Vận dụng hệ thống phương pháp kế toán quản trị chi phí vào chu kỳ sống của sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát Việt Nam (TT)

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 67 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về nghiên cứu Đề tài “Quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được xuất phát từ cảnh báo của Quỹ tiền tệ quốc tế khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán tăng chóng mặt, chỉ năm 2007 số lượng tài khoản cũng như danh mục nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ tăng gấp 3 lần so với năm 2006, Việt Nam cần phải có những giải pháp hiệu quả tránh tình trạng vốn đầu tư gián tiếp rút ra khỏi thị trường chứng khoán nhanh chóng. Để đề tài thực sự có ý nghĩa cả về lý thuyết và thực tế, tác giả đã phân tích cặn kẽ thực trạng thị trường trên cả khía cạnh hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài cũng như quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Xây dựng mô hình kiểm định cho thấy ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài đến chỉ số VN-index theo từng giai đoạn cụ thể. Từ đó kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, phản ứng chính sách khi có dấu hiệu bất thường từ dòng vốn này nhằm mục tiêu giữ ổn định, lâu dài và bền vững cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. 2. Lý do chọn đề tài Đặc điểm của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là đầu tư thông qua thị trường tài chính, nếu thị trường tài chính của một nước càng phát triển, tính thanh khoản của thị trường càng cao thì càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán càng tăng nhanh. Khi có dòng vốn lớn đổ vào, các quốc gia không có phản ứng kịp thời sẽ tạo ra sức ép đồng nội tệ, tác động tiêu cực đến cạnh tranh xuất khẩu dẫn đến áp lực lạm phát, đổ vỡ thị trường tài sản cuối cùng là phải đối mặt với khủng hoảng. Khi đó, niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào khả năng phục hồi của hệ thống tài chính bị mất đi kép theo là lượng vốn đầu tư gián tiếp được rút ra ồ ạt khỏi thị trường nội địa chạy kéo theo các nguồn vốn vay quốc tế khác cũng nhanh chóng tháo chạy khỏi thị trường khiến thị trường khủng hoảng và đi đến sụp đổ. Cũng như các nền kinh tế đang phát triển khác, vấn đề cấp bách hiện nay, Việt Nam cần phải xây dựng cơ chế quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài hiệu quả nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng trên. Đề tài “Quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam”sẽ là công trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống, toàn diện cả lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài nhằm góp phần vào hoạt động quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam được phù hợp và hiệu quả hơn. Đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; - Đề xuất nhóm giải pháp trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán hiệu quả, đồng bộ và cách thức phối hợp giữa các Bộ Ngành liên quan. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tập trung vào quản lý của NHNN và Bộ Tài chính (UBCKNN). - Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, phạm vi nghiên cứu tập trung vào vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam (hoạt động giao dịch trên TTCK, biến động của dòng vốn đầu tư gián tiếp) và các hoạt động quản lý nhà nước đối với vốn này. Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2006 đến giữa năm 2013. 5. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được những mục tiêu đề ra, Luận án tập trung giải đáp câu hỏi cụ thể sau: Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán là gì? Yếu tố nào tác động đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài?; - Quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là gì? Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán?; - Liệu có sự khác biệt trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài của Việt Nam và các nước có hoàn cảnh kinh tế- xã hội tương đồng với Việt Nam?; - Mức độ phù hợp trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam? 6. Phương pháp nghiên cứu Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp truyền thống, Luận án còn sử dụng xây dựng mô hình định lượng, điều tra khảo sát… Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu chính là dữ liệu thứ cấp (từ hệ thống văn bản pháp luật, báo cáo định kỳ, bất thường từ cơ quan quản lý nhà nước), dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra và phỏng vấn. 7. Kết quả nghiên cứu Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa, bổ sung và làm rõ lý luận về vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt chú trọng đến vốn gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Nội dung trong quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục tiêu của tác giả hướng tới gồm: - Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán; - Về mặt thực tiễn: Luận án đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Sử dụng số liệu thứ cấp để xây dựng mô hình kiểm định nhằm đánh giá tác động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến chỉ số VN-Index và theo 4 giai đoạn do tác động của môi trường kinh tế 1 2 3. Mục tiêu nghiên cứu trong và ngoài nước. Sử dụng kết quả phiếu điều tra đối với chuyên gia và nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam cho thấy xu thế vận động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra khuyến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán theo nhóm giải pháp đồng bộ như sau: - Nhóm giải pháp về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chính sách trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài nhằm đối phó với những tình huống bất thường - Nâng cao khả năng hoạch định chính sách phát triển thông qua công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nhằm thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ổn định, bền vững. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thị trường chứng khoán - Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước cơ chế phối hợp trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam Những kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 8. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 170 trang và được kết cấu thành 04 chương: Chương 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2. Lý luận chung về quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Chương 3. Thực trạng quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 4. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1. 1.1.3. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường chứng khoán: Kawai và Takagi (2008), Joathan D.Ostry et al (2011), Tesar and Werner (1994,1995), Bohn and Tesar (1996), và Brennan and Cao (1997), Jo (2002), Gurucharan Singh (2004) và World Bank (1997)… 1.1.4. Quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán: Hulburt và Brandt, 1980; Negandi và Baliga, 1979; Hill et.a., 1990), Ocampo(2008), Sutton (2010), Gerald Epstein (2009) 1.1.5. Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán: Có nhiều nghiên cứu cho thấy các giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài có mối quan hệ tích cực đến biến động thị trường, điển hình: Brennan and Cao (1997), Kogut (199), Choe và cộng sự (1999), Froot và cộng sự (2000), Bohn and Tesar (1996), Brennan and Cao (1997), Choe, Kho, and Stulz (1999), Grinblatt and Keloharju (2000), Froot, O’ Connell, and Seasholes (2001). 1.2. 