình thành và ngày càng đông. Họ bao gồm: Tri thức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, dân nghèo thành thị, những người làm các nghề tự do…Họ không phải là giai cấp mà là một tầng lớp xã hội. Đời sống của tiểu tư sản trong những năm 20 của thế kỷ XX ngày một khó khăn do sưu thuế chồng chất và giá cả đắt đỏ. Chính sách độc quyền kinh tế của Pháp đã làm phá sản giới thợ thủ công. Chính sách đối xử phân biệt và văn hóa giáo dục ngu dân đã làm cho tầng lớp tri thức thấy chua chát, bị miệt thị. Họ cảm thấy nền văn hóa dân tộc bị bọn thống trị nước ngoài coi rẻ và chà đạp. Cảnh phồn hoa bề ngoài của đô thị không che lấp được nỗi khổ của họ, những người dân mất nước không có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học hành, đi lại và nhiều quyền tự do sơ đẳng khác. Học sinh, trí thức có thể bị đuổi học, đuổi việc, giam cầm; tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công có thể bị phá sản, bị thất nghiệp do thuế má nặng nề của đế quốc và sự cạnh tranh của tư sản. Bị áp bức về chính trị, chèn ép về chuyên môn, bóc lột về kinh tế nên tiểu tư sản có tinh thần yêu nước, căm thù đế quốc khá cao. Xã hội Việt Nam trong quan hệ với tiểu tư sản có hai mâu thuẫn chính là tiểu tư sản mâu thuẫn với đế quốc và tiểu tư sản mâu thuẫn với địa chủ. Đô thị và công nghiệp phát triển thì giai cấp tư sản theo đó cũng từng bước xuất hiện. Họ xuất thân từ địa chủ, quan lại, tiểu tư sản…Chính sách bảo thủ, phản động về kinh tế, không chủ trương phát triển công nghiệp ở thuộc địa và chính sách chuyên chế về chính trị của thực dân Pháp đã làm cho giai cấp tư sản Việt Nam ra đời khá muộn, què quặt. Chỉ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam mới hình thành. Họ có mặt 16 ở hầu hết khắp các ngành (Bông vải sợi, nhuộm, đồ gốm, máy xay, máy in, làm sơn, ép dầu, làm đường, xà phòng, nước mắm, sửa chữa ôtô…). Sau thời gian phát triển, giai cấp tư sản phân hóa thành hai bộ phận: Tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam và sự phát triển của công thương nghiệp thuộc địa đã dẫn đến sự ra đời của giai cấp công nhân. Là sản phẩm của quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX số lượng đã tăng lên đáng kể. Họ sống và làm việc tập trung trong các xí nghiệp, hầm mỏ, trung tâm công nghiệp. Cái họ cần là một luồng tư tưởng mới với một bộ tham mưu dẫn dắt. Về thành phần, công nhân xuất thân từ những người thợ thủ công, những người tiểu thủ công nghiệp phá sản, nhưng chủ yếu là từ những người nông dân bị bần cùng hóa. Song công nghiệp Việt Nam chưa phát triển cho nên công nhân chưa thoát ly hoàn toàn khỏi nông dân. Họ là những công nhân theo mùa vụ, theo hợp đồng với chủ xưởng. Khi hết mùa vụ họ có thể trở lại địa phương, với gia đình và trở về số phận của nông dân. Đế quốc, phong kiến và tư sản ra sức bóc lột công nhân vô cùng thậm tệ theo ba thủ đoạn: Chế độ lao động tự do, chế độ lao động theo giao kèo, chế độ lao động cưỡng bức. Trong quan hệ với công nhân, xã hội Việt Nam có ba mâu thuẫn chính là: Công nhân mâu thuẫn với đế quốc; công nhân mâu thuẫn với phong kiến; công nhân mâu thuẫn với tư sản bản xứ. Đối với giai cấp công nhân, kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc là một. Do thành phần xuất thân, công nhân Việt Nam đã kế thừa được truyền thống bất khuất của dân tộc. Nằm trong mạch máu kinh tế của xã hội, vừa mới ra đời, tuy số lượng còn ít, nhưng những đặc điểm chung và riêng của công nhân Việt Nam cho thấy rằng, họ vừa là người lao động đau khổ, vừa là người tiên tiến cho nên công nhân là người đại điện xuất sắc nhất cho tất cả các giai cấp tầng lớp bị áp bức ở Việt 17
- Xem thêm -