Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự Luận văn ThS. Luật

  • Số trang: 133 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 358 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THỊ HƯỜNG VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THỊ HƯỜNG VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Chuyên ngành : Luật dân sự Mã số : 603830 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS.TRẦN ANH TUẤN Hà Nội – 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Phạm Thị Hường MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT SƯ VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ LUẬT SƯ VÀ Ý NGHĨA VỀ SỰ THAM GIA TỐ TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1.1 Khái niệm Luật sư 8 8 1.1.2. Đặc điểm của Luật sư 14 1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự 17 1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 20 1.2.1 Vị trí của Luật sư trong tố tụng dân sự 20 1.2.2 Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự 21 1.3. LƯỢC SỬ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 24 1.3.1 Thời kỳ trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 24 1.3.2 Thời kỳ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay 25 1.4. PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 36 1.4.1. Những hệ thống luật cơ bản trên thế giới liên quan đến vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự 36 1.4.2 Quy định của pháp luật một số nước đại diện cho các hệ thống Luật cơ bản về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự 41 CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 51 2.1. LUẬT SƯ VỚI VAI TRÒ ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2.1.1. Về điều kiện thực hiện vai trò đại diện theo ủy quyền 51 51 2.1.2. Về quyền và nghĩa vụ tố tụng của Luật sư khi tham gia với vai trò đại diện theo ủy quyền 54 2.2. LUẬT SƯ VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 57 2.2.1. Về điều kiện thực hiện vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 57 2.2.2. Về quyền và nghĩa vụ tố tụng của Luật sư khi tham gia với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 59 2.3. VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG CÁC GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ 63 2.3.1. Vai trò của Luật sư tại Tòa án cấp sơ thẩm 63 2.3.2. Vai trò Luật sư tại Tòa án cấp phúc thẩm 81 2.3.3. Vai trò Luật sư tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 82 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 86 3.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 86 3.1.1. Những kết quả đạt được của việc thực hiện vai trò hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự 86 3.1.2. Những hạn chế, bất cập của việc thực hiện vai trò hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự 91 3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 107 3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự 107 3.2.2. Hoàn thiện các quy định liên quan đến vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự 110 3.2.3. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của Luật sư 116 3.2.4. Về tăng cường quản lý nhà nước, phát huy vai trò tự quản và giám sát việc tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Luật sư. 117 3.2.5. Về tăng cường hội nhập quốc tế về Luật sư trong tố tụng dân sự 119 KẾT LUẬN 122 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. BLDS : Bộ luật dân sự 2. BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự 3. XHCN: Xã hội chủ nghĩa 4. PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 5. TTDS : Tố tụng dân sự MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Nghề Luật sư là một nghề cao quý trong xã hội, ngày càng được tôn vinh và có vai trò quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, phấn đấu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy chung của xu thế toàn cầu hoá. Vai trò của Luật sư nói chung cũng như vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự là không thể thiếu được trong xã hội và ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là một trong những quyền dân sự của công dân đã được pháp luật xác định thành một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự. Đó là nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách là đương sự có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ Luật sư bảo vệ. