Vai trò của Liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới

  • Số trang: 151 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Phùng Cao Quý MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: QUY ĐỊNH CỦA HIẾN CHƢƠNG VỀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA TỔ CHỨC LIÊN HIỆP QUỐC ....... 7 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức Liên hiệp quốc ........ 7 1.1.1. Quá trình hình thành ............................................................................. 7 1.1.2. Tôn chỉ mục đích .................................................................................. 9 1.1.3. Thành viên của Liên hiệp quốc ........................................................... 12 1.1.4. Mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên hiệp quốc ................................ 13 1.2. Vai trò cơ bản của Liên hiệp quốc................................................... 23 1.2.1. Bảo vệ hòa bình an ninh thế giới ....................................................... 23 1.2.2. Bảo vệ quyền con người ..................................................................... 29 1.2.3. Các chuẩn mực quốc tế về quyền con người ...................................... 33 1.3. Khái niệm về chức năng gìn giữa hòa bình và an ninh thế giới của Liên hiệp quốc ............................................................................ 36 1.3.1. Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế .................................................... 36 1.3.2. Vai trò của tổ chức quốc tế trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế ................................................................................................. 42 1.4. Cơ sở pháp lý trong việc xác định chức năng của Liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình an ninh thế giới ......................... 45 1.4.1. Hiến chương về Liên hiệp quốc .......................................................... 45 1.4.2. Nghị quyết, Quyết định ....................................................................... 47 Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HIỆP QUỐC ĐỐI VỚI VIỆC GÌN GIỮ HÒA BÌNH AN NINH QUỐC TẾ ............................................................. 51 2.1. Quy định của pháp luật quốc tế ....................................................... 51 2.1.1. Hiến chương Liên hiệp quốc ............................................................... 51 2.1.2. Các điều ước quốc tế song phương, đa phương.................................. 59 2.2. Những ƣu điểm và hạn chế trong vấn đề gìn giữ hòa bình và an ninh của Liên hiệp quốc .......................................................................... 63 2.2.1. Ưu điểm............................................................................................... 63 2.2.2. Hạn chế ............................................................................................... 69 2.2.3. Vấn đề thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ .................... 70 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN HIỆP QUỐC TRONG VIỆC GÌN GIỮ HÒA BÌNH AN NINH THẾ GIỚI VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ ........................................................ 73 3.1. Các cơ quan hoạt động Liên hiệp quốc ........................................... 73 3.1.1. Hoạt động của Đại hội đồng trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới ........................................................................................ 73 3.1.2. Hoạt động của Hội đồng bảo an trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới ........................................................................................ 80 3.1.3. Hoạt động của Hội đồng kinh tế - xã hội trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới....................................................................... 88 3.1.4. Hoạt động của Hội đồng quản thác trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới.................................................................................... 95 3.1.5. Hoạt động của Tòa án quốc tế trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới ........................................................................................ 