ứng dụng mô hình chuỗi cung ứng rau an toàn tại tp. hồ chí minh

  • Số trang: 51 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ SẢN XUẤT ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG RAU AN TOÀN TẠI TP.HCM  NGƯỜI THỰC HIỆN  GVHD : PGS.TS. Hồ Tiến Dũng LỚP : ĐÊM 2 – QTKD – K21 SVTH : 1. Nguyễn Phú Ngọc 6. Lê Thanh Phong 2. Lê Tiết Ngọc 7. Trương Bảo Quốc 3. Trần Thị Bích Ngọc 8. Phạm Thanh Tâm 4. Phạm Tấn Nhật 9. Võ Thị Thu Trang 5. Đỗ Trọng Tấn Phát 10. Nguyễn Đại Trường TPHCM, Tháng 11/2012 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng MỤC LỤC CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG (SCM) ................. 3 1.1 Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng ............................................ 3 1.2 Khái niệm ..................................................................................................... 7 1.3 Mô hình chuỗi cung ứng ............................................................................... 7 1.3.1 Mô hình đơn giản ......................................................................................... 7 1.3.2 Mô hình phức tạp ......................................................................................... 8 1.4 Đặc điểm chính về tính năng động của chuỗi cung ứng ................................ 9 1.5 Các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng ........................ 9 1.5.1 Tiêu chuẩn giao hàng ................................................................................... 9 1.5.2 Tiêu chuẩn chất lượng .................................................................................. 9 1.5.3 Tiêu chuẩn thời gian ................................................................................... 10 1.5.4 Tiêu chuẩn chi phí: có 2 cách để đo lường chi phí: .................................... 10 1.6 Cải tiến cấu trúc chuỗi cung ứng ................................................................ 10 1.6.1 Phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng .......................................... 10 1.6.2 Phương thức thay đổi bộ phận của chuỗi cung ứng .................................... 11 CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG RAU AN TOÀN TP.HCM ............... 14 2.1 Khái niệm rau an toàn ................................................................................ 14 2.2 Các yêu cầu về sản xuất rau an toàn .......................................................... 15 2.3 Đặc điểm chuỗi cung ứng rau an toàn Tp.HCM ......................................... 16 2.3.1 Quản trị nhà cung ứng ............................................................................... 18 2.3.2 Quy trình sản xuất rau an toàn ................................................................... 19 2.3.3 Quản trị hệ thống phân phối ....................................................................... 19 2.3.4 Vai trò của các tổ chức lên chuỗi cung ứng ................................................ 35 CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CHUỖI CUNG ỨNG RAU AN TOÀN TP.HCM .................................................................................................................. 38 3.1 Phân tích ma trận SWOT ............................................................................ 38 3.1.1 Điểm mạnh, điểm yếu ................................................................................. 38 3.1.2 Cơ hội và thách thức .................................................................................. 43 3.2 Đánh giá chuổi cung ứng ........................................................................... 46 3.3 Kết luận và kiến nghị giải pháp .................................................................. 47 3.3.1 Kết luận ...................................................................................................... 48 3.3.2 Kiến nghị giải pháp .................................................................................... 