Vai trò quản lý của nh nhà nước

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 Lời Nói Đầu. Năm 2007 đã bắt đầu, nước ta đã tiến thêm một bước dài trên con đường phát triển kinh tế trong kế hoạch phát triển từ 2000 – 2020. Chúng ta đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO từ những ngày cuối năm 2006. Sự kiện đó đánh dấu một cơ hội lớn và thách thức lại càng lớn hơn nữa khi chúng ta phải chấp nhận những luật lệ quốc tế và mở cửa tạo điều kiện cho các công ty, tập đoàn lớn của thế giới xâm nhập vào thị trường Việt Nam nhưng cũng là cơ hội cho các Doanh nghiệp trong nước tham gia vào các thị trường lớn trên thế giới khi các hạn ngạch xuẩt khẩu được rỡ bỏ. Còn một sự kiện là Việt Nam đã tổ chức thành công hội nghị cấp cao APEC vào trung tuần tháng 11 năm 2006. Sự kiện đã thu hút được sự chú ý của toàn thế giới. Qua sự kiện đó bộ mặt đất nước đã thay đổi khá nhiều trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài. Qua đó họ thấy được những thế mạnh phát triển của đất nước như con người, môi trường kinh tế, tài nguyên và hơn nữa là có tình hình an ninh, chính trị ổn định, vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh tế lớn trên thế giới đầu tư vào Việt Nam. Theo đánh giá sơ bộ thì có 3 lĩnh vực mà sẽ bị ảnh hưởng sớm nhất đó là lĩnh vực Ngân hàng, lĩnh vực bán lẻ và lĩnh vực công nghệ bưu chính viễn thông. Theo đó các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới sẽ đổ một khối lượng vốn rất lớn vào Việt Nam để đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thông qua kênh phân phối chính là các Ngân hàng thương mại ( NHTM). Cùng với đó là sự xuất hiện của vô số các NHTM nước ngoài xâm nhập vào thị trường tài chính Việt Nam. Bên cạnh sự xuất hiện của vô số các NHTM của nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam là sự thành lập của vô số các Ngân hàng thương mại cổ phần ( NHTMCP) trong nước. Năm 2006 là một năm phát triển bùng nổ của các NHTM, thị trường chứng khoán cũng như công ty chứng khoán của các NHTM. Các ngân hàng liên tục tăng vốn qua niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và góp vốn đầu tư 1 của các cổ đông. Cuối năm lợi nhuận của các NHTM lớn hơn rất nhiều so với tổng kết của năm 2005. Các NHTM chia lãi cổ tức cũng rất lớn điều đó thu hút đầu tư của các nhà đầu tư trong nước. Vì vậy năm 2007 hứa hẹn là một năm phát triển rất nóng của thị trường tài chính trong nước. Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay, với sự gia tăng việc thành lập các Ngân hàng mới hiện nay. Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) phải có những biện pháp và những quy định cụ thể để những NHTMCP này có thể phát triển và đứng vững trong điều kiện sự xâm nhập mạnh mẽ của các Ngân Hàng và các tập đoàn tài chính mạnh trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh những biện pháp đó NHNN phải có những chính sách hỗ trợ hợp lý phù hợp với những quy định của Quốc Tế nhằm tăng cường sự phát triển của hệ thống NHTM vững mạnh có khả năng cạnh tranh ngang hàng với các NH lớn trong khu vực và thế giới. Và một lý do quan trọng khác là: NHNN phải đưa ra những quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của các khách hàng cũng như những quy định chống cạnh tranh không lành mạnh giữa các Ngân hàng. Trong khuân khổ một đề án, em xin trình bày những vấn đề chung nhất về sự thành lập một Ngân hàng mới, và vai trò quản lý của nhà nước, ngân hàng nhà nước trước tình hình đó. Với đề tài: “Vai trò quản lý của Ngân Hàng nhà nước đối với việc thành lập mới các Ngân Hàng Thương Mại cổ phần.”. Do hạn chế về kiến thức, lượng thông tin nên đề án còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp bổ xung của thầy giáo Nguyễn Anh Tuấn G.V hướng dẫn em làm đề án này để đề án hoàn chỉnh hơn. 2 Phần 1, Lý thuyết về NHTM và thành lập mới một NHTM. 1.1 Khái quát chung về NHTM. 1.1.1 Khái niệm NHTM. Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng rất đa dạng, bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, trong đó ngân hàng thương mại chiếm tỉ trọng lớn nhất với quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong mọi nền kinh tế. Trong đó, chủ thể là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Thu nhập từ ngân hàng có khi là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều gia đình, đối với các Doanh nghiệp thì Ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá, dự trữ hoặc xây nhà máy, mua sắm trang thiết bị. Khi các cá nhân, doanh nghiệp cần thanh toán các khoản tiền mua hàng hoá và dịch vụ họ thường dùng Séc, thẻ tín dung hay tài khoản điện tử....Khi họ cần những thông tin tài chính, cần tư vấn lập kế hoạch kinh doanh họ sẽ tìm đến Ngân hàng. Trong nền kinh tế, Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất, ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc bịêt là các chính sách tiền tệ, vì vậy nhờ Ngân hàng chính phủ có thể ổn định nền kinh tế bằng các chính sách tiền tệ của mình. Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với mọi nền kinh tế. Để đưa ra được định nghĩa chính xác về ngân hàng là rất khó nhưng có thể định nghĩa Ngân hàng thông qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi:” Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và các dịch vụ thanh toán.” 3 Qua cách tiếp cận Ngân hàng trên phương diện những loại hình mà chúng cung cấp:” Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Nhưng thực tế hiện nay, trong nền kinh tế thị trường rất nhiều các dịch vụ đa dạng của nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh( các tổ chức tài chính phi Ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. 1.1.2 Chức năng của NHTM. 1.1.2.1 Trung gian tài chính. Như trong phần khái niệm về Ngân hàng thì Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với 2 lại chủ thể: (1) Các cá nhân và các tổ chức có thặng dư trong chi tiêu, khi họ có thu nhập cao hơn mức tiêu dùng của họ dẫn đến họ có thặng dư ( thường là thặng dư tiền). Do vậy họ có tiền để tiết kiệm. (2) Các cá nhân và các tổ chức bị thâm hụt trong chi tiêu, tức là đầu tư và tiêu dùng lớn hơn thu nhập của họ, vì vậy họ là những người cần bổ xung vốn. Sự tồn tại của 2 loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (1) sang nhóm thứ (2) nếu cả 2 cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa 2 nhóm. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là làm thế nào để tiền từ nhóm (2) có thể được đưa về nhóm (1). Những người cần vốn làm sao để có thể tìm được những 4 người có thặng dư về chi tiêu do giới hạn về thời gian, không gian về quy mô.... Và quan trọng là lấy gì để đảm bảo rằng người có tiền sẽ cho người khác vay tiền. Vì vậy vai trò của Ngân hàng ở đây là trung gian tài chính. Người có tiền sẽ tin vào Ngân hàng và thông qua ngân hàng để tiền của mình có thể đến đúng địa chỉ. Và người cần vốn cũng có một địa chỉ để có thể tìm kiếm nguồn vốn thường xuyên và an toàn. Trong khi đó, Ngân hàng sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền. Và thực tế là các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Một lý do nữa làm cho các ngân hàng phát triển ổn định và thịnh vượng là họ có khả năng thẩm định thông tin. Sự phân bổ thông tin không đều và năng lực phân tích thông tin trên thị trường dẫn đến tình trạng “ thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng vì ngân hàng có chuyên môn và các công cụ đánh giá các thông tin để đưa ra khả năng lựa chọn các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất. 1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán. Trước khi có sự xuất hiện của ngân hàng thì con người vẫn quen với tiền kim loại như vàng, bạc, kim loại quý...Sau khi có các ngân hàng thợ vàng tạo ra các giấy nhận nợ với khách hàng. Và khi giấy nhận nợ được ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán đầu tiên. Với nhiều ưu thế, dần dần, giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại là phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó đã trở thành tiền tệ. Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời nhu cầu mỗi nước muốn có đồng tiền riêng đặc trưng cho quốc gia của mình, từ đó việc in tiền tập trung vào một tổ chức hoặc bộ tài chính hoặc ngân hàng trung ương. Từ đó chấm dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy bạc riêng của mình. 1.1.2.3 Trung gian thanh toán. 5 Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá, dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán, như thanh toán bằng Séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ... cung cấp các mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá, góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu. 1.1.3 Các dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng được coi là một doang nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ cho công chúng và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải xác định được nhu cầu của xã hội về những dịch vụ mà mình đưa ra nhằm thực hiện có hiệu quả một cách tối đa. Mua bán ngoại tệ: Một trong những dịch vụ đầu tiên phải kể đến của ngân hàng là mua bán ngoại tệ, do nhu cầu của các nhà đầu tư vào Việt Nam cần VNĐ nên họ bán ngoại tệ của mình, hay những nhà nhập khẩu ở Viêt Nam cần mua hàng hoá nước ngoài nên cần đổi nội tệ sang ngoại tệ. Hoặc đơn giản hơn là nhu cầu của các khách du lịch nên họ cần đổi tiền. Ngân hàng đứng ra mua bán từ loại tiền này sang loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính hiện nay thì việc mua bán ngoại tệ thường do các ngân hàng lớn thực hiện bởi những giao dịch như vậy thường có rủi ro cao và cần một trình độ chuyên môn cao. Nhận tiền gửi: Ngân hàng luôn luôn cần một lượng tiền lớn để cho vay, do đó ngân hàng cũng phải huy động được một lượng tiền tương đương với lượng tiền cho vay 6 đó. Do vậy ngân hàng luôn luôn tích cực trong việc khuyến khích khách hàng gửi tiền. Ngân hàng nhận tiền gửi của những người có thặng dư chi tiêu với cam kết sẽ trả đúng hạn. Ngân hàng coi lãi của khoản tiền gửi đó như phần thưởng mà ngân hàng trả cho khách hàng do họ đã hy sinh sự tiêu dùng trong trước mắt để cho ngân hàng có thể tạm thời dùng số vốn của họ để kinh doanh. Các ngân hàng phải canh tranh nhau khốc liệt nhằm thu hút sự chú ý, tin tưởng cũng như quyết định gửi khoản tiền của mình vào một ngân hàng. Hiện tại có rất nhiều cách để ngân hàng tăng cường thu hút tiền gửi Ví dụ: Ngân hàng Nông nghiệp Agribank: dự thưởng vàng miếng có chữ A Hay Ngân hàng ngoại thương có thưởng lãi suất cho các chứng chỉ tiền gửi có giá trị cao….. Cho vay: * Cho vay thương mại: Ngân hàng cho người mua vay tiền để họ có tiền mua và dự trữ hàng hoá. * Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng thường không hay cho người tiêu dùng vay tiền vì rủi ro khá cao nhưng hiện nay do sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay của các ngân hàng nên buộc các ngân hàng phải hướng đến người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng. * Tài trợ cho dự án: Bên cạnh các khoản cho vay ngắn hạn và trung hạn thì ngân hàng con cho vay các khoản vay dài hạn, ngân hàng ngày càng trở nên năng động hơn trong tài trợ cho các dự án. Tuy rằng loại tài trợ này rủi ro rất cao nhưng lợi nhuận khổng lồ đã khiếm cho các ngân hàng không thể đứng ngoài cuộc. Thậm chí còn có các ngân hàng cho vay để đầu tư vào đất, bất động sản. Bảo quản vật có giá: Ngày nay do điều kiện thuận lợi là lưu giư tiền cần an ninh tốt nhất nên các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, trang sức, đá quý và các vật có giá khác của khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ đồ và giao lại cho khách 7 hàng giấy biên nhận. Khách hàng có thể lấy bất cứ lúc nào với tờ giấy biên nhận của mình nhưng phải trả một khoản phí cho ngân hàng. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán. Khi các thương gia gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chi thực hiện việc bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả thanh toán cho khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt. Các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng họ có quyền viết giấy thanh toán cho khách hàng ( Sec) và khách hàng cầm tờ Sec đó đến ngân hàng và được ngân hàng thanh toán quy ra tiền mặt. Khi ngân hàng mở rộng quy mô, liên tục gia tăng các chi nhánh tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nhân khi thanh toán. Vì vậy, càng khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng va nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát triển như uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng máy, điện, thẻ…. Ngoài ra ngân hàng còn có rất nhiều các dịch vụ khác như: Quản lý ngân quỹ, tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, bảo lãnh, cho thuê các thiết bị trung và dài hạn, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý. 1.1.4 Các nhân tố tác động tới NHTM. - Chính phủ thực hiện chính sách giảm bao cấp và can thiệp trực tiếp. - Sự phát triển chu cầu dịch vụ tài chính. - Xu hướng đa dạng hoá trong môi trường hội nhập quốc tế. - Sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường tài chính. - Yêu cầu tăng vốn. - Khả năng “ di chuyển “ của khách hàng làm gia tăng tính nhạy cảm với lãi xuất của tài sản và nguồn vốn. - Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. 