97 3.1.6. Hoạt động của Ban thư ký trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới .............................................................................................. 100 3.2. Thực tiễn trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới của tổ chức Liên hiệp quốc từ khi thành lập cho tới nay ................... 101 3.2.1. Về vấn đề thực tiễn ........................................................................... 101 3.2.2. Các nguyên tắc phát triển bền vững .................................................. 109 3.2.3. Hoạt động cải thiện môi trường thế giới ........................................... 114 3.3. Giải pháp kiến nghị ......................................................................... 119 3.3.1. Phương hướng ................................................................................... 119 3.3.2. Cải cách cơ cấu và hoạt động của Liên hiệp quốc ............................ 122 3.3.3. Những vấn đề chính trong quá trình cải tổ ....................................... 126 3.3.4. Cải tổ Hội đồng bảo an ..................................................................... 129 3.3.5. Cải tổ Ban thư ký .............................................................................. 139 KẾT LUẬN .................................................................................................. 141 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 142 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT - Hội đồng kinh tế - xã hội Liên hiệp quốc (ECOSOC) - Ủy ban quyền con người (CHR) - Tòa án công lý quốc tế (ICJ) - Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc (HRC) - Tổ chức lao động thế giới (ILO) - Tổ chức y tế thế giới (WHO) - Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục (UNESCO) - Ủy ban luật quốc tế (ILC) - Đơn vị thanh tra chung (JIU) - Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) - Ủy ban giải quyết vấn đề nhà ở cho con người (UN-HABITAT) - Ủy ban đền bù Liên hiệp quốc (UNCC) - Ủy ban giám sát, kiểm tra và thanh tra (UNMOVIC) - Văn phòng Ma tuý và Tội phạm của Liên hiệp quốc (UNODC) - Ủy ban Dân số và Phát triển (Commission on Population and Development - CPD) - Ủy ban Khoa học, Công nghệ vì Phát triển (Commssion on Science and Technology for Development – CSTD) - Ủy ban về Phát triển bền vững (Commission on Sustainable Development - CSD) - Ủy ban về địa vị phụ nữ (Commission on the Status of Women - CSW) - Ủy ban Thống kê (Statistical Commission - SC) - Ủy ban Chương trình và Điều phối (Committee for Programme and Coordination - CPC) - Ủy ban các Tổ chức phi Chính phủ (Committee on Non-Governmental Organisations - CNGO) - Ủy ban Hành chính Điều phối (ACC) - Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO) - Hội đồng thống đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) - Hội đồng điều hành các tổ chức Liên minh bưu chính thế giới (UPU) - Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) - Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) - Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) - Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) - Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDGs - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OCED) - Ủy ban Kinh tế Châu Phi – ECA - Ủy ban Kinh tế xã hội Châu Á - Thái Dình Dương – ESCAP - Ủy ban Kinh tế Mỹ la tinh và vùng Caribe – ECLAC - Ủy ban Kinh tế xã hội Tây Á - ESCWA MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế không thể thiếu vai trò của Liên hiệp quốc, vì đó là nhiệm vụ và mục đích thành lập, tổ chức và hoạt động của Liên hiệp quốc – Tổ chức quốc tế phổ cập lớn nhất toàn cầu. Tuy nhiên trong bối cảnh quốc tế hiện nay có quá nhiều việc cấp thiết cần giải quyết như: về môi trường; về khủng bố; về đói nghèo; về biến đổi khí hậu; về tranh chấp biển, đảo; về bình đẳng giới v.v… cần Liên hiệp quốc phải thể hiện hơn nữa vai trò của mình trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Trong lịch sử loài người, hòa bình luôn là nguyện vọng tha thiết và chính đáng của quốc gia, các dân tộc trên thế giới. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thứ hai đã gây ra quá nhiều mất mát cho nhân loại. Để tránh lặp lại một cuộc chiến thế giới mới đồng thời đẩy lùi chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang cũng như những mâu thuẫn quốc gia, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, chủ nghĩa cực đoan hồi giáo đang xảy ra hàng ngày, đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh thế giới, các quốc gia phải phát huy tối đa khả năng của chính mình đồng thời không ngừng thúc đẩy sự hợp tác với nhau không chỉ trong khu vực mà trên phạm vi toàn cầu để cùng với tổ chức Liên hiệp quốc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế. Đầu 1945, thế chiến thứ hai sắp kết thúc, phe phát xít sắp thất bại hoàn toàn. Các nước đồng minh và nhân dân thế giới có nguyện vọng hòa bình, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh mới. Tại Hội nghị Ianta (2/1945), những người đứng đầu 3 cường quốc Liên Xô, Anh và Mỹ đã nhất trí thành lập một tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới. Từ 25/4/1945 đến 26/6/1945, đại biểu 50 nước họp tại Xan Phơranxixcô (Mỹ) để thông qua Hiến chương Liên hiệp quốc. 1 Ngày 24/10/1945, Hiến chương Liên hiệp quốc bắt đầu có hiệu lực, và được coi là ngày chính thức thành lập tổ chức Liên hiệp quốc. Liên hiệp quốc được thành lập trên cơ sở của Hiến chương Liên hiệp quốc ngày 24/10/1945, trụ sở được đặt tại thành phố New York (Mỹ). Việt Nam gia nhập vào tháng 9/1977 và là thành viên thứ 149 của tổ chức này. Trải qua hơn 60 năm hoạt động, Liên hiệp quốc trở thành một tổ chức trung tâm trong các hoạt động hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới. Từ ngày thành lập cho đến nay, Liên hiệp quốc đã có 193 nước thành viên. Mục đích thành lập Liên hiệp quốc là: Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, dân tộc tự quyết; thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế; trở thành trung tâm phối hợp mọi hoạt động của các dân tộc nhằm đạt được mục đích nói trên. Trong đó, duy trì hoà bình và an ninh quốc tế là mục đích quan trọng nhất và nổi bật nhất. Điều này được khẳng định trong “Lời tựa” của Hiến chương Liên hiệp quốc: "Chúng tôi, nhân dân các nước liên hiệp lại quyết tâm: Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm hoạ chiến tranh đã hai lần trong đời chúng ta gây cho nhân loại đau thương không kể xiết..."[20] Do đó, Liên hiệp quốc với vai trò là một tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hiện nay, là sân chơi chung cho các quốc gia yêu chuộng hòa bình và vì sự phát triển chung của nhân loại. Liên hiệp quốc có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Vậy, với vai trò của mình, Liên hiệp quốc đã làm được gì đối với việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới từ khi được thành lập cho đến hiện nay. Trong những năm gần đây, các nước trên thế giới như Iran, Irac, Siri, Afanistan, Libi hay một số nước trong khu vực Đông Nam Á có những xung đột, đấu tranh, bất đồng quan điểm, tranh chấp biển đông, biên giới lãnh thổ v.v…. do đó cần có những biện 2 pháp gì để bảo vệ chủ quyền trên biển đông, bảo vệ lãnh thổ thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc? và Liên hiệp quốc cũng phải có sự đổi mới về nguyên tắc hoạt động để bảo vệ và duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Với mong muốn nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị, các giải pháp nhằm nâng cao thẩm quyền và vai trò của Liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới Với các lý do như vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Vai trò của Liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới” để làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình. Hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp nhất định về mặt khoa học cũng như thực tiễn để góp phần vào tiếng nói chung trong việc gìn giữ hòa bình an ninh thế giới của tổ chức Liên hiệp quốc. 2. Tình hình nghiên cứu Việc gìn giữ hòa bình và bảo vệ an ninh thế giới của tổ chức Liên hiệp quốc là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, năm 2011, thành viên thứ 193 là quốc gia Nam Sudan đã ra nhập tổ chức này. Mỗi quốc gia thành viên là có một tiếng nói chung trong sân chơi rộng lớn này, do đó vai trò của việc gìn giữ hòa bình và bảo vệ an ninh thế giới càng được đặt lên hàng đầu. Bản Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945 là một kim chỉ nam xuyên suốt chiều dài của lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả đã đọc và tham khảo các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả trong và ngoài nước, các sách, giáo trình, các bài đăng ở các tạp chí luật, báo cáo, các văn bản pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế có liên quan đến đề tài luận văn, ví dụ như: Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945; Giáo trình Luật quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội (2007); Giáo trình Luật quốc tế của Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN (1997); Đặc san 60 Liên hiệp quốc, Tạp chí Luật học, (2005); Bài viết “Việt Nam và Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc” (2008) của TS. Nguyễn Hồng Thao; “Liên hiệp quốc và lực lượng giữ gìn hòa bình Liên hiệp quốc” (2008) của tác giả Nguyễn Quốc Hùng 3 và Nguyễn Hồng Quân; “Vấn đề phân định biển trong Luật biển quốc tế hiện đại” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T.XXIII, số 1, (2007) của tác giả PGS.TS. Nguyễn Bá Diến; Báo cáo “Tổng kết sau 5 năm thực hiện Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế” của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 12/5/2004. “Tìm hiểu chế định giải thích điều ước quốc tế” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (2005); “Luật điều ước quốc tế: Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn”, Đề tài NCKH cấp ĐHQGHN (2005); “Tiệm cận các quy phạm pháp luật quốc tế”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế Luật, tập 24, số 2. (2008) của tác giả Lê Văn Bính; “Vai trò của điều ước quốc tế trong việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật” đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8(2002) của tác giả Vũ Đức Long; Tập hợp những bình luận, khuyến nghị chung của Ủy ban công ước Liên hợp quốc, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2010); “Vấn đề cải tổ Liên hiệp quốc trong bối cảnh quốc tế mới hiện nay”, (2007) của tác giả Đinh Quý Độ; Một số bài viết trên các báo, tạp chí nghiên cứu pháp luật, các diễn đàn v.v... Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của Liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới không phải là một hiện tượng mới nhưng lại là một đề tài cần thiết và luôn có tính mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và thế giới đang có nhiều biến động hiện nay, do đó việc nghiên cứu về Liên hiệp quốc và vai trò của Liên hiệp quốc luôn luôn có tính cấp thiết. Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tham khảo một số tài liệu có liên quan, tác giả đã tiếp cận vấn đề một cách nghiêm túc. Từ việc nghiên cứu pháp luật quốc tế nói chung và Hiến chương Liên hiệp quốc nói riêng, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam, về vai trò gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới của tổ chức Liên hiệp quốc, qua đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần vào việc tăng cường quyền uy cho Liên hiệp quốc trong vấn đề gìn giữ hòa bình an ninh thế giới. 4 3. Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về vai trò của tổ chức Liên hiệp quốc trong việc bảo vệ gìn giữ hòa bình an ninh thế giới, đề xuất những bất cập trong hệ thống pháp luật quốc tế, những hạn chế về cơ chế, về sự phối kết hợp giữa các cơ quan chính của Liên hiệp quốc, những hạn chế trong về thẩm quyền của Liên hiệp quốc trong việc duy trì hòa bình an ninh quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Mục tiêu cụ thể được nghiên cứu trong đề tài là: Nghiên cứu tổng thể về Liên hiệp quốc, về vai trò của Liên hiệp quốc trong vấn đề gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, tìm ra và kiến nghị những khuyến nghị cần thiết nhằm nâng cao vai trò cũng như thẩm quyền của Liên hiệp quốc trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. 4. Tính mới và những đóng góp của đề tài Nội dung về vấn đề bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới là một đề tài được sự quan tâm của nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ luật học, học viên hy vọng sẽ có những kiến nghị có tính chất khuyến nghị về sự cần thiết phải có sự đồng thuận của các quốc gia thành viên nhằm bổ sung thêm chức năng và thẩm quyền cho Liên hiệp quốc, để Liên hiệp quốc thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong điều kiện quốc tế hiện nay. 5. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Luận văn đi sâu vào nghiên cứu vai trò gìn giữ hòa bình an ninh thế giới trong điều kiện quốc tế hiện nay, nghiên cứu các quan hệ quốc tế liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế; nghiên cứu các xung đột (hoặc tranh chấp) giữa các quốc gia và vai trò của Liên hiệp quốc trong việc giải quyết các xung đột (tranh chấp) giữa các quốc gia nhằm bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới hiện nay. 5 Phạm vi nghiên cứu là các chức năng, nhiệm vụ của Liên hiệp quốc, nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế của Liên hiệp quốc và của các cơ quan Liên hiệp quốc về đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau: Phương pháp phân tích: Thông qua việc gìn giữ hòa bình an ninh thế giới của tổ chức Liên hiệp quốc từ khi thành lập cho đến nay và quá trình áp dụng đối với các quốc gia thành viên, những bất đồng trong việc áp dụng. Phương pháp so sánh: Trên cơ sở những phân tích và bình luận về các quy định của tổ chức Liên hiệp quốc, những kết quả đạt được và chưa được, tại sao những bất đồng quan điểm, xung đột vẫn xẩy ra? So sánh với các tổ chức quốc tế khác. Phương pháp đánh giá tổng hợp: Từ góc nhìn thự tế, tác giả mạnh dạn đưa ra những so sánh thực tiễn, đến việc áp dụng thi hành, cần cải tổ những quyết sách gì cho phù hợp với điều kiện hiện nay. 7. Nội dung của luận văn Ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận; Lời cam đoan; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luân văn được chia thành 3 Chương: Chƣơng 1: Quy định của Hiến chƣơng về chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức Liên hiệp quốc Chƣơng 2: Quy định của pháp luật quốc tế về vai trò của Liên hiệp quốc đối với việc gìn giữ hòa bình an ninh quốc tế Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động của Liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình an ninh thế giới và các giải pháp kiến nghị 6 Chƣơng 1 QUY ĐỊNH CỦA HIẾN CHƢƠNG VỀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA TỔ CHỨC LIÊN HIỆP QUỐC 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức Liên hiệp quốc 1.1.1. Quá trình hình thành Liên hiệp quốc chính thức thành lập vào ngày 24/10/1945 khi Hiến chương Liên hiệp quốc được Trung Quốc, Pháp, Liên Xô, Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và đa số các quốc gia ký trước đó phê chuẩn. Tên gọi "Liên hiệp quốc" đã được Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt sáng lập ra và được sử dụng lần đầu tiên trong "Tuyên ngôn của Liên hiệp quốc" vào ngày 1/1/1942, trong đó 26 quốc gia đã khẳng định cam kết tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại các nước thuộc phe phát xít. Tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng tại London (Anh) ngày 14/02/1946, các thành viên Liên hiệp quốc đã chấp thuận chọn New York làm trụ sở. Hiện nay, Liên hiệp quốc có khoảng 17.000 nhân viên, trong đó có hơn 7.000 người làm việc tại trụ sở Liên hiệp quốc. Việc Liên hiệp quốc ra đời là một sự kiện quan trọng và là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau, như: Vai trò kém hiệu quả của Hội quốc liên trong việc giữ gìn hoà bình, an ninh quốc tế, sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai cùng những hậu quả thảm khốc đối với loài người và nỗ lực lớn lao của các nước trong việc thiết lập một thể chế toàn cầu có vai trò hiệu quả hơn đối với hoà bình và an ninh quốc tế. Sự thất bại của Hội quốc liên (tiền thân của Liên hiệp quốc) đã đặt ra yêu cầu phải thiết lập một thể chế đa phương hữu hiệu có tính toàn cầu, nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Trong một thời gian dài, hệ thống an ninh tập thể của Hội quốc liên tỏ ra không hiệu quả vì không được sự quan tâm ủng hộ 7 của các cường quốc. Những nỗi kinh hoàng của Chiến tranh thế giới thứ nhất chưa đủ sức thuyết phục các quốc gia hiểu rằng quyền lợi hòa bình của họ đòi hỏi cần có một trật tự quốc tế với các quyền lợi quốc gia truyền thống làm ưu tiên hàng đầu. Hội quốc liên trở thành một thể chế cứng nhắc, không thể hiện được chức năng dàn xếp hoặc thiết lập các liên minh năng động, nhằm ngăn chặn các hoạt động bành trướng quyền lực của một số cường quốc. Với ý định chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến, nhằm loại trừ khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba và bảo đảm một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh - Anh, Mỹ và Liên Xô, đã tiến hành hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng tại Tê-hê-ran (tháng 11/1943) và I-an-ta (tháng 2/1945). Nội dung trao đổi chính giữa Trớc-trin, Xta-lin và Ru-dơ-ven bao gồm số phận Châu Âu và tương lai của Liên hiệp quốc. Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên hiệp quốc tại Hội nghị I-an-ta mở ra khả năng hợp tác giữa các nước đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Tại I-an-ta, ba cường quốc trên đã thống nhất với nhau về một số điểm then chốt trong việc thiết lập tổ chức Liên hiệp quốc: Chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ của U-cờ-rai-na và Bạch Nga (nay là Bê-la-rút), dành quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng bảo an, Liên hiệp quốc có quyền giám sát việc tạo dựng trật tự Châu Âu. Đến Hội nghị Pốt-xđam từ 17/7 đến 2/8/1945, ba cường quốc (thực chất chủ yếu là Mỹ và Liên Xô, vì Anh đã bị suy yếu) thoả thuận thành lập cơ chế để giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, như vấn đề bồi thường chiến tranh của Đức và xác định lại biên giới các quốc gia. Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập. Trên cơ sở thoả thuận tại Hội nghị I-an-ta, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô tháng 4/1945 và dự thảo Hiến chương Liên hiệp quốc. Trên cơ sở Hiến chương, Tổ chức Liên hiệp 8 quốc đã chính thức được thành lập với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập. Sự ra đời của Liên hiệp quốc đã chấm dứt hoàn toàn cơ chế cân bằng quyền lực giữa các cường quốc Châu Âu dựa trên cơ sở của Hội nghị Viên năm 1815. Cân bằng quyền lực trên cơ sở Liên hiệp quốc là thế cân bằng linh hoạt dựa trên tương tác trong từng vấn đề giữa ba cạnh: Hòa hợp quyền lực giữa 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an (còn gọi là P5), tập hợp các nước phương Tây phát triển, tập hợp các nước Á - Phi - Mỹ Latinh đang phát triển, trong đó tiếng nói của các nước P5 có trọng lượng đặc biệt. 1.1.2. Tôn chỉ mục đích Theo Hiến chương Liên hiệp quốc, các quốc gia sáng lập đã quyết tâm thiết lập Liên hiệp quốc thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững. Theo Điều 1 của Hiến chương, Liên hiệp quốc được thành lập nhằm 4 mục tiêu: Một là: Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; [20] Hai là: Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết; [20] Ba là: Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo; [20] Bốn là: Xây dựng Liên hiệp quốc làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung [20]. Để bảo đảm Liên hiệp quốc là một tổ chức quốc tế thực sự phục vụ mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế, Hiến chương Liên hiệp quốc cũng quy định các nguyên tắc hoạt động của Tổ chức Liên hiệp quốc. Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của Liên hiệp quốc mang 9 tính bao quát, phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia. Các quan tâm ưu tiên này thay đổi tuỳ theo sự chuyển biến cán cân lực lượng chính trị bên trong tổ chức này. Thời gian đầu khi mới ra đời, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành viên, Liên hiệp quốc tập trung vào các vấn đề phi thực dân hoá, quyền tự quyết dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apácthai. Trong thời kỳ gần đây Liên hiệp quốc ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề kinh tế và phát triển. Hoạt động của Liên hiệp quốc trong gần 60 năm qua cho thấy trọng tâm chính của Liên hiệp quốc là duy trì hòa bình an ninh quốc tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các quốc gia thành viên. Đặc điểm bao trùm của Liên hiệp quốc là tổ chức này không phải là một nhà nước siêu quốc gia. Liên hiệp quốc là tổ chức đa phương toàn cầu đầu tiên có những hoạt động thực chất và đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp và điều tiết các mối quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền bình đẳng của các quốc gia. Theo Điều 2 mục 7 của Hiến chương, Liên hiệp quốc không được can thiệp vào các vấn đề thuộc quyền tài phán nội bộ của các nước [20]. Tất cả các quốc gia tham gia Liên hiệp quốc theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền [20]. Nguyên tắc