1.2.1. Về hệ thống pháp luật: “Vai trò nhà nước trong quá trình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam” (2006)- Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Mai Thanh; “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam” (2011)- Luận án tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh; “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật cho thị trường chứng khoán Việt Nam” (2002)- Luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Thị Giang Thu; “Hoàn thiện pháp luật về các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên TTCK tập trung ở Việt Nam” (2009)- Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thuận; “ Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam” (2008)- Luận án tiến sỹ của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi… 1.3. Về quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: “Kiểm soát luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua TTCK- kinh nghiệp quốc tế và đối sách cho Việt Nam” (2008)– Đề tài cấp Bộ (BTC.08.01) của tác giả Nguyễn Ngọc Cảnh; “Khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam”(2009)Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Thanh Huyền; “Giải pháp thu hút và kiểm soát vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam”(2010)- Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Trần Thị Phương. Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài báo liên quan đến vấn đề này. 1.4. Tình hình nghiên cứu nước ngoài 1.1.1. Nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ FDI, FII và phát triển kinh tế: điển hình nghiên cứu Chuhan, Claessens and Mamingi (1993), Gooptu, S, (1994), Hernandez and nhóm nghiên cứu của UNCTAD. 1.1.2. Tự do hóa và thị trường chứng khoán: Stulz (1999), Kim and Signal (2000), Bekaert and Harvey (1997, Ken Hargis (1998), Richards and Anthony (1996), Kwan and Takagi (1997), Kent Hargis (1998). 3 Tình hình nghiên cứu trong nước Khoảng trống cần nghiên cứu Khái quát về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, những khoảng trống nghiên cứu trước đây chưa đạt được, với nghiên cứu của mình tác giả xây dựng mô hình kiểm định tác động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến chỉ số chứng khoán. Xu hướng vận động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua khảo sát và phỏng vấn các nhà đầu tư nước ngoài, chuyên gia từ các tổ chức tư vấn quốc tế. 4 Kết luận chương 1 2.1.4.3. Tính dễ đảo ngược Khái quát các nghiên cứu trước đây về dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài nhằm cụ thể hóa những nhân tố ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường tài chính nói chung hay thị trường chứng khoán nói riêng. Từ các nghiên cứu đó rút ra những bài học nhằm hạn chế yếu tố tiêu cực và khuyến khích yếu tố tích cực có hiệu quả trong quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 2.1.4.4. Đặc điểm khác: Hạn chế tỷ lệ sở hữu, tách bạch giữa quyền chi phối kiểm soát và quyền sở hữu. CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI 2.1. Khái quát đầu tư gián tiếp nước ngoài 2.1.1. Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài Phạm vi nghiên cứu này chỉ xem xét khía cạnh đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán: mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác do các doanh nghiệp phát hành trên thị trường chứng khoán và gián tiếp đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán hoặc các định chế tài chính trung gian khác trên thị trường chứng khoán. 2.1.2. Hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán (i) Góp vốn, mua, bán cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp nước sở tại chưa niêm yết, chưa đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán và không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp; (ii) Góp vốn, mua, bán cổ phần trong doanh nghiệp nước sở tại trên thị trường đăng ký giao dịch) và thị trường chứng khoán niêm yết và không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp; (iii) Mua, bán trái phiếu và các loại chứng khoán khác trên thị trường chứng khoán Việt Nam; (iv) Mua, bán các giấy tờ có giá khác bằng đồng Việt Nam; (v) Ủy thác đầu tư bằng đồng Việt Nam thông qua tổ chức trung gian tài chính; (vi) Góp vốn, chuyển nhượng vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài (không trực tiếp tham gia quản lý) trong các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ theo quy định của pháp luật về chứng khoán; (vii) Các hình thức đầu tư gián tiếp khác theo quy định của pháp luật. 2.1.3. Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán 2.1.3.1. Tính thanh khoản cao 2.1.4. Tác động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến các nước đang phát triển. 2.1.4.1. Tác động tích cực Trong tổng thể nền kinh tế, thị trường chứng khoán với vai trò là kênh huy động vốn dài hạn, thu hút vốn và cung ứng cho nền kinh tế từ các nhà đầu tư, trong đó có các nhà ĐTNN. Việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào qua kênh thị trường chứng khoán sẽ làm giảm một phần đáng kể vốn ngoại tệ chìm đang vào Việt Nam với khối lượng lớn. Đối với thị trường, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường với kinh nghiệm dày dạn về đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, khả năng phần tích dự báo, kỹ năng nghiệp vụ tài chính sẽ giúp gây dựng và củng cố lòng tin của các nhà đầu tư trong nước với thị trường. Đối với doanh nghiệp, vai trò vốn FII được thể hiện rõ trên thị trường sơ cấp, việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phần phát hành lần đầu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá sẽ làm giảm áp lực đấu giá. Trên thị trường thứ cấp, yêu cầu cao về tính minh bạch của tình hình tài chính, triển vọng phát triển trong tương lai, năng lực quản trị công ty, yếu tố ĐTNN sẽ kích thích các doanh nghiệp muốn tận dụng được nguồn ngoại lực này phải luôn hoàn thiện mình ở tất cả các giác độ trên. Đối với công chúng đầu tư, người tiêu dùng, ngoài lợi ích lan tỏa về mặt tri thức, nâng cao khả năng đầu tư của công chúng đầu tư, điểm lợi của ĐTNN đối với nhóm đối tượng này được thể hiện khi các công ty, doanh nghiệp luôn nỗ lực gia tăng tính minh bạch trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến sự phân phối lợi nhuận cho cổ đông hợp lý, đảm bảo lợi ích của cổ đông nhỏ và chủ nợ. 2.1.4.2. Tác động tiêu cực Thứ nhất, rủi ro kinh tế vĩ mô- khi dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của tín dụng (thậm chí có khiến chính sách tiền tệ bị mất kiểm soát) là nguyên nhân dẫn đến tăng tỷ giá thực, lạm phát và các biến số kinh tế vĩ mô khác làm chệch mục tiêu của chính sách vĩ mô trong nước. Thứ hai, rủi ro mất ổn định hệ thống tài chính- vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tác động làm giá cổ phiếu và các tài sản khác tăng, giảm chất lượng tài sản ảnh hưởng xấu đến vị thế tiền tệ của bảng cân đối tài sản khu vực tư nhân. Thứ ba, nguy cơ xảy ra hiện tượng đầu cơ có tổ chức lớn. Thứ tư, rủi ro đảo ngược dòng vốn- sẽ là nhân tố làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối, giảm giá nội tệ và là nguyên dẫn đến các cuộc khủng hoảng. 2.1.4.2. Tính bất ổn lớn 5 6 2.2. Quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán 2.2.1. Khái niệm, mục tiêu, nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán 2.2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Theo tác giả, quản lý vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động lên đối tượng quản lý làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đề ra. 2.2.1.2. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán: Một là, thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn FII; Hai là, ổn định về tài chính, tiền tệ trước những diễn biến bất thường của dòng vốn FII; Ba là, đảm bảo tính trung thực, minh bạch, hiệu quả và công bằng của trường. Việc chọn lựa và ưu tiên cho mục tiêu nào là tuỳ thuộc vào chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia ở từng thời điểm cụ thể. 2.2.1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán: Môi trường quốc tế- cập đến các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có tác động đến nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư cũng như cho chính chủ đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nướcngoài... Môi trường trong nước- Môi trường chính trị và luật pháp tạo nên một khung khác biệt trong môi trường và điều kiện kinh doanh ở mỗi quốc gia. Đường lối, định hướng của Đảng cầm quyền ảnh hưởng quyết định đến xu hướng đối nội, đối ngoại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Hệ thống văn bản pháp luật chính là công cụ quan trọng nhất trong quản lý nhà nước bằng pháp luật. Năng lực tổ chức và trách nhiệm thực hiện pháp luật của các chủ thể được thể hiện ở chỗ các chủ thể quản lý sẽ xây dựng chính sách, cơ chế quản lý hợp lý, nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ, phương pháp và quy trình quản lý phù hợp... Cơ chế quản lý- cơ chế quản lý thông thoáng, hợp lý sẽ có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả quản lý. Nhận thức và năng lực quản lý - Quản lý nhà nước phải đưa ra các mô hình tổ chức, cơ chế chính sách và các quy định về hoạt động thị trường tuân thủ hiệu quả và công bằng. 2.2.2. Nguyên tắc và bộ máy quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán 2.2.2.1. Nguyên tắc quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán 7 Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc kế hoạch hóa, nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc đảm bảo và khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo các lợi ích trong cạnh tranh thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Điều này được thực hiện thông qua các chương trình định hướng phát triển kinh tế- xã hội, chính sách đòn bẩy kinh tế… 2.2.2.2. Bộ máy quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Tổ chức quản lý một cách có tổ chức phải nhất quán, phối hợp mật thiết giữa các bộ/ngành cùng chung một mục tiêu là hướng đích của các chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội, hướng tới mục tiêu lớn là phát triển và duy trì tính toàn vẹn của thị trường chứng khoán. Chính phủ là cơ quan quản lý cao nhất chịu trách nhiệm chung sẽ phân quyền cho các cơ quan chức năng thay mặt Chính phủ thực hiện quản lý đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán với các nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, quy định tỷ lệ cho các ngành, lĩnh vực nước ngoài được phép đầu tư- Bộ Kế hoạch Đầu tư. Thứ hai, về quản lý hoạt động lưu chuyển dòng vốn bao gồm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thuộc trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước. Thứ ba, về quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thuộc sự quản lý của Bộ Tài chính, UBCKNN là đơn vị trực thuôc Bộ Tài chính, được ủy quyền quản lý trên lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. 2.2.3. Nội dung, phương pháp quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán 2.2.3.1. Nội dung quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, chính sách quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Thứ hai, hoạch định chính sách phát triển về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, các phương án phản ứng chính sách khi xảy ra tình trạng bất thường của dòng vốn. Thứ ba, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát đối với vốn hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. 2.2.3.2. Phương pháp quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Là tổng thể những cách thức tác động có kế hoạch và có chủ đích của cơ quan cơ quan quản lý nhà nước lên các đối tượng quản lý nhằm áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế và mục tiêu chính sách tài chính tiền tệ của mỗi quốc gia. 8 2.2.4. Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Thứ nhất, tiêu chí hiệu lực- mức độ tuân thủ pháp luật, chấp hành mọi chỉ đạo từ các cơ quan quản lý có thẩm quyền trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Thứ hai, tiêu chí hiệu quả- được đánh giá bằng mức độ đạt được của nội dung quản lý nhà nước so với các mục tiêu quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đã đặt ra. Thứ ba, tiêu chí phù hợp- sự phù hợp của các mục tiêu định hướng, phù hợp các nội dung bên trong của các quy định pháp luật… 2.3.3. Kinh nghiệm của Thái Lan Để hạn chế các ảnh hưởng của dòng vốn vào, Thái Lan có các chính sách điều hòa dòng ngoại tệ vào, giám sát chặt các giao dịch ngắn hạn của người nước ngoài, nới lỏng các hạn chế nhằm khuyến khích dòng vốn ra. 2.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Thứ nhất, vai trò giám sát tài chính là vô cùng quan trọng trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở mỗi quốc gia. Thứ hai, trong quá trình thực hiện giải pháp thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài phải được thực hiện đồng bộ, có lộ trình cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn phá triển kết hợp chặc chẽ với các biện pháp phát triển kinh tế, hoàn thiện và phát triển TTCK, nâng cao khả năng quản lý của Chính phủ. Thứ tư, tiêu chí công bằng- đảm bảo công bằng, lợi ích cho các các bên liên quan khi tham gia đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán và lợi ích chung của nền kinh tế. Thứ ba, việc quản lý dòng vốn vào tránh khả năng khủng hoảng do biến động của dòng vốn mang lại. Thứ năm, tiêu chí bền vững, thông qua hoạt động xây dựng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, hệ thống pháp luật rõ ràng, ít điều chỉnh, bổ sung… Thứ tư, quy định các hạn chế đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài không vi phạm cam kết quốc tế. Các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán là hiệu lực, hiệu quả, hợp lý, công bằng và bền vững đều có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại nhau vì lợi ích chung cho phát triển kinh tế- xã hội theo tiêu chí bền vững... Kết luận chương 2 2.3. Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 2.3.1. Kinh nghiệm của Malaysia - Quản lý kiểm soát dòng vốn vào: Trong giai đoạn 90-93, trước sự gia tăng mạnh của dòng vốn vào, đứng trước sự đánh đổi một bên là duy trì lãi suất cao nhằm kiềm chế lạm phát, một bên giảm vốn ngắn hạn nước ngoài chảy vào. - Quản lý dòng vốn ra: Những biện pháp kiểm soát đối với ngân hàng nhằm hạn chế các giao dịch hoán đổi bán ra (mua có kỳ hạn và bán giao ngay đồng ringgit đối với người không cư trú) không liên quan đến thương mại, nhằm cắt đứt mối liên hệ giữa đồng nội tệ trong và ngoài nước, giảm thiểu áp lực lãi suất trong nước… Chương này đã hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Xác định chi tiết các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Cơ sở lý luận liên quan đến quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Xác định cụ thể mục tiêu, chức năng và nội dung quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Trình bày kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm trong quản lý vốn gián tiếp nước ngoài để có thể vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể trong quá trình quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Để khuyến khích dòng vốn đầu tư gián tiếp hiện hành đầu tư dài hạn, tăng cường thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài mới, đồng thời giảm thiểu sự bất ổn định của dòng vốn ngắn hạn cũng như để việc rút vốn được tuần tự, không đột biến 3.1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 2.