49 QTKD Đêm 2 – K21 Trang 2 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG (SCM) 1.1 Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các công ty sản xuất của Mỹ áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, trong khi ít chú ý đến việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm. (Xem hình 1-1) Hình 1-1: Những sự kiện lịch sử về quản trị chuỗi cung ứng Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất. Chia sẻ công nghệ và chuyên môn thông qua sự cộng tác chiến lược giữa người mua và người bán là một thuật ngữ hiếm khi nghe giai đoạn bấy giờ. Các quy trình sản xuất được đệm bởi tồn kho nhằm làm cho máy móc vận hành thông suốt và quy trì cân đối dòng nguyên vật liệu, điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất tăng cao. Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển và tầm quan trọng của quản trị nguyên vật liệu hiệu quả càng được nhấn mạnh QTKD Đêm 2 – K21 Trang 3 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng khi nhà sản xuất nhận thức tác động của mức độ tồn kho cao đến chi phí sản xuất và chi phí lưu giữ tồn kho. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính làm gia tăng tính tinh vi của các phần mềm kiểm soát tồn kho dẫn đến làm giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng như nguồn cung. Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng. Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trên nhiều tờ báo cụ thể là ở tạp chí vào năm 1982. Cạnh tranh trên thị trường toàn cầu trở nên khốc liệt vào đầu thập niên 1980 (và tiếp tục đến ngày nay) gây áp lực đến các nhà sản xuất phải cắt giảm chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với việc gia tăng mức độ phục vụ khách hàng. Các hãng sản xuất vận dụng JIT và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện (TQM) nhằm cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất và thời gian giao hàng. Trong môi trường sản xuất JIT với việc sử dụng ít tồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược và hợp tác của nhà cung cấp - người mua - khách hàng. Khái niệm về sự cộng tác hoặc liên minh càng nổi bật khi các doanh nghiệp thực hiện JIT và TQM. Khi cạnh tranh ở thị trường Mỹ gia tăng nhiều hơn vào thập niên 1990 kèm với việc gia tăng chi phí hậu cần và tồn kho cũng như khuynh hướng toàn cầu hóa nền kinh tế làm cho thách thức của việc cải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng gia tăng. Để giải quyết với những thách thức này, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao, có danh tiếng và được chứng thực. Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như đóng góp ý kiến vào việc cải thiện dịch vụ, chất lượng và giảm chi phí chung. Mặt khác, các công ty nhận thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của mình thì đổi lại họ sẽ hưởng lợi gia tăng doanh số thông QTKD Đêm 2 – K21 Trang 4 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng qua sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện được sử dụng trong hoạt động sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và người mua đã chứng tỏ sự thành công của mình. Tái thiết kế quy trình kinh doanh (BPR) (suy nghĩ một cách triệt để và tái thiết kế quy trình kinh doanh nhằm giảm các lãng phí và gia tăng thành tích được giới thiệu vào đầu thập niên 1990 là kết quả của những quan tâm to lớn trong suốt giai đoạn này với mục đích cắt giảm chi phí và nhấn mạnh đến những năng lực then chốt của doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh dài hạn. Khi xu hướng này mất dần vào giữa cuối thập niên 1990 (thuật ngữ trở nên đồng nghĩa với việc thu hẹp quy mô), quản trị chuỗi cung cấp trở nên phổ quát hơn như là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Cũng trong thời gian này, các nhà quản trị, nhà tư vấn và các học giả hàn lâm bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn sự khác biệt giữa hậu cần và quản trị chuỗi cung ứng. Mãi cho đến thời điểm đó thì quản trị chuỗi cung cấp mới được nhìn nhận như là hoạt động hậu cần bên ngoài doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng các sáng kiến của quản trị chuỗi cung cấp, họ bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung cấp, cho phép chuỗi cung cấp vận hành và phản ứng như một thể thống nhất. Ngày nay, hậu cần được xem như là một thành tố quan trọng của khái niệm quản trị chuỗi cung cấp rộng hơn rất nhiều. Cùng thời đó, các doanh nghiệp cũng nhận thấy lợi ích trong việc tạo ra các liên minh hoặc sự cộng tác với khách hàng của nó. Doanh nghiệp trung tâm trở thành nhà cung cấp giá trị cao và được sử dụng chủ yếu cho khách hàng. Phát triển mối quan hệ mật thiết và dài hạn với khách hàng nghĩa rằng doanh nghiệp sẽ giữ ít tồn kho bảo hiểm sản phẩm hoàn thành hơn (như được thảo luận ở hiệu ứng Bullwhip) và cho phép doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào việc cung ứng tốt hơn các sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng. Cuối cùng khi thị phần đối với sản phẩm của khách hàng được cải thiện thì sẽ có lợi cho QTKD Đêm 2 – K21 Trang 5 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này nghĩa rằng trong một liên minh hoặc cộng tác chiến lược thì khi một doanh nghiệp trung tâm làm gia tăng thị phần của khách hàng điều này hàm ý rằng công việc kinh doanh của doanh nghiệp đang theo chiều huớng thuận lợi. Vì vậy, quản trị chuỗi cung cấp phát triển song song theo hai hướng: (1) quản trị cung cấp và thu mua nhấn mạnh đến khách hàng công nghiệp hoặc khách hàng tổ chức và (2) vận tải và hậu cần nhấn mạnh từ nhà bán sỉ và nhà bán lẻ. Mức độ phổ biến của các liên minh với nhà cung cấp và khách hàng (nhà cung cấp của nhà cung cấp và khách hàng của khách hàng) vào cuối thập niên 1990 và tiếp tục đến ngày nay cũng mang hàm ý rằng một lệ thuộc nhiều vào vận tải, tồn kho và dịch vụ hậu cần tạo ra các dịch vụ vận tải, tồn kho, tư liệu cho nhiều doanh nghiệp trong chuỗi cung cấp. Xây dựng mối quan hệ cũng xảy ra đối với nhiều nhà cung cấp dịch vụ thứ ba hoặc các doanh nghiệp sử dụng chúng để đảm bảo việc cung ứng liên tục và không bị gián đoạn hàng hóa. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu suất và thành tích của mối quan hệ này theo từng giai đoạn cũng đồng hành với sự phát triển của quản trị chuỗi cung cấp. Một trong những thách thức mà nhiều doanh nghiệp đối diện hiện nay liên quan đến quản trị chuỗi cung cấp chính là cách thức đánh giá đầy đủ hiệu suất toàn diện trong một chuỗi cung cấp toàn cầu và thường là cực kỳ phức tạp. Đối với ngành bán sỉ và bán lẻ, trọng tâm của quản trị chuỗi cung cấp là những vấn đề về vị trí và hậu cầu hơn là vấn đề sản xuất. Quản trị chuỗi cung ứng trong những ngành này thường liên quan đến việc đáp ứng nhanh chóng hoặc hậu cần tích hợp. Thành tựu của hệ thống chuyển đổi dữ liệu điện tử nội bộ (EDI), hệ thống mã vạch, Internet và công nghệ quét sóng băng tầng trong hai thập kỷ qua được hỗ trợ cho sự phát triển của khái niệm chuỗi cung ứng tích hợp. Các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ đã sử dụng quản trị chuỗi cung cấp nhằm đương đầu với tính phức tạo và không chắc chắn chưa từng có của thị trường và để giảm thiểu tồn kho xuyên suốt chuỗi cung cấp. Việc phát triển nhanh chóng phần mềm quản trị chuỗi cung cấp khách hàng/máy chủ mà điển hình bao gồm việc tích hợp quản trị chuỗi cung cấp và các cấu thành của QTKD Đêm 2 – K21 Trang 6 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng thương mại điện tử đã hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng. Chia sẻ thông tin với các đối tác chuỗi cung ứng thông qua EDI và Internet cho phép doanh nghiệp tích hợp chức năng tồn kho, hậu cần, mua nguyên vật liệu, vận chuyển và các chức năng khác nhằm tạo ra phương thức quản trị tiên phong và hiệu quả hơn. Trong tương lai, chúng ta sẽ hy vọng rằng quản trị chuỗi cung cấp nhấn mạnh đến việc mở rộng chuỗi cung cấp, gia tăng trách nhiệm của chuỗi và nhấn mạnh hơn nữa vào chuỗi cung cấp “xanh” cũng như cắt giảm đáng kể chi phí của chuỗi. 