Vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới hiện nay

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................................... 4 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn .......................................... 7 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 7 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ............................. 8 6. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................... 8 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .................................................... 8 8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 9 Chương 1. NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM ........................................................ 10 1.1. Nông dân và nông thôn mới ở Việt Nam ................................................. 10 1.1.1. Nông dân và những đặc điểm nông dân Việt Nam ............................... 10 1.1.2. Những đặc điểm của nông thôn và nông thôn mới ở Việt Nam ................ 25 1.2. Vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ............................. 36 Chương 2. VAI TRÒ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở BẠC LIÊU CỦA NÔNG DÂN TRONG TỈNH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP...................... 48 2.1. Nông dân Bạc Liêu xây dựng nông thôn mới trong tỉnh ........................ 48 2.1.1. Đặc điểm nông dân và nông thôn tỉnh Bạc Liêu................................... 48 2.1.2. Nông dân Bạc Liêu thực hiện xây dựng nông thôn mới ....................... 59 2.2. Những giải pháp cơ bản nâng cao vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới của tỉnh ................................................................... 73 2.2.1. Phải thực hiện thay đổi nhận thức của nông dân Bạc Liêu về mọi mặt ....... 73 2.2.2. Cần phải tiếp tục xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng ở địa phương. ................ 77 2.2.3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn Bạc Liêu. ................................ 79 2.2.4. Tăng cường hoạt động giáo dục, văn hóa, y tế, bảo vệ môi trường sinh thái và an sinh xã hội ở Bạc Liêu................................................................... 82 2.2.5. Thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh ....... 86 KẾT LUẬN .................................................................................................. 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 93 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNTB : Chủ nghĩa tư bản CNXH: Chủ nghĩa xã hội CNH : Công nghiệp hóa HĐH : Hiện đại hóa TBCN: Tư bản chủ nghĩa XHCN: Xã hội chủ nghĩa MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đa số trong dân cư (trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, nông dân chiếm hơn 90% dân số, hiện nay nông dân còn chiếm hơn 70% dân số cả nước). Ở mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vai trò, tầm quan trọng to lớn có ý nghĩa chiến lược của nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Trong những năm vừa qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống của nông dân được cải thiện nhiều, bộ mặt nông thôn đã có những biến đổi sâu sắc. Trong quá trình đó, thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các địa phương tiến hành xây dựng thí điểm một số mô hình nông thôn mới ở quy mô xã, thôn, ấp, bản trên phạm vi cả nước. Nhưng do nhận thức chưa thống nhất, chỉ đạo, đầu tư còn phân tán, cho nên kết quả đạt được còn hạn chế. Đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu xây dựng giai cấp nông dân, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chủ trương của Đảng, Nhà nước ta thì việc xây dựng nông thôn mới hiện nay còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết. Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh”[38;tr.90]. Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X, tại Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TƯ “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đề ra mục tiêu “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”[39;tr.126]. Vì vậy, phát triển nông 1 nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới là vấn đề có tính chiến lược và căn bản, liên quan đến sự nghiệp của Đảng và nhân dân trên cơ sở: nông nghiệp dồi dào thì đời sống mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện, nông dân giàu thì đất nước thịnh, nông dân ổn định thì cả xã hội yên. Coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới nhằm cải thiện, nâng cao đời sống nông dân, đưa nông dân tiến dần lên CNXH là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH, góp phần nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước đang phát triển ở trình độ thấp, nâng cao đời sống của đa số dân cư nông thôn. Vì vậy, việc phát huy vai trò to lớn của nông dân trong xây dựng nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa thiết thực ở các địa phương trong cả nước hiện nay, trong đó có tỉnh Bạc Liêu. Bạc Liêu là một tỉnh thuần nông và là một trong những tỉnh trọng điểm về sản xuất lương thực thuộc đồng bằng sông Cửu Long, trong những năm qua đã có nhiều cố gắng trong việc phát huy vai trò của các giai cấp, tầng lớp trong tỉnh để phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, làm biến đổi bộ mặt nông thôn như: lực lượng sản xuất phát triển nhanh trên nhiều mặt, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có bước chuyển biến tích cực theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ mặt nhiều vùng nông thôn trong tỉnh từng bước được thay đổi; quan hệ sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới; văn hóa - xã hội ở nông thôn có bước phát triển khá tốt; đời sống vật chất, tinh thần của cư dân ở hầu hết các vùng nông thôn trong tỉnh được nâng lên; công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn; hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở được giữ vững; vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao. Tổng giá trị sản xuất nông, công nghiệp, thương mại và dịch vụ tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể; tỷ lệ hộ 2 nghèo giảm rõ rệt; cơ sở hạ tầng từng bước hoàn chỉnh, trình độ dân trí được nâng lên, kể cả vùng sâu, vùng xa. Đảng bộ, chính quyền cấp xã đã năng động hơn, bộ máy chính quyền được củng cố, kiện toàn; trình độ quản lý của cán bộ được nâng lên thể hiện qua việc điều hành các hoạt động xã hội, thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của địa phương; cán bộ xã nhận thức đúng đắn trách nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhân dân bước đầu có ý thức, tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ và tích cực đóng góp xây dựng nông thôn mới. Các mặt văn hóa, xã hội đã có sự chuyển biến tích cực; các chính sách đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện; các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giáo dục, giảm nghèo và việc làm được thực hiện có hiệu quả; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tuy nhiên, vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Bạc Liêu đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần phải giải quyết như công tác tuyên truyền, vận động nhân dân về chủ trương xây dựng nông thôn mới của các cấp chính quyền địa phương còn yếu và thiếu; một bộ phận cán bộ ở một số cấp, ngành còn mơ hồ chưa nắm bắt được những chủ trương đường lối của Đảng, những chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc xây dựng kế hoạch của các cấp, các ngành thiếu phối hợp đồng bộ, thiếu sự gắn kết giữa nhiệm vụ chuyên môn của ngành với nhiệm vụ xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới, do đó chưa huy động được các nguồn lực đầu tư vào nông thôn, nhất là lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Sự đóng góp của các cấp, các ngành và người dân cả vật chất và tinh thần vào xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế. Các tổ chức kinh tế tập thể kiểu mới bước đầu được hình thành, song chưa phát huy tác dụng, kết quả hoạt động chưa đủ sức thuyết phục và thu hút người dân tham gia. Kinh tế có bước tăng trưởng, nhưng chưa thật vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có, giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao. Sản xuất còn độc canh, mang tính tự phát, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa thấp, sản xuất chưa gắn với bảo vệ môi trường, ngành nghề phi nông nghiệp chậm phát triển v.v… làm cản trở sự phát triển bền vững của nông thôn. Trình độ dân trí tuy được nâng lên nhưng không đồng đều; lao động qua 3 đào tạo còn ở trình độ thấp, chủ yếu là lao động phổ thông. Trình độ và năng lực lãnh đạo của cán bộ ở cơ sở còn hạn chế. Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và dân sinh. Trong sự nghiệp xây dựng tỉnh giàu mạnh, Bạc Liêu cần tập trung khai thác và sử dụng tốt các nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đa số dân cư nông thôn. Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, cần phải tập trung sự nỗ lực của toàn xã hội để giải quyết những vấn đề cấp bách, đồng thời tạo ra tiền đề cho bước phát triển tiếp theo. Chính vì vậy, việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa chiến lược bảo đảm đạt được mục tiêu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Do vậy, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề này. Có thể kể tên một số công trình trong thời gian gần đây như sau: - Nghiên cứu về nông thôn Việt Nam có các công trình như: “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử”, tập 1, của Viện sử học (Nxb Khoa học xã hội, H.1977); “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử”,tập 2, của Viện sử học (Nxb Khoa học xã hội, H.1979); “Nông thôn Việt Nam tiến lên CNXH” của Viện sử học (Nxb Khoa học xã hội, H.1979). Những công trình này đã lược khảo lịch sử phát triển của nông thôn Việt Nam, đặc biệt trong quá trình xây dựng CNXH những năm trước đổi mới. - Nghiên cứu về nông dân và nông thôn Việt Nam có các công trình như: “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại”, tập1, của Viện sử học (Nxb Khoa học xã hội, H.1990); “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại”,tập 2, của Viện sử học (Nxb Khoa học xã hội, H.1993). Những công trình này đã làm rõ vai trò của nông thôn và nông dân trong thời cận đại của Việt Nam. - Các công trình nói về nông dân dưới góc độ tâm lý như “Đặc điểm tâm lý nông dân đồng bằng Bắc Bộ và sự tác động của nó đối với quá trình công nghiệp 4 hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta” của tác giả Lê Kim Việt (Nxb CTQG, H.1998); “Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân” của tác giả Đỗ Long (Nxb Khoa học xã hội, H.2000). - Nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có các công trình như: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Hội nông dân Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Kỳ (Nxb Nông nghiệp, H.2005); “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau” của tác giả Đặng Kim Sơn (Nxb CTQG, H.2008). Những công trình này đã khái quát một số nét về sự phát triển, những đóng góp của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và Hội nông dân Việt Nam trong đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước. - Nghiên cứu về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có các công trình đã được công bố như: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Hồng Vinh (Nxb CTQG, H.1998); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi” của tác giả Nguyễn Kế Tuấn (Nxb CTQG, H.2006). Trong các công trình này, các tác giả đã đề cập tới tính tất yếu, những nôị dung và những vấn đề đang đặt ra trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay. - Dưới góc độ nghiên cứu về kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn có các công trình như “Đổi mới kinh tế - xã hội nông thôn định hướng và những giải pháp thực tiễn” của tác giả Lưu Văn Sùng (Tạp chí khoa học và dự báo tháng 6/1993); “Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam” của tác giả Chu Hữu Quý (Nxb CTQG, H.1996). - Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn CNH, HĐH” do PTS Đặng Thọ Xương chủ biên; (Nxb CTQG, H.1997) đưa ra nhận xét đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, thực chất của những thành tựu đã đạt được. Công trình “Nông nghiệp Việt Nam 61 tỉnh, thành phố” của tác giả Vũ Năng Dũng chủ biên (Nxb Nông nghiệp, H.2001) đề cập tới vấn đề nông nghiệp của các tỉnh, thành phố nước ta trong giai đoạn hiện nay. Công trình nghiên cứu của PTS. Nguyễn Sinh Cúc và PTS. Nguyễn Văn Tiêm “Nửa thế kỷ phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 1945 - 1995” (Nxb Nông nghiệp, H.1996). Đây là công trình nghiên cứu về 5 nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn 1945 - 1995 và đề xuất những ý kiến về chặng đường phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tiếp theo. - Các công trình nghiên cứu về nông vận như “Công tác vận động nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Hội Nông dân Việt Nam (Nxb Nông nghiệp, H.1999); “Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay” của Ban Dân vận Trung ương (Nxb CTQG, H.2000). - Nghiên cứu về xu hướng biến đổi của nông dân có các công trình như “Đặc điểm và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Bùi Thị Thanh Hương (LATS, H.2000); “Xu hướng biến đổi cơ cấu - xã hội của giai cấp nông dân ở Nam Bộ Việt Nam hiện nay” của Lê Ngọc Triết (LATS, H.2002). Những công trình này đã phân tích những đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam và dự báo xu hướng vận động của giai cấp nông dân nước ta trong sự nghiệp CNH, HĐH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. - Nghiên cứu về vai trò của nông dân như “Quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và việc phát huy vai trò nông dân ở nước ta hiện nay” của Tô Mạnh Cường (LV Thạc sĩ, H.2008). Công trình này tác giả đã phân tích quan điểm của V. I Lênin về vai trò của giai cấp nông dân Nga trong bảo vệ chính quyền cách mạng, trong xây dựng khối