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc 3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam Trung Quốc khuyến khích và không hạn chế dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp, do có tính thanh khoản cao, được quản lý chặt chẽ do vậy việc thực hiện chính sách phải thận trọng và từng bước mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài. Điểm khá đặc biệt là của thị trường chứng khoán Việt Nam là Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) đã được thành lập trước khi bản thân thị trường chứng khoán hình thành. UBCKNN là cơ quan chủ chốt trong việc quản lý các thị trường vốn và các đối tượng tham gia thị trường. Được thành lập 9 10 vào tháng 11/1996, nhiệm vụ của UBCKNN là tổ chức, phát triển và giám sát thị trường chứng khoán rong nước. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Tháng 7 năm 2000, sau nhiều cố gắng của Chính phủ cũng như các Bộ Ngành liên quan, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động với chỉ 3 cổ phiếu và 2 trái phiếu niêm yết ban đầu. Đến cuối năm 2013, trên thị trường niêm yết đã có gần 700 cổ phiếu với giá trị vốn hóa đạt 949,1 nghìn tỷ đồng, 540 mã trái phiếu đạt giá trị niêm yết 556 nghìn tỷ đồng và 142 cổ phiếu được đăng ký giao dịch trên thị trường UPCOM với giá trị vốn hóa 257 nghìn tỷ đồng. 3.1.2. Thành tựu đạt được + Thể chế thị trường chứng khoán và khuôn khổ luật pháp được củng cố thông qua việc hàng loạt Luật mới được ban hành và có hiệu lực thực thi. + Hoạt động quản lý, giám sát thị trường với trọng tâm là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu của thị trường được thể hiện trên tất cả các khía cạnh như hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư vững mạnh, nâng có chất lượng trung gian tài chính, công bố thông tin…. + Một số nhận xét Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn thì những kết quả nói trên về hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam là đáng khích lệ, góp phần hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó thị trường vốn, thị trường chứng khoán là định chế bạc cao của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, với thời gian hơn 10 năm hoạt động chúng ta không thể nói rằng Việt Nam đã có một thị trường chứng khoán hoàn chỉnh và phát triển. Chúng ta còn nhiều khó khăn, tồn tại và phải làm nhiều hơn nữa mới có được một thị trường chứng khoán theo đúng chức năng của nólà kênh huy động vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. 3.2. Thực trạng quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 3.2.1. Khuôn khổ pháp lý trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Khung pháp lý đối với quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, có thể tách thành 03 mảng chính: (1). Quy định tỷ lệ sở hữu cho từng ngành/lĩnh vực kinh doanh của tổ chức và cá nhân nhà đầu tư nước ngoài thuộc sự điều chỉnh của Bộ kế hoạch và Đầu tư; (2). Quản lý dòng lưu chuyển vốn và kiểm soát hoạt động lưu chuyển vốn ngoại tệ nói chung thuộc trách nhiệm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN); (3). Quản lý hoạt động đầu tư của nhà ĐTNN được coi là thuộc trách nhiệm của Bộ Tài chính (do liên quan tới các quy định trong lĩnh vực chứng khoán). Ba mảng quản 11 lý này, tuy tách biệt, song lại hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau và tạo thành một cơ chế quản lý thống nhất. 3.2.1.1. Quy định tỷ lệ sở hữu cho các ngành, lĩnh vực nước ngoài được phép đầu tư Thực hiện sự phân công của Chính phủ, Bộ kế hoạch đầu tư chủ trì soạn thảo, trình Quốc Hội ban hành Luật Đầu tư 2005 và đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và cũng đã ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn đồng bộ và phù hợp với nhu cầu thời đại [43] [25]. Trong đó, các nguyên tắc chủ đạo là: (i). Nguyên tắc minh bạch hóa; (ii). Nguyên tắc đảm bảo quyền sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài; (iii). Nguyên tắc đảm bảo việc chuyển vốn, tài sản của nhà đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, sau hơn 8 năm áp dụng, ngoài những kết quả tích cực, Luật Đầu tư đã bộc lộ những bất cập, tác động không tích cực đến nỗ lực cải cách môi trường đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện « Dự án Luật Đầu tư sửa đổi » với nhiều điểm mới theo hướng tiếp tục mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài. Liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp, dự thảo luật Đầu tư sửa đổi giới hạn lại phạm vi điều chỉnh theo hướng chỉ quy định các hoạt động đầu tư trực tiếp, như vậy, sau khi dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi được Quốc Hội thông qua sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2015, mọi hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ không thuộc phạm điều chỉnh của Luật này. 3.2.1.2. Quản lý lưu chuyển dòng vốn Việc quản lý hoạt động lưu chuyển ngoại tệ, trong đó bao gồm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thuộc trách nhiệm của NHNN, trên cơ sở các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của nhà ĐTNN trên TTCK Việt Nam, cụ thể: Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành [45]. Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 do Chính phủ ban hành quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối, thay thế các văn bản: Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998; Nghị định số 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 và số 131/2005/NĐ-CP ngày 28/10/2005. Trong hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài, hiện nay, NHNN thực hiện việc quản lý đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên cơ sở các Thông tư, cụ thể là: Thông tư số 03/2004/TT-NHNN về việc quản lý ngoại hối đối với việc tham gia góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN trong các doanh nghiệp Việt Nam (TTCK phi tập trung); Quyết định số 998/2002/QĐ-NHNN ngày 13/9/2002 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Trung tâm giao dịch chứng khoán; Quyết định số 1550/2004/QĐ-NHNN về việc quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của nhà ĐTNN trên Sở GDCK (TTCK niêm yết). Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 18/3/2013 tại Phiên họp thứ 16 và sẽ 12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối (Pháp lệnh Ngoại hối 2013) được ban hành là nhằm: (i) Khắc phục những bất cập của quy định hiện hành, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; (ii) Tạo khuôn khổ pháp lý hoàn thiện, đầy đủ hơn điều chỉnh hoạt động ngoại hối của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế; (iii) Đảm bảo phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. 3.2.3.Hoạt động thanh tra, giám sát thị trường chứng khoán 3.2.1.3. Quản lý hoạt động đầu tư Khung pháp luật về thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trên TTCK đã được xây dựng và đã phát huy tác dụng và hiệu lực đáng kể trong giai đoạn đầu phát triển của TTCK. Ngoài ra, UBCKNN cũng đã dần nâng cao kỷ luật thị trường về công khai, minh bạch cũng như chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm luật, nhất là nâng mức xử phạt vi phạm hành chính lên tội phạm hình sự. Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Chứng khoán năm 2010 đã tạo cơ sở để Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành nhiều quy định, thiết lập nên một khung pháp lý thống nhất, toàn bộ đối với các hoạt động của TTCK. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 [15] quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, thay thế Nghị định 14/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Chứng khoán; Nghị định 85/2010/NĐ-CP thay thế Nghị định 36/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK; Quyết định 55/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đã ban hành khoảng gần 30 văn bản Thông tư, Quyết định hướng dẫn thi hành bao trùm toàn bộ hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhà đầu tư nước ngoài hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bộ Tài chính (UBCKNN) đang trình dự thảo thay thế Quyết định 55/2009/QĐ-TTg, theo đó tăng tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài từ 49% lên 60% cũng có thể xem là một giải pháp tương thích với đề xuất này (mặc dù con số 60% còn xa con số 100%). 