1.2 Khái niệm Chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng (sách Quản trị điều hành 381) “Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường” – Fundamentals of Logistics Management of Douglas M. Lambert, James R. Stock and Lisa M. Ellram “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và khách hàng” – Supply Chain Management: strategy, planning and operation of Chopra Sunil and Peter Meindl “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thánh bán sản phẩm, thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng” - An introduction to supply chain management – Ganesham, Ran and Terry P.Harrision Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông tin và nguyên liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai. 1.3 Mô hình chuỗi cung ứng 1.3.1 Mô hình đơn giản QTKD Đêm 2 – K21 Trang 7 Quản trị sản xuất 1.3.2 GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Mô hình phức tạp QTKD Đêm 2 – K21 Trang 8 Quản trị sản xuất 1.4 GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Đặc điểm chính về tính năng động của chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một hệ thống có tính tương tác rất cao. Các quyết định ở mỗi bộ phận của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến các bộ phận khác Chuỗi cung ứng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi nhu cầu. Kho và nhà máy phải đảm bảo để đáp ứng đầy đủ đối với các đơn hàng lớn. Thậm chí với các thông tin hoàn hảo tại tất cả các kênh sẽ có một phản ứng nhanh trong chuỗi cung ứng từ thời gian bổ sung. Cách tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung và cung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến tất cả các kênh phân phối. Thời gian trong chuỗi cung ứng chỉ dùng để tạo ra sự thay đổi trong các đơn đặt hàng và hàng tốn kho. Dự đoán sự thay đổi nhu cầu cũng có thể làm giảm ảnh hưởng của những thay đổi thực tế và quản trị nhu cầu có thể làm ổn thỏa những thay đổi của nhu cầu. 1.5 Các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng 1.5.1 Tiêu chuẩn giao hàng - Tiêu chuẩn này đề cập đến giao hàng đúng hạn được biểu hiện bằng tỷ lệ % của các đơn hàng được giao đầy đủ về số lượng và đúng ngày khách hàng yêu cầu trong tổng số đơn hàng. Đây là một tiêu chí rất chặt chẽ, khắc khe và khó nhưng nó đo lường hiệu quả thực hiện trong việc giao toàn bộ đơn hàng cho khách hàng khi họ yêu cầu. 1.5.2 Tiêu chuẩn chất lượng - Chất lượng được đánh giá ở mức độ hài lòng của khách hàng hay là sự thỏa mãn của khách hàng về sản phẩm. Đầu tiên chất lượng có thể được đo lường thông qua những điều kiện mà khách hàng mong đợi. - Để đo lường được sự thỏa mãn của khách hàng mong đợi về sản phẩm ta thiết kế bảng câu hỏi. Trong đó biến độc lập từ sự hài lòng của khách hàng. Một cách khác để đo lường sự hài lòng của khách hàng ta sử dụng một trong những cẩu hỏi dưới đây: QTKD Đêm 2 – K21 Trang 9 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng + Quý khách hài lòng như thế nào về tất cả các sản phẩm quý khách đã sử dụng. + Quý khách đã giới thiệu bạn bè mua hàng của chúng tôi như thế nào. 1.5.3 Tiêu chuẩn thời gian - Tổng thời gian bổ xung hàng tháng có thể tính một cách trực tiếp từ mức độ tồn kho. Nếu chúng ta có một mức sử dụng cố định lượng hàng tồn kho này thì thời gian tồn kho bằng mức độ tồn kho chia mức sử dụng. Một trong những chỉ tiêu quan trọng khác là phải xem xét đến thời gian thu hồi công nợ, nó đảm bảo cho công ty có lượng tiền để mua bán sản phẩm, tạo ra vòng luân chuyển hàng tháng. 