này được phản ánh triệt để nhất trong cơ chế tham gia bỏ phiếu các quyết định và nghị quyết tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc (các quốc gia lớn nhỏ đều có một phiếu). Một đặc điểm nổi bật khác của Liên hiệp quốc là tổ chức này phản ánh sự dàn xếp và cân bằng quyền lực giữa các cường quốc thắng trận. Thực tế này được thể hiện trong cơ chế hoạt động của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc - cơ quan chấp hành có thực quyền nhất của Liên hiệp quốc và đảm nhiệm trách nhiệm hàng đầu của Liên hiệp quốc là duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Chỉ các quyết định của Hội đồng bảo an mới có tính cưỡng chế thực hiện. Các nghị quyết tại các cơ quan chính khác của Liên hiệp quốc như Đại hội đồng, Hội đồng kinh tế - xã hội, Hội đồng quản thác, và cả Tòa án quốc tế chỉ 10 có tính khuyến nghị, đạo lý và tạo sức ép dư luận. Để bảo đảm lợi ích và thu hút sự tham gia của các cường quốc, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc là cơ quan duy nhất dành cho 5 cường quốc quyền phủ quyết (veto) khi thông qua các nghị quyết, quyết định của Hội đồng. Quyền hạn của Hội đồng bảo an tập trung vào hai lĩnh vực hoạt động chính là giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế và tiến hành các biện pháp cưỡng chế. So với Hội quốc liên, Liên hiệp quốc chứng tỏ đầy đủ hơn tính chất toàn cầu (thành phần gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên mọi châu lục) và đặc biệt là tính toàn diện của nó: Chương trình nghị sự không bó hẹp vào vấn đề duy trì hòa bình, an ninh, mà bao gồm cả việc thúc đẩy hợp tác vì phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng các dân tộc; bản thân hệ thống Liên hiệp quốc bao gồm hàng loạt cơ quan, chương trình, quỹ, tổ chức chuyên môn tập trung vào mọi lĩnh vực của đời sống các quốc gia và quan hệ quốc tế ngoài lĩnh vực chính trị, quốc phòng, từ tiền tệ đến nông nghiệp, văn hoá, khoa học kỹ thuật v.v... Tổ chức Liên hiệp quốc ra đời thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị quốc tế trong gần 70 năm qua. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của các hoạt động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát triển của nền ngoại giao đa phương nói chung. Tuy nhiên, sự ra đời của Liên hiệp quốc và bản thân Hiến chương Liên hiệp quốc tất nhiên chưa đủ để bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn và triệt để giữa các quốc gia lớn nhỏ. Sự đóng góp của Liên hiệp quốc đối với hòa bình an ninh quốc tế trong gần 70 năm qua là rất đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, Liên hiệp quốc không thể hiện được vai trò của mình hoặc có thể nói Liên hiệp quốc chưa làm tròn sứ mệnh của mình. Các siêu cường vẫn có vai trò lớn và nhiều khi giữ vai trò quyết định trong quá trình ra quyết định của Liên hiệp quốc, đặc biệt là cơ cấu và cơ chế 11 hoạt động của Hội đồng bảo an, Hiến chương Liên hiệp quốc và các cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc. 1.1.3. Thành viên của Liên hiệp quốc Liên hiệp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên. Hiến chương Liên hiệp quốc quy định muốn trở thành thành viên của Liên hiệp quốc thì các quốc gia phải thỏa mãn các tiêu chuẩn như: Phải là quốc gia yêu chuộng hòa bình và thừa nhận những nghĩa vụ ghi trong Hiến chương; phải được Liên hiệp quốc xét có đủ khả năng và tự nguyện làm tròn những nghĩa vụ đó. Hiến chương còn quy định việc kết nạp bất kỳ một quốc gia nào vào Liên hiệp quốc sẽ được tiến hành bằng nghị quyết của Đại hội đồng, theo đề nghị của Hội đồng bảo an. Theo điều 4 của Hiến Chương Liên hiệp quốc: “Tất cả các quốc gia yêu chuộng hoà bình khác thừa nhận những nghĩa vụ quy định trong Hiến chương này và được Liên hiệp quốc xét có đủ khả năng và tự nguyện làm tròn những nghĩa vụ ấy, đều có thể trở thành thành viên của Liên hiệp quốc;”. “Việc kết nạp bất cứ một quốc gia nào nói trên vào Liên hiệp quốc sẽ được tiến hành bằng nghị quyết của Đại hội đồng, theo kiến nghị của Hội đồng bảo an;”[20] Tuy nhiên Hiến chương Liên hiệp quốc cũng quy định Quốc gia thành viên nào bị Hội đồng bảo an áp dụng một biện pháp phòng ngừa hay cưỡng chế thì Đại hội đồng có quyền, theo kiến nghị của Hội đồng bảo an, đình chỉ việc sử dụng các quyền và ưu đãi của thành viên đó. Việc sử dụng các