8 1.2 Cơ sở lý thuyết về thành lập mới một NHTM. 1.2.1 Cơ sở thực tiễn. Trong tình hình thực tế hiện nay, nhu cầu huy động vốn của các Doanh nghiệp là vô cùng lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Các Doanh nghiệp lớn, có uy tín thường cổ phần hoá, phát hành cổ phiếu hay tự huy động vốn nhưng các Doanh nghiệp nhỏ thì không thể làm điều đó hay chính các Doanh nghiệp lớn cung không thể đáp ứng đủ nhu cầu vốn của mình khi tự huy động. Vì vậy các Doanh nghiệp đương nhiên phải tìm đến ngân hàng như một cách tìm nguồn tiền thường xuyên và ổn định nhất. Và chính vì nhu cầu lớn đó đòi hỏi các NHTM phải tăng cường mở rộng quy mô, tăng vốn hoặc là cơ hội cho các nhà đầu tư, nhà tài chính mở NHTMCP. Hơn nữa hiện nay các tập đoàn kinh tế lớn trong nước như Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Điện lực Việt Nam (EVN) hay tập đoàn dầu khí, tập đoàn bảo hiểm, Tổng công ty XD Sông đà….. đang đứng trước nhu cầu về vốn và trong tay cũng có đầy đủ những yêu cầu để thành lập một NHTM CP. Và có vẻ đi cùng với thành công của NHTM CP Quân Đội thì không sớm thì muộn những Tổng công ty hay tập đoàn này sẽ nhảy vào lĩnh vực tài chính đầy cơ hội và hấp dẫn này. Nhưng hiện nay, chính NHNN cần phải cân nhắc cấp giấy phép thành lập cho các NHTMCP vì có rất nhiều NHTM mới thành lập có kết quả kinh doanh không mấy khả quan.Theo “ báo điện tử diendandoanhnghiep” thì họ đã có cuộc phỏng vấn với thống đốc NHNN Vịêt Nam bài viết có tựa đề “ Hạn chế thành lập Ngân Hàng mới (13/04/2006)” . Nội dung bài phỏng vấn: “Ngân hàng nhà nước (NHNN) đang gấp rút xây dựng quy định về quản trị ngân hàng. Theo chủ trương này, NHNN sẽ hạn chế thành lập các ngân hàng mới, thay vào đó là củng cố nâng cao chất lượng của hệ thống ngân hàng đang hoạt động. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, DĐDN đã có cuộc PV Thống đốc NHNN Lê Đức Thuý. 9 - Hiện nay, một số TCty lớn chuyển sang tập đoàn đều có chủ trương thành lập ngân hàng mới. Nhưng với quy chế đang soạn thảo, NHNN lại hạn chế thành lập các ngân hàng mới. Tại sao vậy, thưa Thống đốc? Chúng ta đã mở cửa cho đối tác nước ngoài, vậy không lý do gì lại khép cửa đối với các nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh có điều kiện, nó gắn liền với sự ổn định an toàn của hệ thống nền kinh tế,vì vậy không phải ai muốn kinh doanh ngân hàng cũng được. Hai năm vừa qua hoạt động ngân hàng có lợi nhuận cao, do vậy nhiều người đang muốn nhảy vào kinh doanh lĩnh vực này mà không hiểu được rằng các ngân hàng đã phải trả giá rất đắt mới đạt được kết quả hiện nay. Tôi lấy ví dụ không ít ngân hàng như VP Bank mới được chấm dứt kiểm soát đặc biệt 1 năm qua, rồi Eximbank nợ quá hạn 1.200 tỷ, đến nay vẫn tồn đọng cần xử lý tiếp, và thậm chí nhiều ngân hàng không chia lợi tức cổ đông trong suốt 5 - 10 năm. Số ít ngân hàng mới có lợi nhuận 2 - 3 năm vừa qua tương đối tốt. Vì vậy, muốn kinh doanh ngân hàng đừng ảo tưởng về lợi nhuận của ngân hàng. Đối với NHNN, chúng tôi đã phải đóng cửa rút giấy phép, sáp nhập và xử lý rất nhiều hậu quả nặng nề từ 53 ngân hàng cổ phần xuống còn 36. Hiện nay, chúng tôi chưa hoàn toàn yên tâm với bộ máy này. Sự phát triển tiếp tục của những tổ chức tín dụng theo tôi đòi hỏi quan trọng nhất là nguồn nhân lực. Những người quản trị ngân hàng có kinh nghiệm biết quản lý rủi ro và phải có bộ máy kiểm soát kiểm tra chặt chẽ mới hạn chế được rủi ro. Do vậy, không phải các tập đoàn cứ có tiền là có thể kinh doanh ngân hàng được. - Theo quy chế mà NHNN đang soạn thảo thì các tổ chức muốn thành lập ngân hàng mới phải có vốn 1.000 tỷ đồng, tương đương với ngân hàng cổ phần cỡ lớn của VN. Vậy quy định này có quá chặt không, thưa Thống đốc? Thực ra, việc tái cơ cấu hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần hiện đang được tiếp tục. Theo đó, hàng loạt tiêu chuẩn