Tuyển dụng công chức nhà nước – thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Khóa 31 (2005 – 2009) Đề tài: TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.s Võ Duy Nam Trần Thị Thu Uyên MSSV:5055013 Lớp: LK0563A1 GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 1 Cần Thơ, 03/2009 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN …………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… Cần Thơ, ngày tháng năm GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 2 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp LỜI CẢM ƠN Thời gian trôi qua thật nhanh, mới ngày nào tôi bước chân vào Trường Đại học Cần Thơ với thật nhiều bỡ ngỡ và bao điều lo toan cho việc học tập cũng như sinh hoạt của mình. Giờ đây, 4 năm Đại học sắp kết thúc, có lẽ tôi chỉ có thể giữ lại được cho mình trong khoảng thời gian đã qua là những kiến thức, những kinh nghiệm, những kỷ niệm, và những kỷ niệm đẹp về Trường Đại học Cần Thơ yêu mến. Trong suốt thời gian qua, tôi luôn nhận được sự động viên từ gia đình, sự giáo dục, giúp đõ của nhà trường, thầy cô và bè bạn. Nhờ vậy, tôi có thể hoàn thành công việc học tập của mình. Xin gởi lời cảm ơn đến gia đình – luôn là chỗ dựa và là nguồn động lực để tôi an tâm học tập. Cảm ơn lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo khoa Luật, quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ – luôn tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường; truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm trong học tập cũng như trong cuộc sống. Xin chân thành cảm ơn thầy Võ Duy Nam – bộ môn Luật Hành Chính, đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp. Mong rằng sau khi ra trường, những kiến thức và kinh nghiệm quý giá này sẽ là hành trang giúp tôi có được công việc ổn định và hoàn thành nhiệm vụ của mình, góp phần phát triển đất nước, xây dựng xã hội văn minh, giàu đẹp. Xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Trần Thị Thu Uyên GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 3 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp LỜI NÓI ĐẦU ---  --1. Tính cấp thiết của đề tài Bác Hồ từng nói: “cán bộ là gốc của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do công tác cán bộ quyết định”. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay khi nền kinh tế nước ta có những bước phát triển vượt bậc thì nền hành chính của nước nhà vẫn còn chuyển biến chậm, chưa đuổi kịp hay nói đúng hơn là chưa ngang bằng với sự phát triển của nền kinh tế. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã đề ra chiến lược cải cách hành chính quốc gia và phân kỳ thành thành từng giai đoạn. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là khâu khó nhất trong lộ trình cải cách hành chính, vì cán bộ, công chức là cái gốc của mọi công việc, công việc có thành công hay thất bại là do cán bộ, công chức tốt hay xấu. Công chức Nhà nước là đội ngũ tiên phong, mang trọng trách lớn trong việc tổ chức và thực thi pháp luật, làm cho pháp luật đi vào cuộc sống nhân dân. Chúng ta phải tuyển chọn những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên như Bác Hồ đã nói để làm cho đất nước ngày càng phát triển và tiến bộ. Vì vậy, người viết chọn đề tài “Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Như đã biết, đây là đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên nhận thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu thêm các khía cạnh khác của vấn đề nên người viết đã chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình. Trong đề tài này, người viết phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức nhà nước. Trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức nhà nước hiện nay. 3. Mục đích nghiên cứu của đề tài Từ tính cấp thiết của vấn đề này, xét thấy cần phải có nhiều hơn nữa những nghiên cứu nhằm: - Để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức nhà nước GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 4 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp - Đi sâu vào phân tích những điều luật cụ thể có liên quan để tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu, cũng như những hạn chế thiếu sót của chế định tuyển dụng công chức nhà nước. Từ đó nêu ra những phương hướng cũng như một số giải pháp để hoàn thiện vấn đề - Trao dồi và củng cố lại kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Về thời gian Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 01/2009 – 03/2009 - Nguồn thông tin: Tài liệu chủ yếu được thu thập từ: giáo trình, sách, báo, tạp chí chuyên ngành và truy cập mạng mạng Internet. - Về nội dung: Giới hạn trong phạm vi nghiên cứu là tuyển dụng công chức nhà nước. 5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Phương pháp nghiên cứu của người viết trong đề tài này chủ yếu dựa trên các cơ sở khoa học pháp lý. Và áp dụng các phương pháp sau: - Phân tích luật viết với cách tìm hiểu kỹ các quy phạm pháp luật để tìm hiểu tinh thần chung của các quy phạm pháp luật. - Phương pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp các quy định hiện hành. - Phương pháp tiếp cận thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, các tạp chí chuyên ngành, Internet…, và sử dụng phương pháp quy nạp để khái quát vấn đề nghiên cứu. 6. Kết cấu của đề tài Luận văn được trình bày theo thứ tự: lời nói đầu, nội dung chính của đề tài được cụ thể hóa thành các chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo cần thiết cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đề tài. Nội dung chính gồm có ba chương: Chương 1: Những vấn đề chung về tuyển dụng công chức Nhà nước Chương 2: Thực trạng vấn đề tuyển dụng công chức Nhà Nước hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện về vấn đề tuyển dụng công chức hiện nay GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 5 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp CHƯƠNG 1 NHỮNG VẦN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨC VÀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 1.1. Khái niệm công chức nhà nước 1.1.1. Khái niệm cán bộ Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 sửa đổi, bổ sung năm 2003, thì cán bộ là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã). 