3.2.2. Thực trạng công tác hoạch định chính sách phát triển Các định hướng cơ bản và dài hạn cho hoạt động của TTCK đã được hoạch định và khẳng định tính đúng đắn trong thực tiễn phát triển, thể hiện qua việc trình Bộ Chính trị và Chính phủ thông qua mô hình TTCK, ban hành Quyết định 252/QĐ-TTg ngày 1/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2011-2020 được xây dựng nhằm cụ thể hoá phương hướng, nhiệm vụ tầm nhìn 2020 trong Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến 2010 tầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 02/08/2007. Quyết định 253/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) cũng được phê duyệt. Định hướng quan trọng của Đề án là: (i). Tiếp tục khuyến khích thu hút dòng vốn FII, theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng, thông qua hoạt động đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp, giá trị đầu tư lớn và cam kết gắn bó lâu dài với thị trường Việt Nam từ đó nâng cao tính ổn định cho thị trường chứng khoán; (ii). Quản lý vốn ổn định, bền vững tránh những tình huống bất ngờ hậu quả từ các biến động tiêu cực của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. 13 Cùng với sự phát triển của TTCK, nhất là trong bối cảnh nhiều công ty niêm yết vi phạm các quy định về công bố thông tin về kết quả hoạt động sản xuất, công tác công khai, minh bạch về thông tin trên đã dần được hoàn thiện. Bên cạnh đó, kỷ luật về báo cáo tài chính cũng ngày càng được tăng cường và được thể chế hoá. Ngoài ra, chế độ kế toán, kiểm toán cũng dần được tăng cường. 3.2.4. Một số nhận xét  Thành tựu đạt được trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Một là khung pháp lý tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh, thương mại, bao gồm cả hoạt động của nhà ĐTNN Hai là nới lỏng các quy định đối với các giao dịch trên tài khoản vốn. Ba là quy định về tỷ lệ góp vốn, việc nâng tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN từ 30%-49% cho thấy Việt Nam đang có chính sách thông thoáng mở cửa thu hút vốn. Bốn là quy định về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài Năm là sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng. Sáu là chương trình cổ phần hóa các DNNN và chính sách hỗ trợ phát triển các thành phần kinh tế. Những biện pháp của cơ quan quản lý Việt Nam trong thời gian qua đối với khối nhà ĐTNN cho thấy nhà ĐTNN đang là đối tượng được Chính phủ Việt Nam khuyến khích tham gia vào TTCK nhằm huy động nguồn vốn của nhóm nhà đầu tư này, đồng thời phát triển hơn nữa TTCK Việt Nam trong thời gian tới.  Các hạn chế trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Thứ nhất phải đề cập đếnViệt Nam thiếu một định hướng rõ ràng về dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, chưa xây dựng được một chính sách đồng bộ nhằm thu hút, xử lý và quản lý một cách hiệu quả vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Thứ hai, vừa chưa có sự phân tách rõ ràng giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Thứ ba, công tác điều hành chính sách vĩ mô, phản ứng chính sách đối với dòng lưu chuyển vốn còn nhiều bất cập. 14 Thứ tư, hệ thống công nghệ thông tin, nhân sự phục vụ công tác quản lý, giám sát dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, nhà ĐTNN tại các cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế. Khi quan sát ba biến của mô hình với dữ liệu trong 7,5 năm từ 2006-6/2013, khi đó quy mô mẫu quan sát n=90 và được chia thành 4 giai đoạn. Thứ năm, việc tiếp cận nhà ĐTNN, TTCK nước ngoài của các tổ chức phát hành Viêt Nam còn bị hạn chế. Giai đoạn 1: giai đoạn TTCK bùng nổ diễn ra từ năm 2006 đến hết năm 2007. Kết quả chạy SPSS về mối liên hệ giữa chỉ số VN-Index với vốn đầu tư trong nước (DTTN) và vốn đầu tư nước ngoài (DTNN). Kết quả cho thấy, khi Vốn đầu tư nước ngoài tăng lên 1 tỷ đồng thì VN – Index sẽ tăng trung bình 0,766 điểm; khi Vốn đầu tư trong nước tăng lên 1 tỷ đồng thì VN – Index sẽ tăng trung bình 0,512 điểm. Thứ sáu, hệ thống tài chính chưa phát triển đồng bộ, thiếu gắn kết và tiềm ẩn nhiều nguy cơ đổ vỡ.  Nguyên nhân của những hạn chế: Việt Nam đang đứng trước những cơ hội thuận lợi để thu hút vốn FII nhờ những nỗ lực mạnh mẽ của Chính phủ, tuy nhiên đầu tư gián tiếp tăng những không đáng kể do một số nguyên nhân: Môi trường kinh tế vĩ mô, trong những năm gần đây Việt Nam chỉ tập trung thu hút vốn FDI mà chưa khai thác hết tiềm năng của dòng vốn FII thông qua các chính sách khuếch trương về thị trường chứng khoán Việt Nam ra các nước trong khu vực và thế giới. Hệ thống tài chính-ngân hàng còn chưa phát triển hay phát triển còn thấp. Quy mô và chất lượng các sản phẩm của thị trường còn hạn chế, chưa có thị trường chứng khoán phái sinh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp kém phát triển không được chú trọng đúng mức. Bên cạnh đó, khả năng quản trị doanh nghiệp còn thấp, hệ thống kiểm toán kế toán còn nhiều bất cập khiến thị trường kém minh bạch ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Cơ chế bảo vệ nhà đầu tư khi tham gia thị trường còn rất sơ khai, doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi ích của mình hơn là đứng trên góc độ của nhà đầu tư. Các cơ quan giám sát (NHNN, Bộ Tài chính (UBCKNN)) vừa thực hiện chức năng cấp phép, ban hành cơ chế - chính sách, vừa thực hiện chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm luôn vai trò kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các định chế tài chính. Điều này có thể dẫn tới xung đột về lợi ích, khiến hiệu quả và hiệu lực giám sát không cao. Công tác cập nhật, thống kê dữ liệu về tiền tệ tài chính chưa được quan tâm đúng mức. 3.3. Mô hình hồi quy kiểm định ảnh hưởng từ động thái giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán 3.3.1. Kiểm định ảnh hưởng giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán đến chỉ số VN-Index và VN-30 (phụ lục 2) Mô hình hồi quy có dạng: VNI= β1+ β2 x KL+ β3 x GT Giai đoạn 2: Từ đầu năm 2008 đến hết năm 2009, đây là giai đoạn TTCK Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Kết quả hồi quy giá trị Sig. = 0.129 lớn hơn so với mức ý nghĩa 5% (tương ứng với độ tin cậy 95%). Như vậy, chưa đủ cơ sở để bác bỏ giả thiết H0, hay có thể cho rằng mô hình hồi quy là không phù hợp. Giai đoạn 3: kết quả kiểm định cho thấy, khi Vốn đầu tư trong nước tăng lên 1 tỷ đồng thì sẽ có tác động làm VN – Index tăng trung bình 0,057 điểm. Giai đoạn 4: giai đoạn nền kinh thế phục hồi diễn ra từ đầu năm 2012 đến hết tháng 6 năm 2013. Với các kết quả thu được như sau: Khi Vốn đầu tư nước ngoài tăng lên 1 tỷ đồng thì sẽ làm cho VN – Index tăng trung bình 0,238 điểm. Khi Vốn đầu tư trong nước tăng lên 1 tỷ đồng thì sẽ làm cho VN – Index tăng trung bình 0,067 điểm. Như vậy, có thể nói rằng sự biến động của Vốn ĐTNN có tác động làm cho VN – Index thay đổi mạnh hơn so với Vốn ĐTTN. 3.3.1.2. Mô hình hồi quy phản ánh tác động của vốn DTNN và DTTN đến chỉ số VN30 Mô hình phản ánh mối liên hệ giữa chỉ số VN 30 và Vốn đầu tư nước ngoài là mối liên hệ thuận, cụ thể: khi Vốn đầu tư nước ngoài tăng lên 1 tỷ đồng thì chỉ số VN30 sẽ tăng trung bình 0,004 điểm. 3.3.2. Mô hình hồi quy phản ánh tác động của động thái mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài đến chỉ số VN-Index Hệ số hồi quy chuẩn hóa của biến Giá trị mua ròng của nhà ĐTNN là 0,846 lớn hơn so với hệ số hồi quy chuẩn hóa của biến Khối lượng mua ròng của nhà ĐTNN là 0,476. Vì vậy, giữa 2 biến nói trên thì sự biến động về giá trị mua ròng của nhà ĐTNN có tác động mạnh hơn tới sự biến động của chỉ số VN – Index. 