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đòi hỏi Đất nước phải xây dựng được một đội ngũ Luật sư tài năng và đạo đức. Đó chính là lời phát biểu của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Hội nghị tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”: “…Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà…đội ngũ Luật sư cần xác định rõ vai trò của mình để phấn đấu vươn lên không chỉ về trình độ nghề nghiệp mà còn cả trong việc giữ gìn đạo đức hành nghề ”. Đồng thời Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cũng nêu rõ: “Đào tạo, phát triển đội ngũ Luật sư đủ 1 về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Hoàn thiện cơ chế để Luật sư thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với Luật sư. Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của Luật sư đối với các tổ chức thành viên của mình”.[6] Trong thời gian gần đây, số lượng Luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự ngày một nhiều hơn. Với sự am hiểu pháp luật, với kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp, Luật sư đã góp phần không nhỏ vào việc làm sáng tỏ sự thật khách quan, giúp Tòa án giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được cũng phải nhận thấy rằng, vai trò hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập. Nhận thức về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự là chưa thống nhất. Nhiều người vẫn chưa có cách nhìn đúng đắn về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự, kể cả những người tiến hành tố tụng. Họ thường quan niệm Luật sư như những “người giúp việc”, cho rằng Luật sư tham gia vào hoạt động tố tụng dân sự chỉ gây khó khăn, phiền hà cho cơ quan tiến hành tố tụng; hiệu quả, vai trò hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự trên thực tế đạt được chưa cao; chất lượng đội ngũ Luật sư trong tố tụng dân sự chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế, quốc tế; đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề của Luật sư vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân Luật sư trong hành nghề và trong cuộc sống. Với thực trạng của việc thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự trước yêu cầu cải cách tư pháp và xu hướng hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu nâng cao vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự là một đòi hỏi cấp thiết 2 của một nền công lý và dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cũng chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò của Luật sư trong trong tố tụng dân sự” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình với mong muốn sẽ có cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Qua đó, có thể đánh giá được vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự đối với công cuộc cải cách tư pháp cũng như trong đời sống xã hội. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, tiêu cực, từng bước nâng cao và khẳng định vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Việc nghiên cứu vị trí, vai trò và hoạt động của luật sư trong tố tụng dân sự là rất quan trọng. Không chỉ có ý nghĩa trong chiến lược cải cách Tư pháp mà còn có ý nghĩa rất lớn với chính đội ngũ Luật sư. Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau dưới các mức độ khác nhau về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan đến vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự như sau: “Đạo đức & kỹ năng của Luật sư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, PGS.TS Lê Hồng Hạnh, Nxb Đại học sư phạm, năm 2002; “Chuyên đề về Pháp lệnh Luật sư năm 2001”, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ & pháp luật, tháng 12/2001; “Chuyên đề về Luật sư”, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ & pháp luật, Hà nội năm 2006, tháng 12/2001; “Bút ký luật sư” tập 1, TS.LS Phan Trung Hoài, NXB Tư pháp, Hà Nội 2005; “Vị trí và vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự”, Luận văn thạc sĩ, Trần Phương Thảo, Đại học Luật Hà Nội, năm 2004; “Mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng”, của tác giả Nguyễn Tiến Đạm, Tạp chí dân chủ & pháp luật, số 11 năm 2002; “Luật sư – một nghề khó khăn”, Phan Trung 3 Hoài, Tạp chí dân chủ & pháp luật, số 01 năm 1999; “Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự”, Đinh Văn Thanh; Báo cáo tham luận tại Hội thảo về tranh tụng trong tố tụng dân sự, Hà Nội, ngày 13/03/2004...v.v. Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến khái niệm Luật sư, quá trình phát triển của nghề Luật sư, cũng như vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự một cách chung chung mà chưa đi sâu vào nghiên cứu phân tích về pháp luật hiện hành về vai trò Luật sư, thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong TTDS. Ngoài ra, một số công trình được thực hiện trước khi ban hành Luật Luật sư và Luật Luật sư sửa đổi nên không còn tính thời sự. Do vậy, đề tài“Vai trò của Luật sư trong trong tố tụng dân sự” rất cần được tiếp tục nghiên cứu và luận giải sâu sắc hơn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu a. Mục đích nghiên cứu luận văn: - Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Luật sư trong TTDS. - Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật luật Việt Nam hiện hành về vai trò của Luật sư trong TTDS và những vướng mắc trong quá trình thực hiện vai trò của Luật sư trong thực tiễn. - Tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của Luật sư trong quá trình tham gia TTDS tại các cấp Tòa án. b. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Xây dựng khái niệm Luật sư, đặc điểm, ý nghĩa về sự tham gia tố tụng của Luật sư trong TTDS. Đồng thời nghiên cứu lược sử các quy định của pháp luật về vai trò của Luật sư trong TTDS và điểm lại các quy định pháp luật về vai trò của Luật sư ở một số nước đại diện cho các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới. 4 - Phân tích cụ thể để làm rõ vai trò của Luật sư trong TTDS theo pháp luật hiện hành. - Làm rõ thực trạng hoạt động của Luật sư, phân tích nguyên nhân để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Luật sư trong TTDS 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Dựa trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là: - Nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về Luật sư với vai trò đại diện theo ủy quyền của đương sự hoặc Luật sư với vai trò là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. - Nghiên cứu một số quy định của pháp luật TTDS của một số nước trên thế giới về vai trò của Luật sư trong TTDS để có thể so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó làm rõ hơn vai trò của Luật sư trong TTDS Việt Nam. - Nghiên cứu thực trạng hoạt động của Luật sư trong TTDS, kiến nghị các giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của Luật sư trong TTDS. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Do đó, các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật đều dựa trên các quan điểm chỉ đạo nêu trên. - Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình, Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp: 5 - Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn về Luật sư và vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. - Nghiên cứu lịch sử được sử dụng nhằm nghiên cứu rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đây. - Phương pháp so sánh được sử dụng đối chiếu, so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới nhằm tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm. - Phương pháp thống kê được sử dụng trong việc thống kê các số liệu trong thực tiễn hoạt động hành nghề của Luật sư làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét, kết luận và kiến nghị các biện pháp nâng cao vai trò của Luật sư. - Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc tổng hợp các vấn đề đã nghiên cứu nhằm đưa ra những nhận định và những kết luận. 6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về những vấn đề liên quan đến vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. Khái niệm, các đặc trưng và ý nghĩa về sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự được phát hiện và phân tích một cách đầy đủ, sâu sắc, làm cơ sở cho việc luận giải những vấn đề có liên quan đến vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về vai trò của Luật sư khi tham gia tố tụng dân sự, Luận văn đã phân tích làm rõ thực trạng pháp luật hiện hành về vai trò của Luật sư, về điều kiện tham gia tố tụng, các hoạt động cụ thể của Luật sư cũng như quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong tố tụng dân sự. - Luận văn phân tích, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế vướng mắc Luật sư gặp phải trong quá trình thực hiện vai trò của mình khi tham gia tố tụng dân sự. Từ những nghiên cứu này Luận văn đã chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong các quy định 6 của pháp luật cũng như những vướng mắc Luật sư gặp phải khi thực hiện vai trò đại diện hay bảo vệ quyền lợi cho đương sự tại Tòa án. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đã đề xuất các giải pháp có giá trị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. 7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc áp dụng các quy định pháp luật về vai trò của Luật sư được thống nhất và chính xác. Đồng thời những phát hiện, đóng góp của luận văn cũng là tài liệu có giá trị cho các cơ quan lập pháp trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật, là tài liệu tham khảo cho Tòa án, các Thẩm phán có hiểu biết sâu sắc thêm về vai trò của Luật sư trong TTDS. Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật tại Việt Nam. 8. Về bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Luật sư và vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự Chương 2 : Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự theo pháp luật hiện hành Chương 3 : Thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự và kiến nghị. 7 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT SƯ VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ LUẬT SƯ VÀ Ý NGHĨA VỀ SỰ THAM GIA TỐ TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1.1 Khái niệm Luật sư Có thể nói Luật sư không phải là một khái niệm quá mới, và khái niệm này đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều bình diện khác nhau nên có thể hiểu khái niệm này từ nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, hiện nay chưa có một sự thống nhất nào về định nghĩa Luật sư. Sự khác nhau trong cách hiểu về luật sư không chỉ thể hiện trong khoa học pháp lý giữa các quốc gia, mà còn thể hiện ngay chính trong các văn bản pháp lý và văn bản liên quan đến khoa học pháp lý của Việt Nam. Khi nhắc đến Luật sư thì có thể hiểu đó là danh từ chỉ người, một chức danh tư pháp độc lập, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và cũng có thể hiểu Luật sư là một nghề thuộc các ngành dịch vụ trong hệ thống ngành nghề quốc gia. Thực tế hiện nay cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm Luật sư : - Quan điểm thứ nhất: Theo các tác giả của Trung tâm ngôn ngữ và văn học Việt Nam thuộc Bộ giáo dục và đào tạo thì Luật sư được hiểu là “người chuyên bào chữa cho đương sự trước Tòa án theo pháp luật hoặc làm cố vấn về pháp luật nói chung” [9;tr.591]. Khái niệm trên đã chỉ ra được đặc điểm của Luật sư là người chuyên dựa vào pháp luật, căn cứ theo pháp luật để tham gia tố tụng tại Tòa án hoặc cố vấn cho khách hàng. Như vậy, trong khái niệm này đã chỉ được rõ hai hoạt động chính yếu nhất của Luật sư là hoạt động tranh tụng và hoạt động tư vấn. Khái niệm này được xuất phát từ thực tiễn hành nghề Luật sư được gắn bó 8 chặt chẽ với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án nhất là các vụ án hình sự. Đây cũng là khái niệm có phần chính xác nếu chúng ta đặt nó vào giai đoạn đầu tiên khi hình thành nghề Luật sư. Tuy nhiên, khái niệm về Luật sư nói trên vẫn còn chưa thực sự đầy đủ về mặt ngữ nghĩa, chưa đủ rộng để bao quát các hoạt động của Luật sư, bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, “bào chữa” là hoạt động của Luật sư khi tham gia tố tụng hình sự. Khi tham gia tố tụng hình sự thì Luật sư có vị trí là người bào chữa cho bị can, bị cáo. Còn để bảo vệ quyền và lợi ích cho “đương sự” trong tố tụng dân sự thì Luật sư không thực hiện vai trò “bào chữa” trước Tòa án, mà bằng quyền tranh luận và tranh tụng tại phiên tòa, Luật sư “bảo vệ quyền lợi cho đương sự”. Do vậy, khái niệm trên