liên minh công nông, xây dựng nhà nước XHCN và xây dựng CNXH. Từ những luận điểm đó cần phải nghiên cứu vận dụng vào xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay. - Nghiên cứu về vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới như “Phát huy tiềm năng của nông dân tỉnh An Giang trong việc xây dựng nông thôn mới hiện nay” của Trần Hùng Điệp (LV Thạc sĩ, H.1997). Công trình này đã phân tích những tiềm năng của nông dân An Giang và những biện pháp phát huy những tiềm năng đó trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của tỉnh. - Nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Bạc Liêu có các công trình của Đào Thị Bích Hồng như “Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn (1997 - 2003)” (LV Thạc sĩ, H.2005); “Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát 6 triển nông nghiệp, nông thôn (1997 - 2005)” (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 2007, tr.45 - 47); “Mấy vấn đề về nông nghiệp Bạc Liêu trong thời kỳ đổi mới” (Tuyển tập báo cáo tóm tắt Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Việt Nam hội nhập và phát triển, Nxb Đại học Quốc gia, H.2008). Những công trình trên đã phân tích tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn Bạc Liêu những năm qua và nêu lên những vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó bàn những biện pháp để phát huy những thành tựu và khắc phục những yếu kém. Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có các bài viết, bài báo trên các tạp chí đã tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau, cũng như mức độ khác nhau có liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Như vậy cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn dưới các góc độ khác nhau: lịch sử, kinh tế - xã hội, tổ chức quản lý v.v... Những công trình đó giúp cho tác giả hiểu rõ thêm những vấn đề có liên quan tới nông dân, nông thôn. Tuy nhiên, dưới góc độ chính trị - xã hội chưa có công trình nào nghiên cứu về: Vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới hiện nay. Vì vậy, công trình này là sự cố gắng của tác giả đem những hiểu biết lý luận của mình vào nghiên cứu thực tiễn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích của luận văn Luận văn đánh giá thực trạng vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới vừa qua ở tỉnh Bạc Liêu, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp cơ bản để nâng cao vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới của tỉnh hiện nay. Nhiệm vụ của luận văn - Làm rõ những đặc điểm của nông dân, nông thôn Bạc Liêu và những yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Bạc Liêu hiện nay. - Đánh giá thực trạng việc xây dựng nông thôn mới vừa qua ở Bạc Liêu, từ đó tìm ra những giải pháp có tính khả thi để tiếp tục nâng cao vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới hiện nay ở Bạc Liêu. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu của luận văn 7 Luận văn đi sâu nghiên cứu vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh. Phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn không nghiên cứu toàn bộ vấn đề nông dân và nông thôn trong phạm vi cả nước mà chỉ đi sâu nghiên cứu vai trò của nông dân tỉnh Bạc Liêu trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh từ năm 1997 tới nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Cơ sở lý luận của luận văn Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của nông dân và nông thôn trong cách mạng XHCN. Đồng thời, luận văn cũng kế thừa những thành quả của những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn trong thời gian gần đây. Phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử. 6. Đóng góp mới của luận văn - Luận văn làm rõ về đặc điểm nổi bật của người nông dân Bạc Liêu và vai trò của nông dân Bạc Liêu trong quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh hiện nay. - Luận văn nghiên cứu thực trạng vai trò nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh, từ đó đề xuất một số giải pháp để nông dân Bạc Liêu có thể phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong xây dựng nông thôn mới. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lý luận của luận văn Luận văn là tài liệu tham khảo, nghiên cứu để giảng dạy những vấn đề liên quan tới nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam nói chung, tỉnh Bạc Liêu nói riêng. 