3.3.3. Sử dụng điều tra, phỏng vấn một số chuyên gia và nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến TTCK Việt Nam.(phụ lục 3) 3.3.1.1. Mô hình hồi quy phản ánh tác động của vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài đến chỉ số VN-Index Với những nỗ lực hết sức, đề tài đã nhận được các ý kiến từ 31 nhà đầu tư tổ chức, chuyên gia tư vấn và 59 nhà đầu tư cá nhân đều đang thực hiện đầu tư trên TTCK Việt Nam. 15 16 Đánh giá về kỳ vọng của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, kết quả cho thấy không mấy khả quan về kỳ vọng thị trường phát triển vượt trội nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu nhất quán trong chính sách quản lý dòng vốn nước ngoài, tiềm năng và nội lực của các tổ chức trung gian tài chính còn yếu kém, hàng hóa trên thị trường còn kém và thiếu sự đa dạng… Kết luận chương 3 Thực tế thời gian qua đã chỉ rõ việc thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán là chủ trương đúng đắn và cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển của thị trường chứng khoán nhằm tiếp cận với những kiến thức hiện đại trong quản lý cũng như nâng cao trình độ hiểu biết và trình độ đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với kỳ vọng xây dựng khuôn khổ chính sách pháp luật trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn gắn với thông lệ quốc tế đồng thời không ảnh hưởng đến độc lập và định hướng phát triển bền vững của hệ thống tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Không thể phủ nhận những thành tựu đạt được trong thời gian qua là đáng khích lệ, đóng góp đáng kể vào thành công của công cuộc đổi mới, tạo dựng được những nền tảng ban đầu rất quan trọng cho việc quản lý vốn đầu tư gián tiếp hiệu quả hạn chế các hiệu ứng tiêu cực do vốn đầu tư nước ngoài mang lại. Xuyên suốt quá trình từ khi có thị trường đến nay, có thể nói rằng với mức độ cải tiến về chính sách thu hút ĐTNN trên TTCK (trung bình 3-4 năm lại ban hành một văn bản mới điều chỉnh tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trên TTCK) là khá nhanh và tiến bộ, cho thấy những nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc cải tiến các chính sách để thu hút tốt hơn dòng vốn ĐTNN cho doanh nghiệp, và nền kinh tế. Những cải tiến này vẫn đang và sẽ tiếp tục được triển khai. CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VỐN FII TRÊN TTCK VIỆT NAM 4.1. Quan điểm và phương hướng phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020 4.1.1. Bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế 4.1.1.1. Bối cảnh kinh tế quốc tế Vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức sẽ tăng trong giai đoạn 2015-2020, đi cùng với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, nhu cầu vốn đầu tư nước ngoài được dự kiến không vượt quá 50% GDP 4.1.1.2. Bối cảnh kinh tế trong nước Kịch bản thứ nhất, Việt nam sẽ đạt được mức độ tăng trưởng cao từ năm 2011. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn 20112020 sẽ đạt 7,5-8%/năm. Đến năm 2020 GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt khoảng 2.500-2.800USD/năm. Kịch bản thứ hai, Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân sẽ thấp hơn và đạt ở mức 67%/năm. GDP của nền kinh tế sẽ đạt 200 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1.800-2.000 USD/năm Kịch bản thứ ba, nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ sau 2010 và đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn với mức bình quân 8-8,5%/năm như giai đoạn 2005-2008. Đến 2020 GDP đạt 350 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 3.100-3.500 USD/năm. 4.1.2. Định hướng phát triểnTTCK Việt nam đến năm 2020 Một là tăng quy mô, độ sâu và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán, phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu vào năm 2020 đạt khoảng 70% GDP, đưa thị trường trái phiếu trở thành một kênh huy động và phân bổ vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn, đào tạo nhà đầu tư cá nhân; Những đánh giá về mặt định lượng cho thấy, giao dịch của nhà ĐTNN có ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK (cụ thể ảnh hưởng đến chỉ số chứng khoán VN-Index và VN30) khá rõ nét và phù hợp với chu kỳ biến động của thị trường. Trên TTCK Việt Nam nhà ĐTNN được chia thành hai nhóm, gồm: nhóm nhà đầu tư tổ chức chủ yếu là các quỹ đầu tư và nhóm nhà đầu tư cá nhân. Mặc dù số lượng tài khoản nhà đầu tư tổ chức nhỏ hơn nhiều so với nhà đầu tư cá nhân, nhưng kết quả giao dịch cho thấy chiếm đến hơn 70% tổng vốn của khối nhà ĐTNN, điều này ảnh hưởng quan trọng đến chiến lược đầu tư và các quyết định đầu tư trên TTCK Việt Nam. Kết quả tìm được từ các mô hình kiểm định sẽ là căn cứ để đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài của tác giả phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Hai là tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán theo hướng tái cấu trúc mô hình TTCK, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa phương thức giao dịch và sản phẩm nghiệp vụ, nâng cao sức cạnh tranh của các định chế trung gian thị trường và các tổ chức phụ trợ; 17 18 Ba là tăng cường năng lực quản lý, giám sát, thanh tra và cưỡng chế thực thi của cơ quan quản lý nhà nước; Bốn là tham gia chương trình liên kết thị trường khu vực ASEAN và thế giới. 4.1.3. Quan điểm quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên TTCK Việt Nam 4.2.1.2. Giải pháp trong trường hợp vốn ra lớn Thứ nhất, quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cần phải được xây dựng, có cân nhắc tới rủi ro và ảnh hưởng mang tính lây chuyền của dòng vốn này tới các dòng vốn đầu tư nước ngoài khác. Ứng xử của các cơ quan quản lý nhà nước chỉ phù hợp khi đã nhận diện đúng nguồn gốc rủi ro, quy mô nguồn vốn có thể đào thoát cũng như bản chất của nguồn vốn này. Kiến nghị trong việc áp dụng các chính sách: Chính sách tỷ giá, Can thiệp trên tài khoản vốn, hạn chế dòng ra, Chính sách tài chính thắt chặt. Bên cạnh đó, việc sử dụng chính sách thuế khuyến khích nhà ĐTNN tham gia thị trường, … phần nào giảm bớt áp lực dòng vốn đảo ngược. Thứ hai, tiếp tục khuyến khích thu hút dòng vốn FII theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng, thông qua hoạt động đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp, giá trị đầu tư lớn và cam kết gắn bó lâu dài với TTCK Việt Nam. Thu hút có chọn lọc dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, theo hướng tập trung khuyến khích và ưu tiên vốn đầu tư trung và dài hạn, hỗ trợ phát triển kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Thứ ba, duy trì kiểm soát tài khoản vốn, tự do hóa tài khoản vốn phải được tiến hành từng bước, phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính và năng lực tài chính của nền kinh tế. Thứ tư, tăng cường quản lý và giám sát thị trường tài chính đặc biệt là thị trường chứng khoán nhằm nâng cao hiệu quả và tăng tính ổn định của khu vực tài chính. 4.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn FII trên TTCK Việt Nam 4.