chưa thể hiện được hết vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể theo luật định. Thứ hai, khi khẳng định là “người làm cố vấn pháp luật nói chung” thì không chỉ ra được đặc thù của Luật sư để phân biệt với khái niệm Luật gia. Luật gia (Jurist) là người có kiến thức về pháp luật, chuyên gia luật. Có thể hiểu đó là tất cả những người tốt nghiệp đại học luật (cử nhân luật trở lên); hoặc vận dụng ở Việt Nam có thể bao gồm cả những người tuy không có bằng cử nhân luật, nhưng có kiến thức về pháp luật và đang hoạt động trên các lĩnh vực pháp luật, trong đó có cả các Luật sư. Hội viên Hội luật gia Việt Nam được hiểu theo nghĩa này. Luật sư (Lawyer), là luật gia được đào tạo thêm về kỹ năng hành nghề, được gia nhập Đoàn Luật sư, qua đó được công nhận là Luật sư để hành nghề chuyên nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn pháp luật. Như vậy, Luật sư có thể là thành viên Hội luật gia, nhưng luật gia thì chưa hẳn đã phải là Luật sư. 9 - Quan điểm thứ hai: Theo GS.TS Lê Hồng Hạnh thì “Luật sư là chuyên gia pháp luật; là cố vấn pháp lý mà ở họ có kỹ năng nghề nghiệp thực thụ” [8;tr.14]. Với quan điểm thứ hai này, khái niệm Luật sư cho thấy tác giả đã bổ sung thêm yếu tố kỹ năng hành nghề - yếu tố rất quan trọng của một Luật sư. Do đó khái niệm Luật sư này đã bao gồm được hai đặc điểm đặc trưng cần có của người Luật sư nói chung. Đó là sự am hiểu pháp luật và kỹ năng hành nghề. Vì hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều quan niệm Luật sư là một nghề, và đã là một nghề thì yêu cầu về tiêu chuẩn hành nghề và đào tạo nghề là rất cần thiết, do đó yêu cầu nhất thiết đối với các Luật sư là có kỹ năng hành nghề thành thục. Kỹ năng này được đào tạo trong thực tế. Một Luật sư thường phải có các kỹ năng cần thiết như kỹ năng phán đoán, kỹ năng tư duy khái quát, kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, kỹ năng thuyết trình hùng biện, nghệ thuật đặt câu hỏi, đàm phán thương lượng... Tại Việt Nam, sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật thì các sinh viên có thể đi làm và trở thành luật gia. Tuy nhiên muốn trở thành Luật sư thì nhất thiết phải trải qua một lớp đào tạo hành nghề Luật sư tại Học viện Tư pháp. Ngoài học lý thuyết, các học viên còn phải trải qua một thời gian là 18 tháng tập sự hành nghề Luật sư. Tuy nhiên, hai đặc điểm đặc trưng của Luật sư trên đây chỉ là những yếu tố cần mà chưa đủ để xây dựng một khái niệm Luật sư hoàn chỉnh bởi vẫn chưa đưa ra được đặc điểm đặc biệt quan trọng của người Luật sư mà những nước có nghề Luật sư lâu đời đều quy định là “phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của Luật sư”. Ngoài các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thì yêu cầu đạo đức nghề nghiệp cũng rất quan trọng. Nghề Luật sư cũng như một số nghề khác như nghề y, nghề dạy học ... luôn luôn được xã hội tôn trọng. Như Platon, một nhà triết học Hy Lạp nổi 10 tiếng đã nói: “Những kiến thức chuyên môn của bác sỹ giúp họ cứu chữa cho người bệnh nhưng cũng có thể đầu độc người bệnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Nghề Luật sư cũng như bất kỳ một nghề chuyên môn nào khác cũng có những mặt trái. Do vậy, Luật sư cũng phải biết sử dụng kiến thức chuyên môn của mình sao cho vừa bảo vệ khách hàng lại vừa tôn trọng sự thật khách quan của vụ việc. Bên cạnh những tiêu chuẩn về chuyên môn nghề nghiệp thì đạo đức nghề nghiệp là yếu tố rất quan trọng với Luật sư, đây là tiêu chuẩn không thể thiếu khi xây dựng một tiêu chuẩn Luật sư trong thời kỳ đổi mới. Có như thế Luật sư mới đảm bảo tốt được sứ mệnh mà mình gánh vác. Ngoài hai quan điểm nêu trên còn có nhiều cách giải thích khác nhau về nghề Luật sư. Có quan niệm cho rằng Luật sư là người trợ lý pháp luật cho khách hàng, là người đồng hành pháp lý với Tòa án, là người trợ thủ pháp luật xã hội hoặc Luật sư là người phụ tá của công lý, tham gia vào sự điều hành của nền công lý ... Các quan niệm này có lẽ được xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của người Luật sư khi hành nghề với những hình thức khác nhau: tư vấn, tranh tụng…dựa trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Những quan điểm này quá trừu tượng không giúp chúng ta