8 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn là nguồn tài liệu để nông dân, các cấp chính quyền địa phương tham khảo nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của bà con nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Mục lục, luận văn gồm 2 chương 4 tiết. 9 Chương 1. NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM 1.1. Nông dân và nông thôn mới ở Việt Nam 1.1.1. Nông dân và những đặc điểm nông dân Việt Nam Quan niệm về nông dân Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: Nông dân được định nghĩa là “người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [69; tr. 675]. Theo từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học: Nông dân là “một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình”, “là một giai cấp xã hội đặc biệt, giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và quá trình phát triển của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và tồn tại cho tới khi xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản” [49; tr. 227]. Theo từ điển Chính trị vắn tắt, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998: Nông dân được định nghĩa là một giai cấp trong xã hội. Dưới chế độ phong kiến và tư sản, giai cấp nông dân là toàn thể những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, kinh doanh cá thể bằng tư liệu sản xuất của riêng mình và bằng lực lượng của gia đình mình. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta về nông dân C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng “nông dân là giai cấp những người tiểu nông” [43; tr.149-150]. “Tiểu nông là một khối quần chúng rộng lớn mà tất cả các thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ tách rời nhau” [43; tr.527528]. “Tiểu nông mà chúng ta nói tới ở đây là chỉ người chủ ruộng đất hoặc người tá điền và nhất là người chủ một mảnh ruộng không lớn hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ. Như vậy, cũng như tiểu thủ công nghiệp, người tiểu nông này 10 là người lao động, anh ta khác với người lao động vô sản hiện đại ở chỗ anh ta còn có tư liệu lao động, như vậy anh ta là tàn dư của một phương thức lỗi thời” [43; tr.11-12]. Bản chất xã hội và địa vị của nông dân trong xã hội là do phương thức sản xuất thống trị quy định và được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế xã hội và các giai đoạn phát triển của nó. Trong xã hội XHCN, nông dân bao gồm những người sản xuất nông nghiệp phân tán và chủ yếu là những người sản xuất nhỏ. Trong điều kiện của CNTB, nông dân là một tầng lớp tiểu tư hữu - sản xuất hàng hóa, một bộ phận của tiểu tư sản, tất yếu ngày càng bị phân hóa. Nông dân phân hóa thành ba nhóm khác nhau xét theo địa vị giai cấp của họ: tiểu nông (bần nông, cố nông), trung nông và tư sản nông nghiệp. Việc tích tụ sản xuất TBCN và việc tăng cường sự tước đoạt dẫn tới chỗ làm xói mòn tầng lớp trung nông. Một mặt, số quần chúng vô sản và nửa vô sản không ngừng tăng lên ở nông thôn và mặt khác, giai cấp tư sản được tăng cường. Xét về bản chất kinh tế - xã hội, giai cấp nông dân dưới CNTB có tính hai mặt: vừa là giai cấp những người lao động, vừa là giai cấp những người tư hữu. Theo C.Mác, nông dân là những người tư hữu và sản xuất nhỏ. Họ là những người chủ sở hữu những tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và do đó không thể có được nền kinh tế độc lập. Người nông dân “chỉ sống vì những lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm làng của họ”[29; tr. 488]. Chính phương thức sản xuất manh mún đó đã trói buộc tư duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập. C.Mác viết: “mảnh đất cỏn con, người nông dân và gia đình anh ta, cạnh kề một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác”[29; tr.515] cùng với nền kinh tế tự cung, tự cấp không làm cho họ liên lạc với nhau mà lại làm họ cô lập với nhau. Vì vậy, “nông dân không bao giờ vượt ra khỏi phạm vi những quan hệ địa phương gần nhất và khỏi cái chân trời địa phương chật hẹp gắn liền với những quan hệ đó”[29; tr.188]. C.Mác cũng chỉ ra nông dân vừa là người tư hữu, vừa là người lao động bị áp bức bóc lột nặng nề. 11 Trong xã hội phong kiến, họ phải chịu các khoản lao dịch, địa tô, thuế thân, tiền bảo hộ và mọi khoản thuế khóa khác “đều đè nặng lên vai người nông dân” [29; tr.171]. Trong xã hội TBCN, giai cấp nông dân thậm chí còn chịu bóc lột nặng nề hơn. C.Mác viết: “bọn cho vay nặng lãi ở thành thị đã thế chân bọn phong kiến… Chế độ tư sản đã lại trở thành con quỷ hút máu và não của mảnh đất con đó và đem trút máu và não ấy vào các bình cổ cong luyện vàng của tư bản”[29; tr.520]. Chính sự áp bức bóc lột nặng nề này là cơ sở để hình thành tư tưởng phản kháng của nông dân đối với chế độ phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, C.Mác cũng chỉ rõ sự đấu tranh đó không phải xuất phát từ sự giác ngộ về quyền lợi giai cấp mà là những tính toán quyền lợi vật chất vì họ là những người có đầu óc “thực tế và thiết thực”. Là người tư hữu nhỏ, nông dân