1.5.4 Tiêu chuẩn chi phí: có 2 cách để đo lường chi phí: - Công ty đo lường tổng chi phí bao gồm: chi phí sản xuất, phân phối, chi phí tồn kho, và chi phí công nợ. Thường những chi phí riêng biệt này thuốc trách nhiệm của các nhà quản lý khác nhau và vì vậy không giảm được tối đa tổng chi phí. - Tính chi phí cho cả hệ thống chuỗi cung ứng để đánh giá hiệu quả giá trị gia tăng và năng suất sản xuất. 1.6 Cải tiến cấu trúc chuỗi cung ứng Có 2 cách để cải tiến cấu trúc chuỗi cung ừng bằng cách thay đổi cấu trúc hoặc thay đổi bộ phận của chuỗi cung ứng Thay đổi cấu trúc liên quan đến những thay đổi về vật chất kỹ thuật, trong khi đó thay đổi các bộ phận thì liên quan đến con người và hệ thống. Thay đổi cấu trúc bao gồm những thay đổi về máy móc thiết bị, công suất, kỹ thuật và công nghệ… Những thay đổi này thường là những thay đổi mang tính dài hạn và cần một nguồn vốn đáng kể. Những thay đổi về cấu trúc, sắp xếp lại các yếu tố trong chuỗi cung ứng thường là sự thay đổi lớn và sâu rộng. Thay đổi các bộ phận của chuỗi cung ứng bao gồm con người, hệ thống thông tin, tổ chức, quản lý sản xuất và tồn kho, hệ thống quản lý chất lượng. Những thay đổi này là những thay đổi mang chất nhạy cảm trong chuỗi cung ứng. 1.6.1 Phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng QTKD Đêm 2 – K21 Trang 10 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng a. Thống nhất từ khâu đầu đến khâu cuối theo quy trình khép kín. - Cách thức này chỉ ra việc sở hửu trong chuỗi cung ứng . Nếu một nhà sản xuất quyết định mua một công ty phân phối và chỉ phân phối sản phẩm của mình qua công ty đó thôi thì sự thống nhất này là hướng về thị trường. Mặt khác, nếu nhà sản suất mua một công ty cung ứng sản phẩm thì sự thống nhất này là lùi về phía sau của chuỗi cung ứng. Nếu một công ty sở hửu chuỗi cung ứng thì công ty này được hợp nhất theo chiều dọc. b. Đơn giản hóa quá trình chủ yếu. - Phường thức này được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng khi quá trình quá phức tạp, hay quá lỗi thời khi đó cần sự thay đổi. Trong quá trình này người ta điều chỉnh lại những chỗ bị lỗi mà không cần quan tâm đến quá trình hiện tại. - Việc này dẫn đến những thay đổi lớn về trình tự và nội dung các công việc được tiến hành trong quá trình cũng như những thay đổi về hệ thống. c. Thay đổi số lượng nhà cung cấp, nhà máy, nhà kho, cửa hàng bán lẽ. - Đôi khi hệ thống phân phối không còn giữ đúng hình thức như ban đầu. Hoặc là khi thị trường có sự thay đổi nhiều công ty nhận thấy rằng họ cần có vài nhà máy và nhà kho ở địa điểm khác do vậy họ định hình lại hệ thống, phương tiện sản xuất và phân phối. d. Thiết kế sản phẩn chính. - Phương thức này thường được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng. Trong thực tế nhiều công ty nhận thấy họ có quá nhiều chủng loại hàng hóa, trong đó có vài loại bán rất chậm, vì vậy các sản phẩm này phải được chọn lọc và thiết kế lại. e. Chuyển quá trình hậu cẩn của công ty cho bên thứ 3. - Vài công ty chỉ đơn giản là chọn phường án tốt nhất, chuyển tất cả các khâu từ quản lý tồn kho, phân phối và hậu cần cho bên thứ 3. 1.6.2 Phương thức thay đổi bộ phận của chuỗi cung ứng a. Sử dụng đội chức năng chéo QTKD Đêm 2 – K21 Trang 11 Quản trị sản xuất - GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Hiện nay phương thức này áp dụng rộng rãi trong nhiều công ty. Mục đích của nó là để phố hợp các chức năng đan chéo của rất nhiều phòng ban và bộ phận chức năng của công ty. b. Thực hiện sự cộng tác mang tính đồng đội - Tính hợp tác giữa những nhà cung cấp và khách hàng mang đến sự phối hợp các công ty chéo giống như đội chức năng chéo thực hiện sự phối hợp trong công ty. Tính hợp tác của các công ty bắt đầu bởi các hợp đồng liên kết bền chặt được thiết lập trong mối quan hệ kinh doanh lâu dài, gắng liền với lợi ích của nhau. Các đối tác phải đươc xây dựng trên sự tin tưởng nhau để thực hiện công việc này cũng như những đối tác sẽ thiết lập những đội chức năng của các nhân viên từ nhiều công ty khác nhau, làm việc cùng nhau trong những dự án cải tiến quan trọng. c. Giảm thời gian khởi động của các máy móc thiết bị - Trong việc cải thiện chuỗi cung ứng, giảm thời gian khởi động của trang thiết bị thật là cần thiết để cho những lô sản phẩm nhỏ hơn có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất. Ngay khi kích thước của lô hàng giảm, tồn kho sẽ giảm, hàng hóa sẽ được luân chuyển nhanh hơn, từ đó hàng hóa sẽ đáp ứng được nhu cầu thị trường. - Giảm thời gian sắp đặt đòi hỏi thời gian sáng tạo và có thể thực hiện ở bất cứ phần nào của thiết bị sản suất bời sự giản đơn cho sự