Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bài thơ “sóng” của xuâ

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 161 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 7932 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN Em chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng đã hƣớng dẫn nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em sớm hoàn thành khoá luận này. Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ giáo viên và học sinh Trƣờng THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La, đã tạo điều kiện cho em tiến hành khảo sát thực tế dạy và học tác phẩm trữ tình để em hoàn thành kháo luận này. Vì bƣớc đầu nghiên cứu, thời gian có hạn, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn hạn chế nên quá trình nghiên cứu khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn sinh viên. Em xin trân trọng cảm ơn ! Sơn La, tháng 5 năm 2014 Sinh viên Đỗ Thị Mai DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1. GV: Giáo viên 2. HS: Học sinh 3. SGK: Sách giáo khoa 4. THPT: Trung học phổ thông 5. PPDH: Phƣơng pháp dạy học 6. BP: Biện pháp 7. BPDH: Biện pháp dạy học 8. GD & ĐT: Giáo dục và Đào tạo 9. NXB: Nhà xuất bản 10. TTC: Tính tích cực MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1 1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 3 3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 4 4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu .................................................................... 4 5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 4 6. Giới hạn của đề tài........................................................................................... 4 7. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 5 8. Đóng góp của khoá luận .................................................................................. 5 9. Cấu trúc của khoá luận .................................................................................... 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.................................................... 7 1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài ......................................................... 7 1.1.1. Tính tích cực............................................................................................. 7 1.1.2. Phƣơng pháp dạy học tích cực ................................................................... 7 1.1.3. Khái niệm thơ trữ tình ............................................................................... 7 1.2. Đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình với việc dạy học thơ trong nhà trƣờng phổ thông ............................................................................................................ 8 1.2.1. Đặc điểm về nội dung ................................................................................ 8 1.2.2. Đặc điểm về hình thức ............................................................................. 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................... 25 2.1. Khảo sát thực trạng dạy học thơ trữ tình ở Trƣờng THPT Gia Phù Phù Yên – Sơn La ............................................................................................................ 25 2.1.1. Mục đích khảo sát................................................................................... 25 2.1.2. Nội dung khảo sát ................................................................................... 25 2.1.3 Đối tƣợng khảo sát .................................................................................. 25 2.1.4. Thời gian, địa bàn khảo sát ..................................................................... 25 2.1.5. Cách thức khảo sát.................................................................................. 25 2.2. Đánh giá kết quả khảo sát ........................................................................... 25 2.2.1. Thực trạng dạy bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trƣờng THPH Gia Phù Phù Yên - Sơn La ............................................................................................. 25 2.2.2. Thực trạng học bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trƣờng THPT Gia Phù Phù Yên - Sơn La ............................................................................................. 28 2.3. Một số kết luận qua dạy học tác phẩm Sóng - Xuân Quỳnh ........................ 30 2.3.1. Ƣu điểm ................................................................................................. 31 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ......................................................................... 32 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH ............................................................................................................ 