có thể tự phát đi theo CNTB, thỏa hiệp với tư sản và địa chủ để bảo vệ những tài sản nhỏ bé của mình. Mặt khác, là người lao động bị áp bức, bóc lột, nông dân có thể đi theo giai cấp vô sản làm cuộc cách mạng để giải phóng cho bản thân mình. Như vậy, C.Mác và Ph. Ăngghen đã cho rằng nông dân vừa là người sở hữu, tư hữu nhỏ, vừa là người lao động bị áp bức, bóc lột nặng nề trong các xã hội có áp bức giai cấp. Tuy vậy, các ông cũng lưu ý nền sản xuất nhỏ và tư tưởng tư hữu đã hạn chế nhiều đến ý thức và kết quả đấu tranh của giai cấp nông dân. Sự dao động, ngả nghiêng ảnh hưởng không ít tới vai trò chính trị của họ, nhưng ở họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn. Bởi vậy, họ cần có một giai cấp tiến bộ hơn để lãnh đạo giai cấp mình - giai cấp vô sản. Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, việc giai cấp nào giành được sự đồng tình, ủng hộ của giai cấp nông dân là yếu tố cơ bản quyết định sự thắng lợi. Vì vậy, giai cấp vô sản phải tìm cách liên minh với giai cấp nông dân, nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của cách mạng vô sản sẽ trở thành bài ca ai điếu. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức”, Ph.Ăngghen cũng cho rằng “việc đảng xã hội chủ nghĩa giành chính quyền đã trở thành một việc không xa nữa. Nhưng muốn giành được chính quyền thì trước hết Đảng đó phải chuyển từ thành thị về nông thôn, phải trở thành một thế lực ở nông thôn”[30; tr.565]. 12 Quan điểm của V.I.Lênin về nông dân là sự kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về nông dân trong điều kiện mới là CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và khẳng định về khả năng cách mạng to lớn của giai cấp này trong tiến trình cách mạng XHCN. Người cho rằng, nông dân (trung nông) là những người sản xuất hàng hóa nhỏ, là những người tiểu tư hữu. Họ là giai cấp của thời kỳ gia trưởng, một giai cấp do hàng chục, hàng trăm nô lệ tạo thành. Trong suốt hàng chục năm ấy, người nông dân là một người tiểu chủ, lúc đầu phải phục vụ các giai cấp khác, rồi sau đó được tự do và bình đẳng về hình thức, nhưng là người tư hữu, người sở hữu lương thực. Nông dân vừa là những người lao động, vừa là những người tư hữu nhỏ. Mặc dù họ khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế và lợi ích nhưng có một điểm chung giữa các tầng lớp thuộc nông dân, đó là họ đều sinh sống bằng cách làm thuê cho các giai cấp bóc lột ở nông thôn, hoặc là họ tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình trên những điều kiện sẵn có của mình về tư liệu sản xuất, chứ không sống bằng việc bóc lột lao động của người khác. Lao động đó có thể đủ đáp ứng nuôi sống gia đình và nhu cầu sản xuất của họ. Thậm chí với trung nông, lao động đó có thể tạo ra sản phẩm dư thừa để họ có thể tích lũy. Vì vậy, “Giai cấp đó, một mặt là người tư hữu, mặt khác lại là người lao động”[44; tr.237]. Đặc điểm này đã được V.I.Lênin chỉ rõ khi phân tích sự khác biệt giữa trung nông và bọn cu - lắc. Trung nông khác cu - lắc ở chỗ là trung nông không bóc lột lao động của người khác. Còn bọn cu - lắc thì bóc lột lao động của người khác. “Bần nông, những người nửa vô sản, chính là những người phải chịu sự bóc lột đó; trung nông, chính là người không bóc lột ai, tự túc được, lúa tạm đủ ăn”[45; tr.18]. V.I.Lênin cũng cho rằng, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập. Tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đương thời. Do chịu sự tác động rất lớn của những điều kiện kinh tế - xã hội nên nông dân có tư tưởng dễ dao động, mập mờ và thực tế. Họ chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ, nhưng cũng phải chờ cho tới khi nào họ nhận thức rõ ràng được lợi ích đó. Cho nên, nếu những người XHCN và những người cộng sản biết cách nói điều hơn lẽ thiệt với nông dân thì sẽ thuyết phục được họ tham gia cách mạng XHCN. 13 Do giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, sự dao động, sự tính toán mang đầy tính thực tế nên có thể được xem đây là một trong những đặc điểm quan trọng của nông dân trong bất kỳ giai đoạn nào. Người nông dân không thể rời khỏi xã hội cũ để đi vào xã hội mới một cách hoàn toàn giản đơn, dễ dàng, ngay tức khắc được. Nông dân biết rằng xã hội cũ bảo đảm “trật tự” cho anh ta bằng cách làm cho những người lao động phá sản, biến họ thành nô lệ. Nông dân không biết giai cấp vô sản có thể đem lại trật tự cho anh ta được không. V.I.Lênin viết rằng, “Đối với người nông dân khốn cùng, dốt nát, tản mạn, ta không thể yêu cầu cao hơn được. Nông dân sẽ không tin bất cứ một lời nói nào, bất cứ một cương lĩnh nào. Và anh ta có lý khi anh ta không tin vào lời nói, vì nếu không thì không có cách nào khỏi bị lừa bịp. Nông