thay đổi thiết bị trước khi máy móc dừng lại và thực hiện sự thay đổi nhanh chống ngay khi máy móc không còn chạy nữa, vì vậy nó có thể đưa vào sản xuất càng sớm càng tốt. d. Hoàn thiện hệ thống tin - Cải thiện hệ thống thông tin là vấn đề quan trọng trong chuỗi cung cấp. Một trong những thay đổi xảy ra là việc dành lấy dữ liệu kinh doanh từ khách hàng và phát triển thông tin này đưa trở lại phục vụ cho chuỗi cung ưng. Nhà cung cấp không chỉ biết nhận đơn hàng của khách hàng của mình mà cũng phải biết nơi kinh doanh và vị trí kho của khách hàng. e. Xây dựng các trạm giao hàng chéo QTKD Đêm 2 – K21 Trang 12 Quản trị sản xuất - GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Hàng hóa giao đam xen ở nhiều trạm là một cuộc cách mạng trong vận chuyển đối với nhiều công ty. Ý tưởng can bản là việc giao hàng của nhà cung cấp được diễn ra từ nhiều trạm khác nhau. Những công việc này không tiêu tốn thời gian cho việc kiểm kê kho, nó cũng đơn giản cho việc di chuyển từ một trạm này đến một trạm khác. - Có thể đúc kết rằng vừa cải tiến cấu trúc vừa cải tiến cơ sở hạ tầng có thể tạo ra sự thay đổi chính trong chuỗi cung ứng. Nó có thể giúp doanh nghiệp làm giảm tình trạng không chắc chắn, không rõ ràng, hay giảm thời gian cung ứng. Những thay đổi này rất có hiệu quả nhưng đòi hỏi sự phối hợp rộng khắp vừa bên trong và qua nhiều công ty khác nhau. QTKD Đêm 2 – K21 Trang 13 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG RAU AN TOÀN TP.HCM 2.1 Khái niệm rau an toàn Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả) có chất lượng đúng như đặc tính của nó. Hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau an toàn”. Một số tiêu chuẩn, quy định về rau an toàn: Bảng 1: Tiêu chuẩn về hàm lượng nitrat (NO3) Giống Mức quy định Giống Mức quy định Su hào Không quá: 500 Dưa bí Không quá: 90 Bắp cải Không quá: 500 Dưa hấu Không quá:60 Cà rốt Không quá: 200 Mãng tây Không quá:200 Hành tây Không quá: 80 Bầu Không quá:400 Hành hoa Không quá: 400 Đậu quả Không quá:200 Khoai tây Không quá: 250 Cà tím Không quá:400 Ngô rau Không quá: 300 Xà lách Không quá:500 Cà chua Không quá: 150 ớt ngọt Không quá:200 Dưa chuột Không quá: 150 Súp lơ Không quá:500 Bảng 2: Hàm lượng kim loại nặng và độc tố Các loại Mức quy định Các loại Mức quy định Chì (Pb) Max: 0.5 Canidi (d) Max: 0.03 Đồng (As) Max:0.2 Thủy Ngân (Hg) Max: 0.02 Đồng (Cu) Max:5.0 Kẽm (Zn) Max: 10.0 Thiếc (Sn) Max:20.0 Aglôtoxin Max:0.005 QTKD Đêm 2 – K21 Trang 14 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Palutin Max:0.05 Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Bảng 3: Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật Thuốc Rau ăn lá Rau ăn quả Rau ăn củ BVTV Thời gian cách ly (ngày) Basudin 10G 0,5-0,7 0,5-0,7 - 14-20 Diptorex 80 0,5 1,0 - 7 Dimothoet 0,1 0,5-1,0 0,5-1,0 7-10 50EC 1-1,2 1,0-1,5 - 7 Carbaxit 0,2 - - 14 80WP 0,1 2,0 0,2 14-20 Padan 95 0,1 - 0,2 RAL :7-10 WP - - - RAQ : 3-4 Sanusidin 0,03 0,02 - 4-10 20EC - - - 3 Decis Slerpa 25EC Kovote 2,5EC Trebon 10EC Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn 2.2 Các yêu cầu về sản xuất rau an toàn a. Yêu cầu về đất trồng Đất phải không chịu ảnh hưởng xấu của các chất thải công nghiệp, giao thông, khu dân cư tập trung, bệnh viện, nghĩa trang, có nghĩa là các chất độc hại cho người và cho môi trường. Sau một vụ sản xuất, đất phải được phơi 2-3 ngày sau đó phải được xới tơi để trồng tiếp. Công việc này chủ yếu bằng thủ công. Nông dân chưa được QTKD Đêm 2 – K21 Trang 15 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng trang bị cơ giới hoá như máy xới đất... nên với một diện tích đất 1.000 m2 thì công việc này rất nặng nhọc. b. Yêu cầu về phân bón Chỉ dùng phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng đã được ủ hoại mục, tuyệt đối không được dung các loại phân hữu cơ còn tươi. Số lượng phân phải dựa trên tiêu chuẩn cụ thể quy định trong các quy trình của từng loại rau, đặc biệt với rau ăn lá kết thúc phân bón trước khi thu hoạch 15 – 20 ngày. c. Yêu cầu về nước tưới