quốc tế đang được NHNN đưa vào để các ngân hàng tuân thủ nhằm mục tiêu xa hơn là hội 10 nhập, chứ không chỉ lành mạnh hoá và nâng cao độ an toàn như trước đây. Trong bối cảnh việc kiện toàn hệ thống đang còn dở dang thì việc cấp phép đương nhiên cũng đang được chúng tôi xem xét xây dựng đưa vào quy chế. Hơn nữa, nếu thành lập thêm các ngân hàng mới thì những tiêu chuẩn cao sẽ được xem xét áp dụng với mục tiêu là nếu thành lập thêm các tổ chức tín dụng mới thì những tổ chức này sẽ phải hoạt động có hiệu quả. Một điều kiện quan trọng nhất - theo tôi đó là vốn của các tổ chức này rất cao. Dự kiến một ngân hàng mới thành lập sẽ có vốn ít nhất là 1.000 tỷ đồng, tương đương với vốn điều lệ của ngân hàng cỡ lớn như Sacombank, ACB... Đó là chưa nói tới một số tiêu chuẩn khác về chất lượng quản trị điều hành, công nghệ...” Qua bài phỏng vấn trên thì đã lộ rõ được những khó khăn mà một NHTMCP mới thành lập gặp phải và khó khăn để một tổ chức, tập đoàn có tiềm lực về tài chính có thể thành lập một NHTM và quản lý tốt hoạt động của các NHTM. Thực tế cho thấy có rất ít các NHTMCP mới thành lập mà có thể thu hút sự quan tâm và lòng tin của khách hàng đến gửi tiền và gửi tiết kiệm. Như NHTM CP Toàn Cầu ( G- Bank) với những tiện ích trong quản lý tài khoản của khách hàng nhưng với tâm lý người Việt Nam luôn luôn đặt an toàn cho đồng vốn của mình lên hàng đầu lòng tin cho một NHTMCP mới thành lập chắc chắn không cao. Hơn nữa đối tượng cho vay của các NHTMCP mới thành lập thường chưa có độ tin cậy, chưa có mức độ an toàn cần thiết nên dẫn đến tình trạng nợ quá hạn và các khoản nợ xấu trong các NHTM CP là tương đối lớn và là một vấn đề rất khó giải quyết trong nay mai. 1.2.2 Cơ sở pháp lý. NHTM là một tổ chức tín dụng chịu sự quản lý của NHNN và hoạt động như một doanh nghiệp độc lập. Nên hoạt động của một NHTM phải tuân theo quy định của NHNN và Luật Doanh nghiệp nhưng trong vấn đề thành lập mới một NHTM ta chỉ xét theo luật các tổ chức tín dụng. 11 Trong luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 có quy định về các thủ tục, điều kiện để nhà nước cho phép thành lập mới một ngân hàng như sau: Điều 21: Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động: Ngân hàng nhà nước là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức tín dụng và cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng cho các tổ chức khác theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật. Điều 22: Điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động: 1. Điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng đối với tổ chức tín dụng gồm có: a) Có nhu cầu hoạt động ngân hàng trên địa bàn xin hoạt động; b) Có vốn quy định tại điều 83 của luật này; (Điều 83: Vốn pháp định: Mức vốn pháp định của mỗi loại tổ chức tín dụng do Chính phủ quy định.) c) Thành viên sáng lập là tổ chức, cá nhân.. có uy tín về năng lực tài chính; d) Người quản trị, điều hành có năng lực hành vi đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với từng loại hình tổ chức tín dụng; e) Có điều lệ, tổ chức hoạt động phải phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của Pháp Luật; f) Có phương án kinh doanh khả thi; 2. Các điều kiện để cấp giấy phép hoạt động Ngân hàng đối với các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng gồm có: a) Hoạt động ngân hàng là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động chính; b) Có đủ vốn, điều kiện vật chất phù hợp với các hoạt động Ngân hàng; c) Có đội ngũ am hiểu hoạt động ngân hàng; d) Có phương án kinh doanh khả thi về hoạt động ngân hàng. Điều 23: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động. 12 1) Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng gồm có: a) Đơn xin cấp giấy phép thành lập; b) Dự thảo điều lệ; c) Phương án hoạt động 3 năm đầu, trong đó nêu rõ hiệu quả và lợi ích kinh tế của hoạt động ngân hàng. d) Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh trình độ chuyên môn của thành viên sáng lập, thành viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc. e) Mức góp vốn, phương án góp vốn và danh sách các cá nhân, tổ chức góp vốn. f) Tình hình tài chính và các thông tin liên quan khác về cổ đông lớn; g) Chấp nhận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền về nơi đặt trụ sở tổ chức