quyền ưu đãi đó có thể được Hội đồng bảo an cho phục hồi. Nếu một thành viên Liên hiệp quốc vi phạm một cách có hệ thống những nguyên tắc nêu trong Hiến chương này thì có thể bị Đại hội đồng khai trừ khỏi Liên hiệp quốc, theo kiến nghị của Hội đồng bảo an. Năm 2011 có 193 quốc gia là thành viên của Liên hiệp quốc, gồm tất cả các quốc gia độc lập được thế giới công nhận. Liên 12 sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: Tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung. 1.1.4. Mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên hiệp quốc Việt Nam chính thức gia nhập Liên hiệp quốc ngày 20/9/1977. Kể từ khi gia nhập Liên hiệp quốc, quan hệ của Việt Nam với Liên hiệp quốc ngày càng được cải thiện và phát triển tốt hơn. Ngay sau khi tham gia Liên hiệp quốc, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của các nước thành viên Liên hiệp quốc để Đại hội đồng Liên hiệp quốc khóa 32 (1977) thông qua Nghị quyết 32/2 kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế viện trợ, giúp đỡ Việt Nam tái thiết sau chiến tranh. Việt Nam cũng đã chủ động và tích cực phối hợp với các nước không liên kết và đang phát triển để đấu tranh và bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc như nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, không can thiệp công việc nội bộ các nước, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực..., đồng thời và bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng tranh thủ được sự giúp đỡ về nguồn vốn, chất xám, kỹ thuật của Liên hiệp quốc phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Liên hiệp quốc trở thành một diễn đàn để Việt Nam triển khai các yêu cầu của chính sách đối ngoại. Vị thế và vai trò của Việt Nam tại Liên hiệp quốc ngày càng được nâng cao. Sự phát triển của quan hệ Việt Nam và Liên hiệp quốc có thể tạm chia thành các giai đoạn như sau: Giai đoạn từ 1977-1991 Chịu tác động của Chiến tranh lạnh, nhìn chung quan hệ giữa Việt Nam và Liên hiệp quốc còn ở mức hạn chế. Về chính trị, vai trò và vị thế của Việt Nam tại Liên hiệp quốc bị hạn chế do bối cảnh Chiến tranh lạnh. Về kinh tế, mặc dù phải chịu nhiều khó khăn do bao vây cấm vận, Việt Nam vẫn tranh thủ được các nguồn lực từ viện trợ trực tiếp không hoàn lại của hệ thống phát 13 triển của Liên hiệp quốc, với tổng trị giá trên 500 triệu đô la Mỹ. Các tổ chức chuyên môn thuộc hệ thống phát triển của Liên hiệp quốc đã góp phần giúp Việt Nam khắc phục những khó khăn kinh tế xã hội, hậu quả chiến tranh, thiên tai, hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội nhất là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục chăm sóc bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình, tạo điều kiện cho ta nâng cao trình độ công nghệ và thúc đẩy tiến bộ về khoa học kỹ thuật, góp phần phục hồi và xây dựng mới một số cơ sở sản xuất, tăng cường năng lực phát triển. Giai đoạn từ 1991 đến nay: Đặc trưng của giai đoạn này là việc Việt Nam tham gia tích cực và chủ động hơn trên nhiều lĩnh vực liên quan đến hoà bình an ninh, giải trừ quân bị cũng như phát triển kinh tế xã hội, dân số và bảo vệ môi trường là những chủ đề chính trong chương trình nghị sự của Liên hiệp quốc. Sự tham gia đóng góp và vị thế của Việt Nam tại Liên hiệp quốc được từng bước cải thiện và nâng cao cả về chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đang phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước. Lần đầu tiên, ta đã tham gia vào một số chức vụ và ứng cử vào một số cơ quan của Liên hiệp quốc như là Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm 1997, 2000 và 2003, là thành viên Hội đồng kinh tế - xã hội (1997-2000), Chủ tịch Đại hội đồng Tổ chức Nông lương khoá 33, thành viên Uỷ ban Nhân quyền (2001-2003), Hội đồng Chấp hành chương trình phát triển và quỹ dân số Liên hiệp quốc (2000-2002), Hội đồng Thống đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (1991-1993, 1997-1999 và 20032005), Hội đồng điều hành Liên minh Bưu chính Thế giới (1999-2004), Liên minh Viễn thông quốc tế (1994-1998, 1998-2002, 2002-2006). Đặc biệt, trong khoá họp thứ 62 Đại hội đồng Liên hiệp quốc, Việt Nam đã được bầu vào cương vị thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 với số phiếu rất cao (183/190 phiếu hợp lệ). 14
- Xem thêm -