dân chỉ tin vào hành động, vào kinh nghiệm thực tiễn”[46; tr.443]. Chính vì đặc điểm đó của nông dân mà V.I.Lênin căn dặn chính quyền Xô viết bất luận thế nào cũng không thể dùng bạo lực để ép nông dân đi theo mình mà phải cương quyết xây dựng mối quan hệ hòa thuận với họ. Trung nông sẽ không thể ngay lập tức đứng về phía CNXH được vì họ vẫn còn bị chính những tập quán ràng buộc, họ dè dặt trước sự đổi mới, và họ sẽ lấy thực tiễn để kiểm tra những điều mà người ta kêu gọi họ, và khi họ chưa tin chắc là cần thiết để thay đổi thì họ sẽ chưa thay đổi. Khi phân tích diễn biến tâm lý của tầng lớp trung nông, một tầng lớp mà giai cấp vô sản phải tranh thủ sự ủng hộ trước và sau cách mạng, V.I.Lênin chỉ ra rằng tầng lớp này thường nghiêng ngả giữa vô sản và bọn cu - lắc. Một số ít trung nông nhờ may mắn có thể trở thành cu - lắc bởi vậy họ thiên về cu - lắc, nhưng phần lớn thì không thể trở thành cu - lắc được. Cho nên, “nếu những người XHCN và những người cộng sản biết cách nói điều hơn lẽ thiệt với trung nông thì sẽ thuyết phục được họ, làm cho họ thấy rằng chính quyền Xô - viết có lợi cho họ hơn bất cứ chính quyền nào khác, vì mọi chính quyền khác đều áp bức và bóp nặn họ” [45; tr.18]. Giai cấp nông dân bắt buộc phải đi theo giai cấp vô sản, ủng hộ giai cấp vô sản tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng XHCN. Trong Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề ruộng đất để trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản, 14 V.I.Lênin đã khẳng định: “Đối với quần chúng lao động ở nông thôn, không có con đường giải thoát nào khác ngoài sự liên minh với giai cấp vô sản chủ nghĩa và triệt để ủng hộ cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp đó để lật đổ ách thống trị của bọn địa chủ - bọn chiếm hữu nhiều ruộng đất và của giai cấp tư sản”[47; tr.207]. Hơn nữa, trong xã hội áp bức, bóc lột, giai cấp nông dân là giai cấp bị áp bức một cách ghê gớm, bị giam hãm và sinh hoạt trong những điều kiện vô cùng thấp kém. Vì vậy, giai cấp nông dân chỉ có thể ủng hộ và đi theo con đường cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo nhằm diệt trừ bọn đại địa chủ và giai cấp tư sản. V.I.Lênin khẳng định: “Do địa vị kinh tế của mình trong xã hội tư sản, nông dân nhất định phải đi theo hoặc công nhân, hoặc giai cấp tư sản. Không có con đường trung gian”[46; tr.438]. Như vậy, theo V.I.Lênin thì giai cấp nông dân là giai cấp được hình thành từ rất lâu trong lịch sử. Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với các tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, phân tán mà mình sở hữu. Trong các xã hội có áp bức, bóc lột giai cấp, giai cấp nông dân là người bị chèn ép, bóc lột, do vậy, con đường giải phóng của giai cấp nông dân chỉ có thể là đi theo giai cấp vô sản tiến hành cuộc cách mạng XHCN để giành quyền lợi cho mình. Xuất phát từ đặc điểm nước ta và phong trào nông dân tham gia các cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám để chống Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về vấn đề nông dân và liên minh công nông vào điều kiện nước ta. Vào năm 1925, trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người viết: “Công nông là gốc cách mệnh”, “Công nông là chủ cách mệnh”. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên do Người khởi thảo ghi rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo để làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”. Còn “phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ đứng trung lập”[31; tr. 3]. 15 Trong đường lối cải cách ruộng đất (1953), Người chỉ rõ: “Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến”[33; tr.180]. Trong thời kỳ vận động nông dân vào con đường hợp tác xã, Hồ Chí Minh nêu rõ đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn là “Dựa hẳn vào bần nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ với trung nông”[34; tr. 487]. Nhờ có đường lối cách mạng nói chung, chính sách đối với các tầng lớp nông dân nói riêng đúng đắn mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đưa cách mạng nước ta tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá nông dân là một lực lượng cách mạng to lớn không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ mà cả trong cách mạng XHCN và xây dựng CNXH. Khi tổng kết 30 năm hoạt động của Đảng (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông. Vì vậy, trải qua các thời kỳ Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, củng cố liên minh công nông”[35; tr.17-18]. Theo Hồ Chí Minh, việc đi lên CNXH của cách mạng Việt Nam là một tất yếu khách quan và chỉ xây dựng CNXH thành công thì nhân dân, trong đó đa số là nông dân mới thực sự