tín dụng; 2) Hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động ngân hàng của tổ chức không phải là tổ chức tín dụng gồm có: a) Đơn xin cấp giấy phép hoạt động ngân hàng; b) Quyết định, chứng nhận, giấy phép hoạt động ngành nghề đang kinh doanh; c) Điều lệ; d) Danh sách, lý lịch của các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Ban kiểm soát (nếu có). e) Tình hình tài chính 3 năm gần nhất; f) Phương án hoạt động ngân hàng; Điều 28. Điều kiện hoạt động 1. Để tiến hành các hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng cấp giấy phép phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có điều lệ được NHNN chuẩn y; b) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn pháp định và có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động NH; 13 c) Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong toả không được hưởng lãi tại NHNN trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày. Số vốn này chỉ được giải toả khi tổ chức tín dụng hoạt động; d) Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định pháp luật về những nội dung quy định trong giấy phép. 2) Để tiến hành các hoạt động ngân hàng, tổ chức không phải là các tổ chức tín dụng được cấp giấy phép hoạt động NH phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có trụ sở kinh doanh phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng; b) Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định của pháp luật về những nội dung quy định trong giấy phép. 3. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép, tổ chức được NHNN cấp giấy phép phải hoạt động. 1.3 Vai trò của NHNN với việc thành lập mới một NHTM. 1.3.1 Vai trò về quản lý Trong luật các tổ chức tín dụng NHNN có những quy định chặt chẽ về quản lý bộ máy hoạt động của NHTM CP khi thành lập. Đó là những thành viên sáng lập, những người lãnh đạo, điều hành hoạt động phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, có những phương án hoạt động tín dụng, tài chính rõ ràng, hiệu qủa và khả thi. NHNN sẽ đứng ra giám sát các hoạt động của NHTM CP mới thành lập chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh. Thông qua các văn bản luật quy định về tỷ lệ khoản vay trên tài sản đảm bảo về khả năng chuyển đổi các nguồn ngắn hạn sang dài hạn… NHNN gián tiếp quản lý các hoạt động tín dụng của các NHTM nhằm tránh rủi ro từ các quyết định đầu tư mạo hiểm rất dễ phát sinh trong các NHTMCP mới thành lập do chưa có kinh nghiệp đánh giá rủi ro hoặc theo đuổi mức lợi nhuận cao. NHNN đưa ra những chuẩn mực chung phù hợp với luật lệ của quốc tế cho các NHTM CP mới thành lập và các NHTM đang thành lập có một sự thống nhất trong quản lý hoạt động chung của các NHTM. Cũng như thành lập những uỷ 14 ban kiểm tra, thanh tra của NHNN, các tổ chức kiểm toán, ban kiểm soát đặc biệt nhằm liên tục kiểm tra, khen thưởng, sử phạt thậm chí có thể tước giấy phép các hoạt động tín dụng điều mà nhiều nhà đầu tư hiện tại đang tìm kiếm khi các quy định thắt chặt về thành lập mới một NHTM CP của NHNN được ban hành. Về những quy chế mà NHNN đang soạn thảo thì NHNN sẽ quản lý NHTM CP mới thành lập chặt hơn nữa thông qua các quy định chặt chẽ về vốn điều lệ, bộ máy hoạt động cũng như các phương án hoạt động kinh doanh phải được NHNN thông qua. Và một điều quan trọng dễ nhận thấy là đứng trước tình hình đó thay vì các tập đoàn kinh tế lớn trong nước rồn rập đi thành lập các NHTM thì họ lại đua nhau đi mua lại cổ phần của các NHTM đã thành lập và nâng tầm cho các NHTM CP đó. Đi đầu là EVN đã mua lại 40% Cổ phần NHTM CP AN BÌNH. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu của NHNN khi thắt chặt thành lập NHTM CP mới là hy vọng với các NHTM CP nhỏ đã thành lập có cơ hội phát triển mạnh hơn, ổn định hơn trước. 1.3.2 Vai trò của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ: Cùng với các NHTM đã thành lập thì với các NHTM CP mới thành lập NHNN vẫn phải thực hiện vai trò của mình là thực hiện các chính sách tiền tệ nhằm bảo đảm một thị trường tài chính an toàn cho quốc gia và thực hiện nhiệm vụ của mình với nhà nước. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN: a) Công cụ tái cấp vốn: Ngân hàng nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM bằng các biện pháp sau: - Cho vay lại theo sơ đồ tín dụng - Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ ngắn hạn khác - Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu hoặc giấy tờ ngắn hạn khác. b)Lãi suất: Ngân hàng nhà nước quyết định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn. 15 c)Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Ngân hàng nhà nước xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam d)Dự trữ bắt buộc: - NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng lại tiền gửi từ 0% đến 20% trên tổng số dư tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ. Việc trả lãi đối dự trũ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi trong từng thời kỳ do chính phủ quy định. e)Nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHNN và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ. 16 Phần 2, Thực trạng về vấn đề thành lập NHTM CP mới ở Việt Nam và giải pháp, kiến nghị về vai trò của NHNN trước tình hình đó. 2.1 Tình hình thực tế hiện nay về vấn đề thành lập NHTM CP mới ở Việt Nam. 2.1.1 Thực trạng về việc thành lập mới các NHTM CP. a) Bối cảnh kinh tế trong nước. Sau hơn 10 năm đàm phán thì cuối cùng Việt Nam cũng đã đạt được một thành công lớn đánh dấu một bước chuyển mình đó chính là từ ngày 07/11/2006 Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Khi gia nhập WTO chúng ta không còn những hạn ngạch về xuất khẩu như trước nhằm tránh tiêu cực và có hành lang an toàn cho các Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam yên tâm sản xuất và phát triển. Chúng ta đón nhận luồng gió mới từ các nhà đầu tư nước ngoài, thể hiện trực tiếp và sinh động nhất thông qua cam kết đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong năm 2007 tăng đáng kể. Cùng với việc tổ chức thành công hội nghị cấp cao APEC chúng ta đã đón rất nhiều các nhà lãnh đạo, các nguyên thủ các quốc gia lơn trên thế giới như G.Bush(Mỹ), V.Putin(Nga), Kozumi(Nhật), Hồ Cẩm Đào( Trung Quốc)…Cùng với đó là các hợp đồng đầu tư, tài trợ lớn được chính phủ Việt Nam và các nước ký kết. Như vậy, chúng ta đang có một cơ hội lớn, nhưng đòi hỏi chúng ta phải có những sự chuẩn bị, cố gắng nhiều hơn vì đi cùng với cơ hội lớn là thách thức và khó khăn rất lớn…Khi các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam họ không chỉ đem đến cho chúng ta những lĩnh vực mới, công nghệ mới mà còn là đối thủ cạnh tranh vô cùng lớn với các doanh nghiệp nước ta. Với quy mô vốn lớn, kỹ thuật hiện đại…họ sẽ nhanh chóng có được lợi thế trong cạnh tranh. Chính vì lẽ đó các Doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng thích nghi với tình hình hiện nay, cổ phần hoá, tăng cường huy động vốn,thay đổi những kỹ thuật lạc hậu nhằm tận dụng những thế mạnh hiện có và ưu thế của mình chiếm thị phần. 17 b) Thực trạng về nhu cầu thành lập các NHTM CP mới. Trong bối cảnh kinh tế có các điều kiện thuận lợi thích hợp cho các NHTM tăng cường mở rộng kinh doanh nên các NHTM liên tục tăng vốn, mở chi nhánh….Và bên cạnh đó là nhu cầu thành lập NHTM CP mới là rất lớn. Đầu tiên xuất phát từ nhu cầu của các Tổng công ty, các tập đoàn kinh tế lớn của đất nước như EVN, VNPT, FPT ….Họ có tổng tài sản lớn, có nhu cầu kinh doanh trong lĩnh vực NH. Do hiện nay NHTM CP luôn mang lại một khối lượng lợi nhuận khổng lồ như báo cáo tài chính của các NHTM CP lớn trên cả nước như Sacombank, ACB, EAB….Chính vì lẽ đó đã thu hút được các nhà đầu tư và có một số NHTMCP đã thành lập vào cuối năm 2006 như NHTMCP Toàn cầu( GBank) với những tiện ích riêng như quản lý tài khoản của khách hàng bằng nickname hay một số tiện ích khác trong cách huy động vốn như đưa ra những mức lãi suất bậc thang là cùng với thời hạn gửi như nhau thì số lượng tiền gửi sẽ quyết định mức lãi suất khách hàng được hưởng. Hay NHTM CP Toàn Cầu đã đưa ra mức lãi suất tiền gửi lớn hơn so với các NHTM khác coi một biện pháp thu hút sự chú ý của khách hàng.Nhưng những biện pháp này của G-Bank cũng hàm chứa rất nhiều rủi ro trong kinh doanh cần được NH tính toán ký lưỡng cũng như phải đưa Khoa Học – Công nghệ áp dụng vào hoạt động kinh doanh phục vụ cho quản lý tài khoản của khách hàng. Tuy vậy không chỉ có cách thành lập các NHTM CP các tập đoàn kinh tế lớn đang hướng đến một mục tiêu khác đó là đầu tư mua lại các NHTM CP nhỏ để tránh những quy định khắt