35 3.1. Vận dụng một số biện pháp dạy học tích cực .............................................. 35 3.1.1. Hƣớng dẫn học sinh tự học theo sách giáo khoa ..................................... 35 3.1.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi sáng tạo trong dạy học bài thơ ...................... 36 3.1.3. Hoạt động thảo luận nhóm ....................................................................... 38 3.1.4. Hƣớng dẫn học sinh đọc diễn cảm bài thơ ............................................... 39 3.2.2. Thiết kế giáo án bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ........................................... 45 KẾT LUẬN....................................................................................................... 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 49 PHỤ LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học đặt ra trong thực tế với hai hình thức: Thay đổi phƣơng pháp có tính toàn diện, triệt để; và cải tiến, đổi mới phƣơng pháp từng phần trong công việc hàng ngày. Hiện nay, cùng với việc đổi mới chƣơng trình và sách giáo khoa, việc thay đổi phƣơng pháp có tính chiến lƣợc về cơ bản đã xong. Nhƣng việc cải tiến, đổi mới phƣơng pháp từng phần vẫn luôn luôn đặt ra với mỗi giáo viên trong từng ngày lên lớp. Việc đổi mới nhận thức về quá trình giáo dục theo tinh thần nói trên đòi hỏi ngƣời giáo viên phải có một sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức cho tới thái độ và niềm tin vào vấn đề cơ bản: vai trò chủ thể tích cực học sinh trong học tập. Thực tiễn của hoạt động dạy học trong nhà trƣờng thời gian qua cho thấy tác động lớn lao của việc thay đổi quan điểm giáo dục. Đó là bƣớc chuyển biến từ lối dạy học cổ truyền lấy “thầy” làm trung tâm chi phối toàn bộ và tuyệt đối quá trình giáo dục, áp đặt, nhồi nhét những giá trị đạo đức và kiến thức, kĩ năng lên ngƣời học, sang việc lấy “trò” là trung tâm, là chủ thể. Bằng vai trò tích cực chủ động, ngƣời học tự nỗ lực tìm tòi khám phá tri thức, nắm kĩ năng với sự hƣớng dẫn của thầy. Đây chính là tinh thần cơ bản của giáo dục hiện đại, quan điểm giáo dục tích cực. Với quá trình triển khai thay đổi chƣơng trình và SGK Ngữ văn THPT, việc vận dụng quan điểm dạy học tích cực lấy học sinh là trung tâm nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể ngƣời học trong giờ học văn đã mang tới những triển vọng khả quan. Bƣớc chuyển của tình hình dạy học văn theo quan điểm giáo dục tích cực đã tạo những thay đổi quan trọng về nhận thức và hành động tại các trƣờng THPT. Thế hệ học sinh ngồi trên ghế nhà trƣờng hôm nay có điều kiện tiếp nhận cách thức dạy học tiến tiến, từ đó các em có khả năng tích lũy hiểu biết và trau dồi thái độ, cảm xúc để hoàn thiện nhân cách theo mục tiêu đào tạo đã đề ra. 1.2. Môn Ngữ văn với đặc thù vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, là một môn học rất hấp dẫn, lý thú, bổ ích, có khả năng giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn. Tuy nhiên, có một thực tế dễ thấy là những vƣớng mắc, lúng túng trong quá trình đổi mới phƣơng thức dạy học do sự níu kéo của thói quen cũ đã làm hạn chế một phần vai trò chủ thể tích cực của học sinh để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo. Từ đó dẫn tới hiện tƣợng học sinh kém hào hứng học văn, chất 1 lƣợng dạy học văn có phần giảm sút, các em học với tâm thế bị cƣỡng ép, mang tính bắt buộc, đối phó. Tình hình trên đang thu hút sự chú ý của dƣ luận xã hội. Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến PPDH bộ môn có vai trò rất quan trọng, quyết định đối với việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất lƣợng dạy học. Chúng tôi cho rằng việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào dạy học Ngữ văn nói chung, thơ trữ tình nói riêng chính là một trong những giải pháp nhằm đổi mới PPDH đáp ứng yêu cầu trên. 1.3. Trong chƣơng trình phổ thông, tác phẩm trữ tình là một kiểu loại văn bản chính. Có thể nói, đây là loại văn bản “khó đọc” nhất trong tất cả các kiểu loại văn bản bởi đặc trƣng nắm bắt thế giới một cách đặc biệt, bởi kiểu cấu trúc hình tƣợng “phi logic”, đúng hơn là chỉ tuân theo logic của cảm xúc. Cũng không ít ngƣời cho rằng việc đọc và thƣởng thức tác phẩm trữ tình nói chung, thơ trữ tình nói riêng là lĩnh vực của những gì thiêng liêng, huyền bí chỉ những cá nhân mang những phẩm chất “thiên phú” đặc biệt mới có thể bƣớc chân vào. Không cực đoan nhƣ thế nhƣng số đông đều cho rằng tác phẩm trữ tình “khó đọc”, “kén” ngƣời đọc hơn tác phẩm tự sự. Học sinh trong nhà trƣờng cũng vậy. Thơ (nói rộng ra là tác phẩm trữ tình) đối với các em thì có vẻ ngắn hơn, dễ thuộc hơn tác phẩm tự sự nhƣng cảm nhận, phân tích, lí giải, bình giá những vẻ đẹp của nó thì bội phần khó khăn thử thách. Chƣơng trình và SGK mới đƣợc xây dựng theo hƣớng tăng cƣờng khả năng hoạt động của ngƣời học. Vì vậy, việc vận dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực để dạy học Ngữ văn là một hình thức góp phần tạo điều kiện giúp HS phát huy vai trò chủ động, năng động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của một công dân trong thời kì hội nhập khu vực và thế giới của đất nƣớc. 1.4. Ở tỉnh Sơn La, do hoàn cảnh và điều kiện thực tế ở một địa phƣơng thuộc vùng xa, vùng sâu của miền núi Tây Bắc, việc đổi mới quan điểm dạy học văn nói riêng theo tinh thần phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Bản thân chúng tôi cũng muốn tìm hiểu và góp phần vào việc cải thiện tình hình dạy học văn tại trƣờng học ở địa bàn của mình. Với các lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh cho học sinh lớp 12 Trường THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La”. Trƣớc hết nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới phƣơng pháp và nâng cao chất lƣợng dạy học cho chính mình, sau nữa có thể góp một phần vào tháo gỡ những khó khăn, lúng túng của các bạn đồng nghiệp. 2 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Phƣơng pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, đƣợc dùng ở nhiều nƣớc để chỉ những phƣơng pháp giáo dục, dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học. PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời dạy. Tuy nhiên, để dạy học theo phƣơng pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phƣơng pháp thụ động. Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy và học đã đƣợc xác định trong Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII (12 - 1996), đƣợc thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), đƣợc cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999). Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hƣớng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào giảng dạy văn bản thơ trữ tình hiện đại trong nhà trƣờng có một vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực dạy và học văn trong giai đoạn hiện nay. Nó có tác dụng phát huy tối đa khả năng của học sinh trong việc tự chiếm lĩnh tri thức văn bản thơ trữ tình trên cơ sở gợi ý của giáo viên. Vấn đề vận dụng các biện pháp dạy học tích cực trong nhà trƣờng nói chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng đƣợc nói đến khá nhiều. Tiêu biểu có các tài liệu, giáo trình về giáo dục học, Lí luận dạy học: - Mảng sách dịch của nƣớc ngoài (chủ yếu từ Liên Xô cũ): Giáo dục học của Babanxki; Lí luận dạy học của Exipop, Lecne, Scatkin; Giáo trình Phương pháp luận dạy văn học do Z. Ia rez chủ biên. Gần đây, nhờ mở rộng giao lƣu, một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục các nƣớc Phƣơng Tây đƣợc giới thiệu (Ruxso, Dewey, Skinner…) - Tài liệu biên soạn trong nƣớc có: Các giáo trình giáo dục học và tâm lí học (Tủ sách Đại học sƣ phạm); Giáo trình Phƣơng pháp dạy học văn (do Phan Trọng Luận chủ biên); Tiếp cận văn học (Nguyễn Trọng Hoàn); Lý luận và phê bình văn học (Trần Đình Sử); Nguyễn Viết Chữ có các công trình nghiên cứu nhƣ: Phƣơng pháp dạy học tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng ; Phƣơng pháp dạy học tác phẩm văn 3 chƣơng theo loại thể. Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Nhƣ Mai, biên soạn cuốn: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, … Ngoài ra, chúng ta không thể bỏ qua một nguồn tài liệu tham khảo quý báu đó là các sáng kiến kinh nghiệm về dạy học văn theo hƣớng vận dụng các biện pháp tích cực đƣợc đúc kết từ phong trào thi đua “dạy tốt học tốt” trong nhà trƣờng thời gian qua. 3. Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy thơ trữ tình nói chung và bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh nói riêng. Từ đó đề xuất vận dụng một số phƣơng pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh cho học sinh lớp 12 Trƣờng THPT Gia Phù - Phù Yên- Sơn La nhằm giúp học sinh hứng thú học tập và nâng cao đƣợc chất lƣợng giờ học. 4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu 4.1. Phạm vi nghiên cứu Dựa trên những kiến thức giáo dục học, tâm lí học và lí luận dạy học, đề tài xác định vấn đề vận dụng các biện pháp dạy học tích cực trong giờ đọc - hiểu thơ trữ tình ở trƣờng THPT. Vấn đề áp dụng các biện pháp dạy học tích cực vào dạy học tác phẩm trữ tình xét theo góc độ tác động, kích thích, hƣớng dẫn của giáo viên để giúp học sinh vƣợt qua những trở ngại khó khăn nhằm đảm bảo vai trò chủ thể của ngƣời học trong quá trình hiểu biết, cảm thụ tác phẩm trữ tình. 4.2. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài hƣớng tới đối tƣợng nghiên cứu nhƣ sau: Vấn đề vận dụng một số biện pháp dạy học tích cực trong giờ đọc - hiểu văn bản - tác phẩm thơ trữ tình. Vận dụng một số biện pháp dạy học nhằm hƣớng tới việc tích cực hoạt động học tập của học sinh trong giờ dạy học văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (lớp 12). 5. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu những kiến thức lý luận về các biện pháp dạy học tích cực và việc vận dụng các biện pháp đó trong giờ đọc - hiểu văn bản tác phẩm. Tìm hiểu tình hình thực hiện dạy học văn trên cơ sở áp dụng các biện pháp tích cực tại một số trƣờng THPT thuộc địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Lựa chọn một số biện pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tối đa hiệu quả giảng dạy trong giờ đọc - hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình hiện đại. 6. Giới hạn của đề tài Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu vận dụng các biện pháp dạy học tích 4 cực nhằm vào việc phát huy tối đa khả năng dạy và học thơ trữ tình hiện đại trong trƣờng phổ thông, qua giờ dạy học văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu 7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận - Đọc, nghiên cứu tài liệu có lien quan tới khoá luận. - Lựa chọn, tổng hợp, hệ thống hoá các vấn đề, khái quát trong tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận. 7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp quan sát, điiều tra, tiến hành thực tiễn dạy và học thơ tại Trƣờng THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La điiều tra khảo sát giáo viên và học sinh. - Phƣơng pháp phân tích, thống kê, tổng hợp xử lí các số liệu. 7.3. Phƣơng pháp thể nghiệm - Từ thực trạng nghiên cứu, đề xuất các phƣơng pháp dạy học nhằm nâng cao chat lƣợng dạy học thơ. - Thể nghiệm phƣơng pháp đề xuất đó tại Trƣờng THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La. - Đánh giá kết quả. 7.4. Phƣơng pháp thống kê Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các biện pháp thống kê, so sánh, đối chiếu,… để đi đến những kết luận cần thiết cho luận văn. 8. Đóng góp của khoá luận 8.1. Về lí luận Tìm hiểu những lí luận khoa học về các biện pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Ngữ văn nói chung, thơ trữ tình hiện đại nói riêng tại trƣờng THPT. Tìm tòi những biện pháp thích hợp nhằm đạt hiệu quả tối ƣu khi vận dụng vào văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh. 8.2. Về thực tiễn Góp phần khắc phục thiếu sót, nhƣợc điểm thƣờng gặp trong dạy học là chƣa chú ý đúng mức hoặc còn lúng túng trong việc áp dụng các biện pháp dạy học văn bản thơ trữ tình hiện đại. Thúc đẩy tối đa khả năng tích cực chủ động của học sinh trong giờ đọc - hiểu thơ trữ tình, tránh lối dạy thụ động một chiều theo kiều giảng giải - ghi nhớ, đọc - chép còn ảnh hƣởng khá nặng tại trƣờng THPT, đặc biệt ở vùng miền núi. 5 9. Cấu trúc của khoá luận Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn Chƣơng 3: Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học bài thơ sóng của Xuân Quỳnh 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1.1. Tính tích cực Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con ngƣời trong đời sống xã hội. Khác với động vật, con ngƣời không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trƣờng tự nhiên, cải tạo xã hội. Hình thành và phát triển tính tích cực của xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con ngƣời năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực nhƣ là một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục. Tính tích cực trong học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trƣng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trong quá trình nhận thức, ngoài lĩnh hội tri thức loài ngƣời tích luỹ đƣợc, học sinh còn phải “khám phá” đƣợc những hiểu biết mới đối với bản thân, ghi nhớ những gì đã nắm đƣợc qua hoạt động nỗ lực của chính mình. 1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực PPDH là phƣơng pháp dạy học ở đó GV chú trọng đến hoạt động tích cực của ngƣời học. Ở phƣơng pháp này sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy và trò theo hƣớng tích cực. Ngƣời HS ở đây trở thành chủ thể tích cực trong quá trình tiếp nhận và đồng sáng tạo. Mà GV là ngƣời định hƣớng, tổ chức dẫn dắt trong quá trình phát triển tƣ duy và hoạt động học tập của học sinh. Cốt lõi của PPDH tích cực là nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, có nghĩa là thay đổi cách dạy và cách học. Chuyển cách dạy học thụ động, dạy theo lối áp đặt, nhồi nhét kiến thức, truyền thụ một chiều “đọc - chép”, GV là trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học quan tâm đến hoạt động của học sinh, tác động làm cho học sinh phải suy nghĩ, có hứng thú tìm tòi, khám phá, tranh luận, chủ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Học sinh không chỉ đƣợc cung cấp tri thức mà còn có phƣơng pháp học (cốt lõi của học là học cách học, cốt lõi của dạy là dạy cách học). Trong cách dạy học này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là ngƣời thiết kế, tổ chức và hƣớng dẫn, tạo nên sự tƣơng tác tích cực giữa ngƣời dạy và ngƣời học. 1.1.3. Khái niệm thơ trữ tình Thơ trữ tình là các sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ thông qua ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh. Thơ trữ 7 tình làm sống dậy thế giới chủ thể (cái tôi trữ tình), giúp bạn đọc đi sâu vào thế giới của những suy tƣ, tâm trạng, nỗi niềm, khát vọng, … Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những rung động trực tiếp của nhà thơ. Thơ chú trọng đến cái đẹp của tâm trạng con ngƣời, cái đẹp của đời sống khách quan, vẻ đẹp bên trong, cái đẹp truyền cảm của hiện tƣợng… Tất cả đƣợc thể hiện một cách riêng theo đặc trƣng của thơ trữ tình. 1.2. Đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình với việc dạy học thơ trong nhà trƣờng phổ thông 1.2.1. Đặc điểm về nội dung Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tƣ tƣởng, tình cảm, nhƣng tác phẩm loại trữ tình (tức bộc lộ tình cảm) thể hiện tình cảm theo nét riêng. Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đƣờng đi và số phận của chúng. Bằng những đối thoại, độc thoại, tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động con ngƣời qua những mâu thuẫn xung đột. Ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới chủ quan của con ngƣời, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ đƣợc trình bày trực tiếp, và làm thành nội dung chủ yếu: “Hôm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện răng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ…” (Ca dao) Ngoài cảm xúc và tâm trạng khắc khoải nhớ mong ta không biết gì khác về con ngƣời và nguyên nhân cụ thể dẫn tới những nỗi niềm đó. Hay một ví dụ khác trong văn học đƣơng đại: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vƣờn hoa lá Rất đậm hƣơng và rộn tiếng chim…” (Tố Hữu) Trong những câu thơ trên, ta không thấy có chuyện gì, cũng không thấy có mâu thuẫn xung đột gì cụ thể là Tố Hữu đã giãi bày trạng thái tâm hồn mình khi nhà thơ đƣợc giác ngộ và kết nạp Đảng. Vậy là từ những câu ca dao xƣa tới những bài thơ đƣơng đại, dấu hiệu chung của tác phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con ngƣời: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ…. Dĩ nhiên, nhƣ vậy không có nghĩa 8 là tác phẩm trữ tình không phản ánh thế giới khách quan. Ai cũng biết mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con ngƣời đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trƣớc hiện thực nào, suy nghĩ về vấn đề gì. Cũng có những bài thơ trực tiếp miêu tả bức tranh phong cảnh đã làm nhà thơ xúc động: “Bƣớc tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa ……… Nhớ nƣớc đau lòng con quốc quốc Thƣơng nhà mỏi miệng cái gia gia” (Bà Huyện Thanh Quan) Song đến đây không thể phân biệt là tả ngoại giới hay tả nội tâm vì những tiếng đều mang đậm tâm trạng của tác giả. Để hiểu đƣợc bài thơ này không nên chỉ chú tâm xem bài thơ này Bà Huyện Thanh Quan tả cảnh đèo Ngang có đúng không, có đẹp không. Xem ra cảnh cũng khá chung chung ƣớc lệ. Điều chính yếu là phải tìm hiểu cảm xúc, suy nghĩ của Bà khi đứng ở vùng đất mang nhiều sự kiện lịch sử đƣợc gửi gắm trong bức tranh đó. Cũng có bài thơ có kể ít nhiều sự kiện có tính liên tục nào đó. Nhƣ các bài “Mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Quê hƣơng” của Giang Nam, “Núi đôi” của Vũ Cao. Nhƣng chức năng chủ yếu của hệ thống sự kiện là tái hiện cái đối tƣợng của chủ thể bộc lộ quá trình cảm xúc, suy tƣởng của mình. Chúng làm cho tình cảm thổ lộ đƣợc dễ dàng, gợi cảm, dễ hiểu. “Ai biết tên em thành liệt sĩ Bên những hàng bia trắng giữa đồng Nhớ nhau, anh gọi: em, đồng chí Một tấm lòng trong vạn tấm lòng…” (Vũ Cao) Nhƣ vậy, biểu hiện trực tiếp cảm xúc, suy tƣởng của con ngƣời là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình. Tác phẩm trữ tình làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tƣ, tâm trạng, nỗi niềm - một phƣơng diện rất năng động, hấp dẫn của hiện thực. Nhƣng nhƣ vậy không có nghĩa là sự miêu tả các sự vật, chi tiết, hiện tƣợng đời sống khách quan không có tầm quan trọng. Tất cả những suy tƣ hay tình cảm, tâm trạng, nỗi niềm của cái tôi trữ tình ấy lại đều tuân theo một quy luật tình cảm chung nên nó vẫn thuyết phục và có sự đồng cảm của bạn đọc. Nói cách khác, những chi tiết chân thực, sống động đƣợc phát hiện từ cuộc đời mới có thể khơi gợi những tình cảm sâu sắc, mới mẻ. Những chi tiết trong bài thơ “Sông Lấp” của Tú Xƣơng, “Nhớ” của 9 Nguyên Hồng, trong “Việt Bắc” của Tố Hữu, “Gửi em, cô thanh niên xung phong” của Phạm Tiến Duật, “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa … đều có vai trò nhƣ vậy. Cũng sẽ sai lầm nếu cho rằng tác phẩm trữ tình chỉ thể hiện những gì thầm kín, chủ quan, cá nhân, cá biệt. Đúng là nhà thơ trữ tình bộc lộ những nỗi niềm chủ quan, thầm kín, nhƣng chính vì vậy suy tƣ trữ tình có thể thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con ngƣời: sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thuỷ, lí tƣởng, ƣớc mơ, tƣơng lai, hạnh phúc. Không bị ràng buộc bởi yêu cầu tái hiện trọn vẹn một tính cách, số phận, một