nhận biết được đặc điểm của người Luật sư và không phân biệt được Luật sư với những người khác trong xã hội. Việc quá đề cao vị trí, vai trò của Luật sư đến mức coi Luật sư là người “phụ tá”, người “điều hành công lý” … giống như người điều hành bộ máy tư pháp, theo chúng tôi cũng là không chính xác. Bởi Luật sư dù có thể gọi theo nhiều tên khác nhau, song suy cho cùng Luật sư không có vị trí ngang hàng với người tiến hành tố tụng. Cho đến nay, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, song vẫn có thể khẳng định vẫn chưa có được một khái niệm chính xác, đầy đủ về Luật sư. Có 11 một số quan điểm khác đáng chú ý như theo quan điểm của Thạc sỹ Trần Phương Thảo thì Luật sư được hiểu “là khái niệm pháp lý dùng để chỉ một chức danh tư pháp độc lập; theo đó những người có đủ điều kiện hành nghề Luật sư theo quy định của pháp luật Việt Nam được Bộ Tư Pháp Việt Nam công nhận quyền tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và bảo vệ pháp chế XHCN” [4;tr.22]. Trong khái niệm trên, tác giả Trần Phương Thảo đã nêu một khái niệm về Luật sư. Khái niệm này khá thống nhất với những điều kiện, tiêu chuẩn về Luật sư theo quy định của các văn bản pháp luật về Luật sư. Theo đó, luật sư phải là người đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây: - Tốt nghiệp đại học luật hoặc chuyên ngành luật. - Không vi phạm pháp luật hoặc trong tình trạng nghi vấn có hành vi vi phạm pháp luật. - Đạt độ tuổi nhất định - Trải qua các khóa đào tạo Luật sư và có thời gian tập sự đầy đủ theo quy định. Đây là điều kiện bắt buộc đối với Luật sư ở bất cứ quốc gia nào. Điều này xuất phát từ tính chất đặc thù của nghề Luật sư là một nghề đòi hỏi sự đúc kết kinh nghiệm và thông qua thực tế rất lớn. Để có thể vận dụng những kiến thức sách vở, những quy định cứng nhắc vào hoàn cảnh khác nhau, biến chúng thành những phương án linh hoạt, sử dụng chúng như công cụ đắc lực đem lại lợi ích cho khách hàng, đòi hỏi người Luật sư phải có sự học hỏi từ những người đi trước và có thời gian thực hành khá nhuần nhuyễn. Do vậy, đây được xem như giai đoạn mang tính chất quyết định để một người chứng minh mình có quyết tâm và khả năng mình có thể trở thành một Luật sư, một luật gia giỏi hay không. 12 Ngoài những điều kiện cơ bản nêu trên, pháp luật mỗi quốc gia có thể đặt ra những quy định riêng khác về điều kiện trở thành Luật sư. Góc nhìn nghiên cứu này về các điều kiện về tiêu chuẩn Luật sư và điều kiện hành nghề Luật sư ở Việt Nam được thể hiện khá cụ thể tại các điều 10, 11,12 của Luật Luật sư. Theo đó, người có đủ điều kiện trở thành Luật sư chỉ được gọi là Luật sư và được phép hành nghề khi hội tụ đủ hai điều kiện: được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư và đã gia nhập một Đoàn Luật sư do mình lựa chọn. Việc pháp luật có sự điều chỉnh cần thiết về điều kiện tiêu chuẩn Luật sư và điều kiện hành nghề Luật sư không những bảo đảm sự thống nhất về tiêu chuẩn đối với các chức danh tư pháp, mà còn tạo cơ sở để gắn kết quá trình đào tạo nghề và hoạt động nghề nghiệp của Luật sư với các chức danh tư pháp khác. Việc quy định cụ thể tiêu chuẩn Luật sư góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư, thu hồi Chứng chỉ hành nghề Luật sư, cho đăng ký gia nhập Đoàn Luật sư. Mặt khác, quy định cụ thể về tiêu chuẩn Luật sư cũng nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng của đội ngũ Luật sư, tiếp tục phát triển hoạt động Luật sư theo hướng chuyên nghiệp hoá thành một nghề. Xét theo luật thực định thì Luật Luật sư 2006 đã bỏ đi cụm từ “Bằng hoạt động của mình, Luật sư góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế XHCN” thay vào đó là một khái niệm xúc tích nhưng lại phản ảnh đầy đủ nội hàm của khái niệm Luật sư theo hướng một nghề dịch vụ xã hội theo quy định chung của các quốc gia khác trên thế giới. Việc thay đổi như vậy không làm giảm đi vị thế của Luật sư bởi vì Luật sư là một bộ phận cơ bản cấu thành nên các thiết chế dân chủ trong hệ thống tư pháp. Hơn nữa, Việt Nam luôn quán triệt xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, bên cạnh bảo vệ quyền lợi khách hàng thì Luật sư luôn phải có ý thức xây dựng pháp chế XHCN như một nghĩa vụ tất yếu. 13
- Xem thêm -