khe của NHNN trong việc xin giấy phép thành lập mới một NHTM CP. Như tập đoàn điện lực Việt Nam là EVN đã mua 40% NHTM CP An Bình nâng cấp NHTMCP này từ NHTM CP Nông Thôn lên NHTM CP Thành Thị và chắc chắn trong tương lai kế hoạch của EVN sẽ mua toàn bộ cổ phần NHTM này coi như đây là một NHTM CP mới thành lập của chính tập đoàn này. Nhưng theo lời của Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Đức Thuý thì những NHTM nông thôn kiểu này không nhiều chỉ có khoảng 3 – 4 NHTMCP này là NHTM CP Cờ Đỏ, NHTM CP Đại Á, NHTM CP Kiên Long. 18 Chính vì vậy giá cổ phiếu các NHTM CP này lên rất cao nếu các Tập đoàn kinh tế lớn trong nước muốn mua lại. Hơn nữa chính các cổ đông chính của NHTM CP đó cũng hiểu rất rõ giá trị của tờ giấy phép mình đang nắm trong tay. Hơn nữa chính các cổ đông này thành lập ra các NHTM CP đó cũng với mục đích đầu tư nguồn vốn của mình nên không dễ gì để học bán đi phương án đầu tư của chính mình. Hơn nữa trong thời đại bùng nổ thông tin này thì với Khoa học công nghệ phát triển dẫn đến tạo ra những phần mềm, những máy móc phục vụ đắc lực cho các dịch vụ của NHTM nên những nhà đầu tư có được những khoa học công nghệ đó chắc chắn sẽ có thế mạnh hơn trong việc triển khai vào thu hút khách hàng cũng như sẽ có những chính sách hợp lý về các loại hình kinh doanh của NH dẫn đến nhu cầu mở NHTM của họ là rất cần thiết và khả thi. Như vậy nhu cầu các Tổ chức kinh tế lớn trong nước muốn thành lập NHTM CP là tương đối lớn. Có điều NHNN đã đưa ra những biện pháp thắt chặt về thành lập đó là NHTM CP muốn thành lập phải có vốn điều lệ là 1000tỷ VND tương đương với vốn điều lệ của các NHTM CP lớn nhất của VN như NHTM CP Á Châu, Sacombank….Hơn nữa trong một tương lai không xa NHNN yêu cầu các NHTM phải liên tục tăng vốn và vốn pháp định phải lên đến 3000tỷ VND một con số không hề nhỏ đòi hỏi các NHTM CP lớn đang hoạt động cần phải có những biện pháp cần thiết và mạnh dạn hơn chưa nói các NHTM CP mới hoạt động thì không thể theo được yêu cầu này. Tóm lại nhu cầu thành lập NHTM CP mới hiện nay là tương đối lớn vì đang là thời kỳ bùng nổ của nền kinh tế cũng như thị trường tài chính dựa trên những điều kiện thuận lợi. Vì vậy đòi hỏi NHNN cần phải có biện pháp quản lý thích hợp với những chính sách phát triển dài hạn mới có thể đưa thị trường tài chính của Việt Nam đủ sức cạnh tranh với các tổ chức tài chính mạnh khác của nước ngoài. 19 2.1.2 Thực trạng về vai trò quản lý của NHNN đối với các NHTM CP mới thành lập. NHNN xây dựng mục tiêu tái cơ cấu hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần hiện đang được tiếp tục. Theo đó, hàng loạt tiêu chuẩn quốc tế đang được NHNN đưa vào để các ngân hàng tuân thủ nhằm mục tiêu xa hơn là hội nhập, chứ không chỉ lành mạnh hoá và nâng cao độ an toàn như trước đây. Trong bối cảnh việc kiện toàn hệ thống NH đang còn dở dang thì việc cấp phép đương nhiên cũng đang được NHNN xem xét xây dựng đưa vào quy chế. Hơn nữa, nếu thành lập thêm các ngân hàng mới thì những tiêu chuẩn cao sẽ được xem xét áp dụng với mục tiêu là nếu thành lập thêm các tổ chức tín dụng mới thì những tổ chức này sẽ phải hoạt động có hiệu quả. Vai trò tích cực: Thực tế nước ta chưa có những vụ phá sản NHTM nào nhưng cũng đã có lần NHTM CP ACB lúc đó là NHTM CP mới thành lập bị tung tin đồn về Tổng giám đốc bỏ trốn dẫn đến nguy cơ phá sản của NH. NHNN( cụ thể là thống đốc NHNN Việt Nam Ô.Lê Đức Thuý đã phải đứng ra phủ nhận thông tin sai lệch này) nhằm làm giảm sức ép của khách hàng đến rút tiền và NHNN phải cho NHTMCP ACB vay tiền để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng do lo ngại về nguy cơ phá sản của NH. Bên cạnh đó NHNN cũng đã phải ra công văn yêu cầu các NHTM khác giúp đỡ thêm lượng tiền huy động để NHTM CP ACB vượt qua được cơn hoạn nạn nhằm tránh xảy ra phá sản, dẫn đến một cuộc hoảng loạn NH trong hệ thống các NHTM trên cả nước. NHNN cũng đã duy trì được chính sách tiền tệ của mình giúp đất nước phát triển cũng như sự phát triển ổn định của các NHTM trên cả nước. NHTM trên cả nước hiện nay đã có những bước tiến mạnh mẽ với hàng loạt các NH đã niêm yết trên thị trường chứng khoán và tương lai rất sáng sủa dành cho các NH khi cổ phiếu được các nhà đầu tư đón nhận rất nhiệt tình và giá liên tực tăng. Trong 20
- Xem thêm -