hành động nhƣ tự sự và kịch, tác phẩm trữ tình có thể đạt đƣợc những khái quát nghệ thuật hết sức phổ biến. Ngƣời ta rất có lí khi cho rằng khái quát trữ tình thƣờng có tầm vóc phổ quát nhất về tồn tại và nhân sinh. Biết bao câu thơ đã đi vào đời sống nhƣ: tục ngữ, cách ngôn, lời cửa miệng trở thành khẩu hiệu hành động! Những câu nhƣ: “Nay ở trong thơ nên có thép. Nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “Xẻ dọc Trƣờng Sơn đi cứu nƣớc. Mà lòng phơi phới dậy tƣơng lai” đều là chắt lọc từ các bài thơ trữ tình. Dĩ nhiên khái quát lớn phải quyện với tình cảm lớn, rung động lớn của một trái tim nồng nhiệt. Thiếu tình cảm nồng nàn, chân thật, khái quát lớn sẽ trở thành trống rỗng. 1.2.2. Đặc điểm về hình thức 1.2.2.1. Ngôn ngữ a. Ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự. Lời thơ thƣờng là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện một quan hệ của chủ thể đối với cuộc đời. “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng cháy sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà rào rạt bến nƣớc Bình Ca…” Đó thƣờng là lời phán xét bộc trực trƣớc các hiện tƣợng trong cuộc sống: “Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ. Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!” (Nguyễn Khuyến). Ngay khi miêu tả, lời thơ cũng là lời đánh giá: “Nông trƣờng ta rộng mênh mông. Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài” (Tế Hanh). Chính tính đánh giá trực tiếp làm cho lời thơ trữ tình căn bản khác lời tự sự là lời miêu tả, trần thuật theo lối kể lể, phân tích, chỉ ra các thuộc tính một cách khách quan. Văn tự sự hầu nhƣ không biết đến câu hỏi. Đó là vì, trong tác phẩm tự sự, thế giới hiện ra nhƣ một chỉnh thể, không còn bị tách ra hai mạt chủ thể và khách thể. Thơ trữ tình lại khác. Sự phân biệt ra chủ thể và khách thể là nguyên tắc tồn 10 tại của nó. Lời thơ trữ tình là lời đánh dấu sự tồn tại của những chủ thể trên cõi đời này. Vì vậy, câu hỏi trong thơ nhƣ là một phản xạ của bộ phận trƣớc toàn thể, một nguyện vọng muốn điều tiết quan hệ chủ quan và khách quan: “Hỡi sông Hồng, tiếng hát bốn nghìn năm. Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng? (Chế Lan Viên). Lời thơ là lời của chủ thể, nhƣng không phải chỉ là lời đi đôi với hành động, mà hơn thế, bản thân nó là hành động - “hành động” của ý chí, của ƣớc vọng, của niềm tin: “ Trời xanh đây là của chúng ta. Núi rừng đây là của chúng ta. Những cánh đồng thơm mát Những ngả đƣờng bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa” (Nguyễn Đình Thi) Chính vì vậy sự lựa chọn từ ngữ, phƣơng thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật. “Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt ngƣời yêu.” (Nguyễn Đình Thi) Mỗi câu thơ dƣờng nhƣ đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng tình cảm. Ngƣời xƣa gọi những từ đó là “thi nhãn”, tức là những tiêu điểm để từ đó nhìn thấu vào tâm hồn tác giả. Lời thơ trữ tình còn mang tính chất “mê hoặc”. Đó là điểm khác hẳn so với tự sự hay kịch hoặc lời của đời thƣờng. Lời thơ thƣờng phải khác thƣờng để đƣa ta vào những chân lí “bí ẩn”, thâm thuý của đời sống. Bức tranh tƣơng lai trong thơ Chế Lan Viên, chứa đầy “mê hoặc” vừa thực vừa hƣ, kì thú: “… Chở hạnh phúc có con tàu sắc biếc Chở lòng vui con tàu sẽ sơn hồng Một trăm con tàu nhƣ một trăm cô dâu mới Bờ biển nhƣ lòng trai rộn rịp lễ tơ hồng” Đó là bức tranh tấp nập của một hải cảng. Hình ảnh và màu sắc vừa thực vừa ảo, vừa tƣợng trƣng vừa tƣởng tƣợng chen lẫn vào nhau. Và cũng là bức tranh nội tâm say xƣa kì ảo của chính Chế Lan Viên khi nhìn tàu đến…Tính chất “mê hoặc” làm cho ngƣời đọc thơ nhƣ chạm vào luồng điện, gây ấn tƣợng ám 11 ảnh trong tâm trí. Dĩ nhiên, sự “mê hoặc” ấy phải bắt nguồn từ chân lí của cuộc đời mới có đƣợc “ma lực” thực sự. Ngôn ngữ thơ là sự kết tụ của chất thơ, kết tụ mối quan hệ thơ với đời sống đƣợc tích luỹ lâu đời. Chính vì vậy truyền thống đóng vai trò vô cùng quan trọng trong ngôn từ thơ. Đó cũng là điều khác với tự sự và kịch. Khi Tố Hữu viết: “Ngày mai gió mới ngàn phƣơng Sẽ đƣa cô dến một vƣờn đầy xuân Ngày mai trong giá trắng ngần Cô thôi sống kiếp đầy thân giang hồ” Thì những “gió mới”, “ngàn phƣơng”, “vƣờn đầy xuân”, “trong giá trắng ngần”, “đầy thân giang hồ” là những từ hầu nhƣ chỉ dùng trong thơ nhƣ vậy. b. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Nhƣ nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điiệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ - mà bằng cả âm thanh nhịp điệu của từ ngữ ấy. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhất trí xem tính có nhịp điệu là nét đặc thù rất cơ bản của tác phẩm trữ tình. Âm thanh nhịp điệu thêm hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không thể nói hết… Tất nhiên, không thể giải thích ý nghĩa của âm thanh nhịp điệu không xuất phát từ nội dung của từ ngữ. Để thƣởng thức nhạc điệu của thơ, xƣa nay ngƣời ta vẫn thích ngâm thơ, đọc thơ. Vì chú ý đến nhạc tính, thơ ca nhiều nƣớc đã quy định khuôn nhịp - tức là số chữ trong một dòng, nhịp điệu - là nói về cách phối hợp âm thanh và cách ngắt nhịp và vần - tức là sự hiệp âm cuối dòng hay giữa dòng. Tất cả những điều đó cốt để ngôn ngữ thơ có nhạc tính. Có thể nói rõ nhạc tính trong thơ thể hiện ra ở ba mặt sau đây: Sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp. Sự cân đối là sự tƣơng xứng hài hoà giữa các dòng thơ: “Gác mái ngƣ ông về viễn phố, Gõ sừng mục tử lại cô thôn” (Bà Huyện Thanh Quan). Thơ cổ điển, thơ Đƣờng luật hết sức chú ý sự tƣơng xứng hài hoà này. Thơ ngày nay phóng khoáng hơn, không theo một quy định chặt chẽ nào. Sử dụng hiệu quả của phép đối xứng, Chế Lan Viên nói đƣợc sâu sắc giây phút thiêng liêng Bác Hồ trở về Tổ quốc: “Nở trắng hoa kim anh, trên biên giới Bác về Xa nƣớc ba mƣơi năm, một câu Kiều Ngƣời vẫn nhớ Mái tóc Bác đã phai màu quá nửa, Lòng son ngời nhƣ buổi mới ra đi.” 12 Những chữ đi song sánh với nhau, đối đáp với nhau làm cho câu thơ đi liền giữa hiện tại và quá khứ, thực tế và kì ảo. Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ. Trầm bổng là sự thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau giữa các thanh bằng và thanh trắc. Và cũng do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tuỳ theo nhịp cắt để tạo nên nhịp. Xuân Diệu viết hai dòng thơ toàn thanh bằng để gợi tả điệu nhạc du dƣơng đƣa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị Hồ: “Sƣơng nƣơng theo trăng ngừng lƣng trời. Tƣơng tƣ nâng lòng lên chơi vơi”. Chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà chữ nghĩa không thể nói hết: “Tôi lại về quê mẹ nuôi xƣa Một buổi trƣa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đƣa Mát rƣợi lòng ta ngân nga tiếng hát” Tố Hữu tựu nhận xét: “Trong hai câu sau có âm vang của gió và sóng, âm vang của một tấm lòng. Nếu viết gió thổi lao xao, sóng biển rì rào thì có lẽ không còn gì”. Nói đến cái đẹp trầm bổng của âm thanh, phải nói đến nhịp cắt. “Nhiều đấy ƣ e / mấy tuổi rồi? - Hai mƣơi - Ờ nhỉ / tháng năm trôi - Sóng bồi thêm bãi / thuyền thêm bến - Gió lộng đƣờng khơi / rộng đất trời!” Ở ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp nhƣ sự dừng lại sững sờ ngạc nhiên trƣớc sự đổi thay của thời đại. Dòng 4, 5 nhịp dài ra nhƣ niềm vui trải rộng. Chẳng hạn nhƣ Nguyễn Du viết: “Sen tàn / cúc lại / nở hoa Sầu dài / ngày ngắn / đông đà / sang xuân” Dòng thơ cắt theo nhịp hai đều đặn nhƣ nhịp chuyển vần đều đặn của năm tháng, của bốn mùa… Nhƣ vậy, âm thanh và nhịp điệu góp phần làm sáng ra những khía cạnh tinh vi tình cảm của con ngƣời. Tất nhiên lệ thuộc máy móc vào âm thanh nhịp điệu quy định trƣớc, ngƣời nghệ sĩ khó phát huy tƣ tƣởng sáng tạo của mình. Nhƣng không hề biết đến khả năng nhịp điệu là bỏ mất một vẻ đẹp đáng quý của ngôn ngữ thơ. Nhạc tính đó còn do sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp câu, điệp ngữ. Khi nghe nhạc, ta thấy thú vị khi một âm thanh nào đó láy đi láy lại, lúc đứt lúc nối. Vần trong thơ cũng có tác dụng nhƣ thế. Nó nối dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất có âm hƣởng riêng, thuận lợi cho trí nhớ. Phần lớn nhờ vần mà những câu ca dao đã truyền từ đời 13 này sang đời khác. Vần cũng thể hiện ma lực của ngôn ngữ, một trò chơi trong các đồng dao của các em. Thơ cách luật nhiều nƣơc đã quy định chặt chẽ cách hiệp vần. Thơ có vần chính và vần thông. Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tƣơng tự. Xét vị trí vần còn chia ra vần chân (cƣớc vận) tức là vần ở cuối dòng thơ và vần lƣng (yên vận) tức là vần ở giữa dòng thơ. Thơ tự do ngày nay không bó buộc về hiệp vần. Nhƣng các nhà thơ vẫn sử dụng vần nhƣ một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ: “Ở đâu phải, qua đêm dài lạnh cóng Mặt trời lên là hết bóng mù sƣơng! Ôi đâu phải, qua đoạn đƣờng lửa bóng Cuộc đời ta bỗng chốc hoá thiên đƣờng”. Ngoài những vần chân còn có những âm tiết ở giữa dòng dƣới nối với âm tiết cuối của dòng trên. Tố Hữu còn lặp lại vần ngay trong một dòng thơ: “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan. Đƣờng bạch dƣơng sƣơng trắng nắng tràn”. Có những câu thơ cách phối âm giữa dòng thơ, cách ngắt nhịp đã làm cho khổ thơ mang một âm hƣởng riêng: “Con nhớ em con, thằng con liên lạc Rừng thƣa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mƣời năm tròn, chƣa mất một phong thƣ.” (Chế Lan Viên) Cái đẹp của ngôn ngữ thơ không chỉ do hiệp vần, do cách phối âm mà còn do nhà thơ có ý láy đi láy lại một số âm, một số tiếng nào đó: “Nƣớc non nặng một lời thề Nƣớc đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nƣớc thề non Nƣớc đi chƣa lại, non còn đứng không…” Bài Thề non nƣớc của Tản Đà gồm 22 dòng - chữ non đƣợc nhắc lại 15 lần, chữ nước 13 lần - tạo đƣợc một ấn tƣợng vƣơng vấn không dứt. Lối thơ liên hoàn đã khai thác vẻ đẹp trùng điệp