Chỉ dùng nước giếng khoan, nước từ các sông hồ lớn không bị ô nhiễm các chất độc hại. Tuyệt đối không dùng trực tiếp nước thải từ các khu công nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư, nước ao, tù đọng. d. Yêu cầu về phòng trừ sâu bệnh Phải áp dụng phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp, ít độc hại cho người và môi trường: o Giống: Chọn giống tốt, các cây giống phải xử lý sạch sâu bệnh trước khi xuất ra khỏi vườn ươm. o Biện pháp canh tác: Cần tận dụng triệt để các biện pháp canh tác để hạn chế các điều kiện và các nguồn phát sinh các loại dịch trên rau. Chú ý thực hiện các chế độ luân canh Lúa – Rau hoặc xen canh giữa các loại rau khác họ với nhau để giảm bớt các loại sâu tơ và các loại sâu hại khác. o Một số loại rau cần phải trang bị nhà lưới chống sự xâm nhập của sâu bệnh. o Dùng thuốc: Dùng thuốc khi thực sự cần thiết. Phải có sự điều tra phát hiện sâu bệnh, hướng dẫn dùng thuốc của cán bộ kỹ thuật. Bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch đúng hướng dẫn trên nhãn của từng loại thuốc. Như vậy, trước khi thực hiện canh tác rau an toàn, nhất thiết nông dân phải được trải qua lớp tập huấn kỹ thuật của Sở Nông Nghiệp. Các khoá huấn luyện này phải tập trung hỗ trợ kiến thức kĩ càng về quá trình trồng trọt như nêu trên. 2.3 Đặc điểm chuỗi cung ứng rau an toàn Tp.HCM QTKD Đêm 2 – K21 Trang 16 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng 20% Chợ lẻ 7580% Nông dân Hợp tác xã/ thương lái 2 -5% 70 – 75% Siêu thị, Metro Người tiêu dùng 15 – 20% Khách sạn, nhà hàng, bếp ăn 1 -5% Cty, Cửa hàng cung ứng rau quả hoặc chế biến 70-75% Xuất khẩu 1% Con đường phân phối chính từ nông dân và thương lái So với các sản phẩm rau quả khác, chuỗi cung ứng rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh tương đối chặt chẽ. Các đối tượng giữa các khâu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó vai trò của thương lái – hợp tác xã là chủ lực. Rau an toàn được hình thành từ các hộ trồng rau (hay gọi là Tổ rau an toàn). Các Hợp tác xã này chủ yếu được thiết lập cho mục đích trồng trọt rau theo qui trình đảm bảo an toàn. Nhưng một số Hợp tác xã ngoài việc trồng trọt còn xúc tiến được việc tiêu thụ thu gom, tập hợp sản phẩm của các nông dân để cung cấp cho các cửa hàng, các siêu thị, trung tâm bán sỉ hiện đại để hình thành nên mô hình mẫu trong việc cung cấp rau an toàn tại thành phố. (Đây là hình thức tương đối khác biệt với rau quả của Đà Lạt hay các nơi khác, khi vai trò thương lái không hoàn toàn riêng biệt mà nhiều phần gắn liền với HTX, khiến cho chuỗi giá trị rau ở đây đơn giản hơn các nơi khác) Một số công ty rau quả có chuỗi cửa hàng, cung cấp cho các Nhà hàng, khách sạn thường mua trực tiếp từ các hộ nông dân hay các tổ rau an toàn. Phần còn lại (hợp tác xã và các công ty không thu mua hết) các nông dân tự QTKD Đêm 2 – K21 Trang 17 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng mang sản phẩm của mình bán tại các chợ lẻ cho người tiêu dùng nhưng giá của rau an toàn lúc này không cao. Như vậy, cả người nông dân, siêu thị, các cửa hàng hiện nay đều có chức năng như những người bán lẻ thực thụ. Tuy nhiên về qui mô cũng như về hình thức bao bì đóng gói, quy cách hàng hoá có những sự khác biệt nên giá cả cũng khác nhau rất nhiều. Riêng về các công ty chế biến, do hiện nay trên thành phố việc chế biến rau an toàn chưa được đẩy mạnh nên những công ty chế biến thường chỉ sản xuất ở qui mô nhỏ với nguồn rau chủ yếu từ Đà Lạt. Vì phải tuân thủ theo qui trình của nước được nhập khẩu nên phần lớn họ tự trồng tại các nông trại hoặc hợp tác với người nông dân một cách chặt chẽ. 2.3.1 Quản trị nhà cung ứng Là thành phố đông dân và lớn nhất nước Việt Nam, Hồ chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là một thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn nhất nước nên việc mở rộng vùng cung cấp rau an toàn tại thành phố là hết sức cần thiết. Sự chênh lệch về số dân giữa nông thôn và thành thị là một trong những nhân tố quan trọng khác làm cho mức ‘cầu’ về rau an toàn ờ thành phố Hồ Chí Minh rất cao. Dân cư thành thị với mức sống và trình độ dân trí cao, có nhận thức cao hơn về các lợi ích của rau an toàn cũng như sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm rau đạt chất lượng tốt. Để thực hiện mục tiêu đáp ứng đủ nhu cầu rau sạch cho thành phố, Sở Nông Nghiệp đã phối hợp với UBND các quận huyện để quy hoạch các vùng trồng rau an toàn, phối hợp với các nhà cung ứng rau an toàn là các hộ nông dân, các tổ chức sản xuất rau an toàn ở các quận huyện. Thành phố chủ trương tìm kiếm những nhà cung ứng có khả năng đáp ứng đủ các tiêu chí về sản xuất rau an toàn. Giúp đỡ các nhà cung ứng trong việc huẩn luyện, đào tạo các kỹ thuật trồng rau an toàn, hỗ trợ vốn,.., đảm bảo giá cả ổn định cũng như đầu ra cho sản phẩm. QTKD Đêm 2 – K21 Trang 18 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Các nhà cung ứng được xác định trong chuỗi cung ứng rau an toàn tại TP.HCM là các nhà cung cấp hạt giống, đất trồng, phân bón, nước tưới, thuốc phòng trừ sâu bệnh. 2.3.2 Quy trình sản xuất rau an toàn Quy trình sản xuất này sản xuất rau an toàn được thực hiện với mục đích là: Nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm mà vẫn đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường. Quy trình sản xuất được thực hiện theo 5 khâu chính: 1) Làm đất: Rau an toàn chỉ được sản xuất trên vùng đất đã quy hoạch, khảo sát: đất không bị nhiễm các kim loại nặng như: Fe, Zn, Cu; không bị ngập úng, xa khu nghĩa địa, chất thải khu công nghiệp. Cày bừa kỹ làm thành hàng, luống thẳng phù hợp cho cây phát triển và quá trình tưới ẩm. 2) Gieo cấy: Tuỳ thuộc vào từng giống cây, theo mùa vụ để gieo cấy đúng mật độ, số cây, số rãnh trên một đơn vị mét vuông. Chọn giống tốt, giống không có mầm bệnh, áp dụng biện pháp luân canh, đúng qui trình kỹ thuật. 3) Chăm sóc: - Bón phân cân đối theo qui trình, hướng dẫn của các tổ, nhóm NSX, không bón phân tươi, không lạm dụng phân bón hoá học. - Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo yêu cầu 4 đúng (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, nồng độ, đúng cách). - Sử dụng nguồn nước ngầm, nước sạch để tưới cho cây trồng hàng ngày, nguồn nước được quy hoạch khai thác đúng, đủ yêu cầu tưới phun. Không sử dụng nguồn nước thải để tưới rau màu. 4) Thu hoạch: Thu hoạch rau màu đảm bảo được rau xanh tươi, sạch, đẹp, nếu là rau quả, chín đều, thu hái theo từng lớp, từng đợt dựa vào thời gian sinh trưởng của cây trồng. Rửa sạch, đóng bao bì đúng kỹ thuật. 5) Vận chuyển tiêu thụ: Sản phẩm rau màu được phân vùng thị trường trong và ngoài tỉnh theo đơn đặt hàng. Xếp hàng, vận chuyển đảm bảo an toàn cho sản phẩm 2.3.3 Quản trị hệ thống phân phối a. Hộ Nông dân Nông dân và các mối quan hệ trực tiếp QTKD Đêm 2 – K21 Trang 19 Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng Chợ lẻ Nông dân Hợp tác xã/ thương lái Cty, Cöûa haøng cung ứng rau quả hoặc chế biến Khác với người nông dân sản xuất rau bình thuờng, nông dân sản xuất rau an toàn phải tuân thủ theo một qui trình khá chặt chẽ từ lúc trồng trọt cho đến lúc thu hoạch. Ở đây chúng ta chỉ tập trung phân tích chuỗi cung ứng bắt đầu từ khâu thu hoạch. (1) Thu hoạch Thông thường, nếu đúng qui trình thì rau được thu hoạch vào lúc sáng sớm vì khi đó rau trông tươi mát, chưa mất nước và cân nặng nhất trong ngày. Nếu được nông dân tự vận chuyển ra chợ bán lẻ hoặc đến điểm thu mua ngay. Tuy nhiên trên thực tế của nghiên cứu, nếu nông dân bán cho công ty hay hợp tác xã thì rau tại TP. Hồ Chí Minh được thu hoạch vào lúc chiều (từ 4-5 giờ) khi đó rau khô ráo để tránh giập nát khi vô bao bì và dễ vận chuyển về đêm. (2) Cắt gốc Sau khi nhổ rau được cắt gốc tại vườn nếu có yêu cầu, một số Công ty, hợp tác xã và một số khách hàng là nhà bán lẻ cấp hàng cho các căn tin, nhà trẻ, bếp ăn tập thể thường yêu cầu phải cắt gốc. Tuy nhiên, khi bán tại các chợ lẻ nông dân thường để gốc cho tươi, gốc sễ được cắt tại chợ khi người mua yêu cầu. (3) Cắt tỉa QTKD Đêm 2 – K21 Trang 20
- Xem thêm -