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam Thay đổi tư duy xây dựng pháp luật về đầu tư từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ. Trong nền kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập ngày càng sâu, để phát huy tiềm lực của các thành phần kinh tế thì phải tạo ra được môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống/khuôn khổ pháp lý hoàn thiện các quy định về thuế, các chuẩn mực kế toán/kiểm toán, các quy định về quản trị công ty, các cơ chế giải quyết tranh chấp, đặc biệt trong các trường hợp liên quan tới các đối tác nước ngoài. Chính sách quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài phải mang tính tổng thể, đồng bộ và toàn diện phù hợp với diễn biến thị trường, cụ thể như sau: 4.2.1.1. Hạn chế dòng vốn đầu tư gián tiếp ồ ạt đổ vào thị trường chứng khoán: Chính sách tiền tệ trung hòa dòng vốn vào (sterilization), Chính sách lãi suất, Chính sách tỷ giá, Dự trữ bắt buộc, Quy định tỷ lệ ký quỹ bắt buộc (Tobin tax), Chính sách tài khóa, Áp dụng dụng thuế cân bằng lợi tức Bên cạnh đó, tăng cường giám sát, thanh tra việc quản lý các loại hình rủi ro (rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro nghiệp vụ, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỳ hạn, rủi ro hệ thống… ) tại các định chế trung gian tài chính; hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý đối với từng loại tổ chức tài chính như chính sách phát triển, chế độ kế toán, hạch toán, lập báo cáo tài chính và kiểm toán theo các chuẩn mực quốc tế, trích lập dự phòng rủi ro, khuyến khích hoặc thể chế hóa các quy định về quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế; thay thế việc điều tiết, quản lý hoạt động các tổ chức tài chính bằng biện pháp hành chính bằng các biện pháp gián tiếp, biện pháp kinh tế cũng phần nào phát hiện sớm được những dấu hiệu bất thường của dòng vốn vào. 19 4.2.2. Nâng cao khả năng hoạch định chính sách phát triển thu hút hiệu quả vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán  Chính sách kinh tế vĩ mô Thứ nhất, là thúc đẩy sự phát triển của TTCK một cách đồng bộ, hướng tới sự phát triển cân đối giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, giảm bớt áp lực về vốn trung dài hạn đối với khu vực ngân hàng. Thứ hai, phát triển một cách đồng bộ thị trường tiền tệ (nội và ngoại tệ) theo hướng mở rộng thành viên tham gia thị trường đi cùng với đa dạng hóa sản phẩm của thị trường Thứ ba, nghiên cứu thay đổi quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư dài hạn, đầu tư chiến lược. Thứ tư, xây dựng các quy định về việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài theo hướng: Nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ tỷ lệ sở hữu lớn tại doanh nghiệp Việt Nam (có thể từ 20% trở lên hoặc một tỷ lệ khác cao hơn), thì phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện sau: (i) là nhà đầu tư chiến lược (có năng lực tài chính, hoặc là tổ chức kinh tế lớn hoạt động trong cùng ngành nghề, lĩnh vực như doanh nghiệp Việt nam có kinh nghiệm, chuyên môn, uy tín); (ii) cam kết sở hữu trong một khoảng thời gian tối thiểu nhất định; Thứ năm, xây dựng các quy định về việc khuyến khích đầu tư dài hạn.  Chính sách trong lĩnh vực tài chính ngân hàng (i). Đối với chính sách tiền tệ, nghiên cứu để xác lập và hoàn thiện các điều kiện cần thiết nhằm từng bước chuyển từ chính sách tiền tệ đa mục tiêu sang mục tiêu ổn định giá cả, từng bước hướng tới thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, chuyển từ cơ chế kiểm soát về lượng sang điều tiết về giá. (ii). Đối với Chính sách tỷ giá cần duy trì việc chính sách tỷ giá được điều chỉnh một cách chủ động và linh hoạt theo tín hiệu thị trường, thống nhất coi tỷ giá là công cụ của chính sách tiền tệ. (iii). Đối với dự trữ ngoại hối và quản lý ngoại tệ cần xác định cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp lý trên cơ sở đa dạng hoá rổ ngoại tệ mạnh có nhiều quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam. 20 (iv). Chính sách tài khóa cần thực hiện theo hướng: thứ nhất, thực hiện chính sách tài khóa theo hướng giảm bội chi ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả đầu tư công. Thứ hai, cải cách chính sách quản lý nợ công với dư nợ hợp lý, sử dụng vay nợ hiệu quả, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. (v). Chính sách đặc thù trên thị trường chứng khoán: chính sách nhằm phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường, phát triển các Hiệp hội, tổ chức phụ trợ TTCK. Các chính sách ưu đãi về thuế, phí đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. (vi). Tái cơ cấu tổ chức, tái cấu trúc thị trường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin của thị trường, nâng cao chất lượng hoạt động và giao dịch trên TTCK. 4.2.3. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát Xây dựng hệ thống tổng hợp thông tin hiện đại đồng bộ cho toàn bộ thị trường, bao gồm: Một là, hệ thống giám sát giao dịch trực tuyến theo thời gian thực, kết nối trực tiếp vào các hệ thống giao dịch và giám sát của các SGDCK; Hai là hệ thống phải có khả năng chiết xuất mọi thông tin cần thiết; Ba là xây dựng hệ thống công bố thông tin hiện đại; Bốn là cơ sở dữ liệu tổng hợp phải đươc cập nhật nhanh chóng, chính xác. Tăng cường giám sát, thanh tra việc quản lý các loại hình rủi ro (rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro nghiệp vụ, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỳ hạn, rủi ro hệ thống… ). Nghiên cứu xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nguy cơ khủng hoảng 4.2.4. Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước cơ chế phối hợp trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam 4.2.4.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ trì quản lý dòng lưu chuyển vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện các chính sách tiền tệ, tỷ giá linh hoạt, chủ động nhằm mục đích ổn định đồng tiền; quản lý, giám sát hệ thống các tổ chức tín dụng và khu vực ngân hàng bảo đảm sự ổn định của cả hệ thống, cụ thể: Rà soát các quy định về quản lý ngoại hối đối với nhà đầu tư nước ngoài để thống nhất với các quy định trong lĩnh vực đầu tư; Nghiên cứu đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, từng bước chuyển từ cơ chế kiểm soát về lượng sang điều tiết về giá; Nâng cao vai trò giám sát thị trường và người mua, bán cuối cùng, chức năng quản lý và điều hành thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước để điều hoà thị trường nội tệ và ngoại tệ. Nâng cao khả năng can thiệp vào thị trường khi cần thiết và sẵn sàng đối phó với những hoạt động đầu cơ trên thị trường; Kiểm soát chu chuyển vốn quốc tế, đặc biệt là vốn ngắn hạn cũng như kiểm soát nợ và các khoản bảo lãnh của các tổ chức tín dụng cho các doanh nghiệp vay trả chậm từ nước ngoài. 21 4.2.4.2. Đối với Bộ Tài chính (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) Bộ Tài chính tổ chức thực hiện các chính sách phát triển TTCK, thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trung và dài hạn và quản lý hoạt động đầu tư của nhà ĐTNN Nghiên cứu xây dựng các quy định về thuế trên TTCK có tính tới thời hạn đầu tư của nhà đầu tư trên TTCK theo thông lệ quốc tế, nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, thao túng của nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư dài hạn. Đối với nhà đầu tư có thời hạn đầu tư dài hạn tại TTCK Việt Nam, ngoài các chính sách ưu đãi về thuế (thuế giảm dần khi thời hạn đầu tư tăng dần), cân nhắc việc cho phép nhà đầu tư sau khi đã quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế theo quy định về thuế trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế xây dựng chính sách thuế về hoạt động chu chuyển vốn của nhà ĐTNN (thuế Tobin). Cơ sở tính thuế phải được căn cứ vào thời gian đầu tư thực trên thị trường Việt Nam, căn cứ vào dòng vốn vào và ra khỏi Việt Nam, nếu thời hạn dài sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi và ngược lại. Tuy nhiên, cần phải căn cứ thời điểm áp dụng cho phù hợp với chu kỳ phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Thực hiện chính sách tài khóa theo hướng giảm