đó. Khuê phụ thân của Thƣợng Tân Thi là một bài nhƣ vậy. Nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ. Ngày nay do sự phát triển của nghề in, của kĩ thuật ghi âm, nhu cầu của thơ có đổi khác. Một số ngƣời có khuynh hƣớng bỏ vần để khỏi gò bó, phiền hà cho thơ. Nhƣng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó nhƣ sự đối xứng song song giữa hai dòng thơ, hai đoạn thơ - thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa. Đó có thể là một loại văn xuôi trữ tình nhƣ một tác phẩm của Tuốc - ghê - nhép chẳng hạn. 14 Do đặc điểm của ngôn ngữ thơ hàm súc nhƣ vậy, nên quá trình khám phá bài hiểu hết nghĩa đen, nghĩa bóng… Có khi điều bài thơ gợi ra còn quan trọng hơn điều nói rõ. Chƣa đọc kĩ ngôn ngữ thơ đã vội phân tích nội dung thơ là phạm sai lầm căn bản 1.2.2.2. Nhân vật trữ tình trong thơ Nội dung tác phẩm trữ tình đƣợc thể hiện gắn liền với hình tƣợng nhân vật trữ tình. Đó là hình tƣợng ngƣời trực tiếp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể nhƣ nhân vật tự sự và kịch. Nhƣng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ. Qua những trang thơ ta gặp tâm hồn ngƣời, tấm lòng ngƣời. Đó chính là nhân vật trữ tình. Cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình. Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tƣợng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả. Trong bài “Ngƣời con gái Việt Nam”, chị Lí là nhân vật trong thơ trữ tình. Đọc bài thơ ta thấy một nhân vật nữa nổi rõ hơn với những cảm xúc và tình cảm: từ kinh ngạc sững sờ đến mến thƣơng, kính phục và tin tƣởng vào chiến thắng. Liên kết chuỗi tình cảm đó ta hình dung ra nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình trong thơ thƣờng là hiện thân của tác giả. Qua thơ, ta có thể biết những chi tiết thoáng qua về lịch sử cuộc đời họ: quê hƣơng, kỉ niệm tuổi thơ, đƣờng đời, sự từng trải, tài năng, khát vọng. Đây là một hình ảnh tuổi thơ chân đất ở làng quê của Nguyễn Duy: “Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá Níu váy bà đi chợ Bình Lâm Bắt chim sẻ ở vành tai tƣợng phật Và đôi khi ăn chộm nhãn chùa Trần” Hay nhƣ nỗi đau của nhà thơ Đặng Dung cuối đời nhà Trần: “Quốc thù chƣa báo đầu đã bạc Mấy độ mài gƣơm bóng nguyệt tà” Sự dằn vặt về trách nhiệm, sứ mệnh đối với vận nƣớc là nét đặc trƣng nổi bật của nhà thơ trung thần. Thơ trữ tình, vì vậy luôn cho thấy một con ngƣời cụ thể, sống động, có cá tính, có quan niệm và những nỗi niềm riêng. Thơ trữ tình bao giờ cũng mang lại sự thật về đời sống tâm hồn của những cá nhân trong các tình huống đời sống và xung đột xã hội cụ thể. Nhƣ Nguyễn Khuyến từng nghe tiếng ngỗng đêm thu mà thấy thẹn vì chí thanh bạch của mình chƣa trọn vẹn. Nhƣ nhà cộng sản tuổi đôi mƣơi tự hỏi mình: “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nƣớc 15 Chọn một dòng hay để nƣớc trôi” (Tố Hữu) Khi phát ngôn trữ tình, nhà thơ thƣờng hƣớng tới một cái gì lớn lao hơn, tức tự nâng mình lên thành ngƣời mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ cho một loại ngƣời, một thế hệ, một thời đại. Nhân vật trữ tình do đó còn là ngƣời đại diện cho một lớp ngƣời, một giai cấp, một dân tộc để phát biểu. Lời lẽ riêng tƣ và ý nghĩa chung thƣờng hoà nhập trong những lời nhân vật trữ tình kiểu này. Đây là lời của Nguyễn Đình Thi và cũng là lời của biết bao chiến sĩ: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thếp gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt ngƣời yêu” Lời của Xuân Quỳnh - ngƣời vợ và cũng là lời của biết bao phụ nữ: “Con sóng dƣới lòng sâu Con sóng trên mặt nƣớc Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ đƣợc Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” Những biểu hiện của thế giới nội tâm tuy mang tính chủ quan vẫn phản ánh đƣợc thực tế khách quan của đời sống, tức gƣơng mặt tinh thần xã hội. Tính chất tiêu biểu và khái quát của những cảm xúc làm nên ý nghĩa của nhân vật trữ tình. Những cảm xúc, tâm trạng và suy nghĩ của nhà thơ phải có nguồn gốc từ xã hội và tiêu biểu cho nhiều ngƣời trong một thời kì lịch sử nhất định. Đó là tính chân thật, khách quan, điển hình và lịch sử của nhân vật trữ tình. Đó cũng là con đƣờng mở ra để nối kết bài thơ với ngàn vạn trái tim của quần chúng đông đảo. Ngoài việc đại diện phát ngôn cho một lớp ngƣời, một thời đại, nhà thơ còn nhập vai vào một số những nhân vật cụ thể, tạo thành loại nhân vật trữ tình nhập vai nhƣ: Anh bộ đội trong bài “Bầm ơi”- (Tố Hữu), cháu bé trong nhà lao Tân Dƣơng (Hồ Chí Minh). Trong thơ Tago, ta thấy nhiều nhân vật trữ tình nhƣ Đấng Tối cao, nhà tiên tri, ngƣời lao động, ngƣời tình, trẻ thơ…Do vậy, thế giới trữ tình trong thơ đâu chỉ hạn hẹp một cá nhân nhà thơ, mà là một cấu trúc mở vô hạn, có khả năng đề cập đến bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu con ngƣời và số phận ngoài tiểu sử cá nhân nhà thơ. 1.2.2.3. Tổ chức của bài thơ trữ tình a. Đề thơ 16
- Xem thêm -