được hưởng tự do, hạnh phúc. Do vậy, quá trình xây dựng CNXH cũng là quá trình không ngừng nâng cao đời sống người nông dân và mục tiêu đó của cách mạng được thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ở nước ta, nông dân là một giai cấp đông đảo nhất, đi theo cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản góp phần làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám và giành được thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong thời bình xây dựng đất nước, nông dân cũng là lực lượng đông đảo, thế nhưng cũng đang là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, kể cả huy động lực lượng cũng như hưởng thụ những thành quả của đổi mới, xây dựng nông thôn mới, tăng trưởng kinh 16 tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X khẳng định nông dân là chủ thể quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng đất nước nói chung, phát triển nông nghiệp và nông thôn nói riêng. Vấn đề nông dân hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những nội dung liên quan tới người nông dân trên tất cả các phương diện sống của họ để tồn tại và phát triển một cách bền vững. Bởi vậy, vấn đề này cần được xác định trong mối quan hệ tương tác với các nhân tố là nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế và được đặt trong bối cảnh phát triển chung của đất nước, của toàn cầu. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Đảng ta xác định là phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành phục vụ trực tiếp nông nghiệp, thực hiện chuyên môn hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương; xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng, tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng hóa… Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt để xứng đáng là một lực lượng cơ bản trong quá trình xây dựng nông thôn mới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Như vậy, theo đường lối lãnh đạo của Đảng, vấn đề nông dân đã được đặt trong tầm nhìn bao quát và rất cơ bản. Ở nước ta hiện nay, nông dân được hiểu là những người lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp sử dụng một loại tư liệu sản xuất đặc biệt là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản. Vậy, nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất hàng hóa nhỏ, tư hữu nhỏ trong nông, lâm, ngư nghiệp; hình thành, phát triển trong xã hội phong kiến, trong chế độ TBCN và tồn tại trong giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Giai cấp này ngày càng giảm cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp. 17 Đối với những nước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản trong điều kiện CNTB chưa phát triển hoặc chưa phát triển cao, giai cấp nông dân còn chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt với giai cấp này. Những đặc điểm nông dân Việt Nam Việt Nam là một quốc gia ở khu vực Đông Nam châu Á, với 54 dân tộc anh em sinh sống trên một địa bàn mà thiên nhiên vừa ưu đãi lại vừa khắc nghiệt. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, đất đai rất thích hợp với việc trồng lúa nước và phát triển của nhiều loài động vật, thực vật. Sự giao lưu kinh tế, văn hóa cũng vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là thường xuyên đứng trước sự xâm lược của các thế lực bên ngoài. Vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội cùng với cuộc đấu tranh chống ngoại xâm trong hàng nghìn năm đã tạo nên những đặc trưng của một dân tộc mà nông dân chiếm đại đa số (hơn 90%) và đó cũng chính là những đặc điểm riêng của nông dân Việt Nam. Một là giai cấp nông dân Việt Nam có tinh thần yêu nước sâu sắc. Tinh thần yêu nước trước hết là đấu tranh bảo tồn dân tộc không bị đồng hóa lai căng, bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Yêu nước xuất phát từ yêu quê hương làng xóm yên bình phát triển thành tình yêu đất nước hòa bình, độc lập. Mười thế kỷ Bắc thuộc, nông dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh để không bị Hán hóa. Những thế kỷ tiếp theo, từ năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán giành độc lập cho dân tộc, cho đất nước; đến Nguyễn Huệ đại phá Mãn Thanh; hai lần đánh thắng đế quốc Pháp và Mỹ dưới thời đại Hồ Chí Minh. Trong vòng 10 thế kỷ, Việt Nam 10 lần đại thắng quân xâm lược bằng khát vọng tự do, độc lập. Trong đội quân chiến thắng huy hoàng ấy mà nông dân là lực lượng chủ yếu. Đây là đặc điểm nổi bật mà nông dân nhiều nước không có. Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam nói chung và của giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng đã được Hồ Chí Minh đúc kết: “Dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi 18
- Xem thêm -