bội chi ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả đầu tư công. Sau những thời kỳ nền kinh tể tăng trưởng cao liên tục, cần cân nhắc áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt trong sự phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Cải cách chính sách quản lý nợ công hiệu quả, bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế và an ninh tài chính quốc gia. Xem xét xây dựng chiến lược nợ Chính phủ, nợ quốc gia, bảo đảm cơ cấu nợ là hợp lý, xét cả dưới góc độ loại tiền, kỳ đáo hạn, hiệu quả trong đầu tư, khả năng trả nợ hàng năm… Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn tài chính. Kiểm tra, giám sát chặt việc huy động vốn vay nước ngoài, sử dụng vốn vay nước ngoài, đặc biệt đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, các khoản vay của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trên nguyên tắc tự vay, tự trả và bảo đảm không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn, chỉ vay thương mại nước ngoài đối với các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả nợ. Trường hợp vay nước ngoài chung của tất cả các doanh nghiệp, Bộ Tài chính phối hợp với NHNN trình Thủ tướng phê duyệt hạn mức vay hàng năm. 4.2.4.3. Xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin dự báo tình hình dòng vốn Trong quá trình hội nhập và tự do hóa tài chính, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với những rủi ro có thể xảy ra là một vấn đề cấp thiết. Để có thể lượng hóa được các rủi ro, cơ quan quản lý cần xây dựng được một hệ thống giám sát, thu thập thông tin và cảnh báo rủi ro tài chính, để từ đó đưa ra những giải pháp thích ứng với tình hình và kiểm soát rủi ro như biến động tỷ giá, thâm hụt tài khoản vãng lai… Việc nắm bắt được đầy đủ, chính xác hoạt động đầu tư và hoạt động lưu chuyển vốn 22 đầu tư gián tiếp nước ngoài là rất cần thiết, đặc biệt đối với Việt Nam, làm cơ sở cho hoạt động hoạch định, điều hành chính sách tài chính, chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Kết luận chương 4 Nguồn vốn đầu tư gián tiếp là một tiềm năng rất lớn đối với thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Với các yếu tố thuận lợi khách quan, Việt Nam hoàn toàn có khả năng khai thác tiềm năng dòng chảy vốn FII của thế giới phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Khi một quốc gia tiếp nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài mà không có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả trước sự vận động liên tục của dòng vốn này, thì có thể sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề và nghiêm trọng, không những ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế trong nhiều năm tiếp theo, mà có nguy cơ xóa nhòa những thành tích phát triển kinh tế trong cả thập kỷ trước đó. Khu vực tài chính của Việt Nam hiện nay còn hạn chế để có thể thực hiện một tài khoản vốn hoàn toàn tự do, chất lượng tài sản và các khoản dự phòng chưa đáp ứng yêu cầu, tính linh hoạt của các tài sản tài chính còn thấp, hệ thống quản lý giám sát còn nhiều bất cập. Những dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài mặc dù không phải mang tính chất đầu cơ nhưng vẫn có thể ồ ạt rút ra nếu như các nhà đầu tư cảm thấy bất an. Ảnh hưởng trên sẽ được hạn chế hoặc được khắc phục, nếu chính phủ áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt và chính sách kiểm soát luồng vốn đầu tư nước ngoài chặt chẽ. Tuy nhiên thì những điều kiện này hiện tại chưa được áp dụng đầy đủ tại Việt Nam nên khi những yếu tố bất ổn xuất hiện thì “hiệu ứng bầy đàn” về rút vốn ở Việt Nam là điều khó tránh khỏi. KẾT LUẬN Đứng từ góc độ kinh tế chính trị, quản lý thị trường chứng khoán nói chung hay quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán đều hướng tới mục tiêu phát triển ổn định, an toàn vĩ mô. Các công cụ chính sách được lựa chọn theo phương pháp an toàn vĩ mô có thể sẽ vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của các đối tượng được điều chỉnh. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần ủng hộ quan điểm cho rằng biến động quá mức của vốn này nếu không có những biện pháp khắc phục kịp thời đều có thể dẫn đến sự đổ vỡ hệ thống tài chính tiền tệ, đồng nghĩa với sự thất bại của cơ quan quản lý. Quản lý đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán là một tất yếu, một thuộc tính của bất kỳ nhà nước nào. Cho dù những lĩnh vực, những quá trình xã hội ấy diễn ra ở bất kỳ vùng lãnh thổ nào của quốc gia thì nhà nước vẫn thực hiện chức năng quản lý đối với nó. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán là một lĩnh vực khá nhạy cảm và chứa đựng những 23 phức tạp đòi hỏi nhà nước phải quản lý. Để quản lý thật hiệu quả lĩnh vực này, nhà nước phải có hệ thống công cụ sắc bén, đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả nhất. Thực tiễn quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Nam Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu, giải quyết. Những vấn đề này đòi hỏi phải có hệ thống lý luận hoàn chỉnh và sâu sắc. Quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả Luận án rút ra một số kết luận sau đây: Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về đầu tư gián tiếp nước ngoài, phân tích được những đặc điểm cơ bản của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Thứ hai, hệ thống hóa được những lý luận về quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Sự cần thiết, nội dung và công cụ áp dụng cũng như các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Thứ ba, luận án tập trung nghiên cứu kinh nghiệm một số nước trong việc thu hút, quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Thứ tư, trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển thị trường chứng khoán cũng như quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán từ đó đưa ra một số đánh giá mặt được và mặt hạn chế cũng như nguyên nhân của các hạn chế còn tồn tại. Thứ năm, một mặt luận án thông qua mô hình kiểm định theo các chu kỳ cho thấy ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài đến chỉ số chứng khoán cho thấy ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài đến chỉ số chứng khoán VN Index được phản ánh rõ nét nhất là giai đoạn bùng nổ thị trường (2006-2007), khi kết quả cho thấy giá trị giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tăng 1 tỷ đông thì chỉ số VN-Index tăng 0,766 điểm trong khi giá trị giao dịch của nhà đầu tư trong nước tăng tương đương thì chỉ số chỉ tăng 0,516 điểm; Giá trị giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tăng 100 tỷ đồng thì chỉ số VN30 tăng 18,687 điểm; kết quả khảo sát và phỏng vấn một số chuyên gia và nhà đầu tư nước ngoài cho thấy bên cạnh đảm bảo môi trường vĩ mô lành mạnh, nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến chất lượng hàng hóa, tính minh bạch trong công bố thông tin cũng như dịch vụ trung gian trên thị trường chứng khoán. Thứ sáu, Kết quả nghiên cứu, luận án đã đưa ra các kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước: (1) Xây dựng các giải pháp ứng phó trong trường hợp dòng vốn vào ồ ạt hay trường hợp vốn đầu tư gián tiếp có dấu hiệu rút ra khỏi thị trường; (2). Bổ sung các chính sách trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nhằm thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài như nâng cao năng lực hệ thống trung gian và phụ trợ thị trường, tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, tái cấu trúc thị trường; (3). Xây dựng hệ thống thông tin tổng hợp, đồng bộ, xây dựng hệ thống tiêu chí cảnh báo sớm nguy cơ khủng hoảng thị trường; (4). Kiến nghị cơ chế phối hợp trao đổi thông tin dự báo tình hình dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. 24
- Xem thêm -