1.1.2. Khái niệm công chức Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 sửa đổi, bổ sung năm 2003, thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào biên chế, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên, hưởng lương từ ngân sách, làm việc trong các cơ quan, tổ chức sau đây: - Các tổ chức thuộc văn phòng Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc); - Các tổ chức giúp Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước trong việc phục vụ Chủ tịch nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; - Các tổ chức giúp Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước; - Các tổ chức giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước; - Các tổ chức giúp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc); GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 6 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp - Cơ quan đại diện nước Cộng hòa chủ nghĩa xã hội Việt Nam ở nước ngoài; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. 1.1.3. Khái niệm viên chức Theo nghị định số 116/ NĐ – CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, thì viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29/04/2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật. 1.2. Căn cứ tuyển dụng cán bộ, công chức 1.2.1. Khái niệm tuyển dụng công chức Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan Nhà nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển 1.2.2. Căn cứ tuyển dụng cán bộ, công chức *Tuyển dụng cán bộ, công chức căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được giao: Khi tuyển dụng cán bộ, công chức vào các vị trí sau cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được giao: - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 7 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; - Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. *Tuyển dụng cán bộ, công chức căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế và nguồn tài chính của đơn vị. Việc tuyển dụng được thực hiện theo hình thức hợp đồng làm việc: Đối với những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội. *Tuyển dụng cán bộ, công chức phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị Tuyển dụng cán bộ, công chức phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị, đối với: - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức - chính trị xã hội ở trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện. 1.3. Nguyên tắc tuyển dụng Tuyển dụng công chức là một hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước. Bởi vì không tuyển dụng thì không thể lựa chọn được người phù hợp khả năng, tiêu chuẩn và điều kiện đảm đương công vụ. Khả năng căn cứ vào sự phù hợp trong quan hệ giữa năng lực và công việc do chức vụ đòi hỏi, tiêu chuẩn là những yếu tố cần và đủ để có thể được xét cho tuyển dụng, điều kiện là những cam kết gắn liền với công chức trước và sau khi tuyển dụng, ràng buộc họ với công vụ. Ngoài những đòi hỏi nghiêm túc GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 8 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp trong các quy định pháp lý, cần phải hình thành những nguyên tắc bảo đảm các quy định cần phải được tôn trọng. Các tài liệu khi đề cập tới việc tuyển dụng đều thừa nhận cần có những nguyên tắc nhưng sự phân loại những nguyên tắc hay xây dựng các nguyên tắc còn có những điểm khác nhau, ở đây không phải là vấn đề đúng sai mà vấn đề là việc cần thiết phải có hệ thống nguyên tắc cơ bản đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và những tiêu chuẩn pháp lý. - Nguyên tắc bình đẳng Tất cả công dân đều có quyền và cơ hội ngang nhau khi có mong muốn làm việc cho cơ quan, đơn vị sự nghiệp Nhà nước, miễn là đáp ứng những yêu cầu theo quy định của pháp luật và các yêu cầu cụ thể của vị trí cần tuyển dụng. Nguyên tắc này cụ thể hóa Hiến pháp, quy định Hiến pháp về những quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, theo đó thì mọi công dân đều bình đẳng trong việc tham gia vào các hoạt động tuyển dụng công chức, bình đẳng về giới tính, giai cấp, tôn giáo, dân tộc,…Trên thực tế do những yếu tố chi phối như tâm lý trọng nam khinh nữ ở một số nơi nên có những quy định hạn chế tuyển dụng công chức nữ. - Nguyên tắc khách quan Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tuyển dụng phải căn cứ vào những yêu cầu khách quan để tuyển dụng và lựa chọn, đó là nhu cầu thực tế của công việc. Nguyên tắc này không chấp nhận việc tuyển dụng bị chi phối bởi những thái độ chủ quan như cố tình tuyển dụng số lượng công chức vượt quá tiêu chuẩn biên chế, lựa chọn những thí sinh căn cứ vào những quan hệ chủ quan như chọn người nhà, người mà gia đình có địa vị xã hội, những quan hệ tiêu cực như hối lộ. Vô tư trong tuyển dụng sẽ cho phép việc tuyển dụng những người có đủ tiêu chuẩn, năng lực, đảm bảo tính công bằng. Lấy kết quả thi tuyển, bầu chọn để làm cơ sở tuyển chọn, không thiên vị. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp vi phạm đã dẫn đến những bất bình của thí sinh, và dẫn đến xảy ra nhiều vụ khiếu kiện của các thí sinh. - Nguyên tắc ưu tiên Nội dung của nguyên tắc này là dành những điều kiện thuận lợi, ngoại lệ cho một số đối tượng nhất định, phù hợp với quy định của pháp luật. Nguyên tắc ưu tiên không có nghĩa là trái với nguyên tắc khách quan, việc ưu tiên cho một số đối tượng đã được quy định từ trước bởi các cơ quan cấp trên của cơ quan tuyển chọn và được Nhà nước GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 9 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp quy định. Ưu tiên xuất phát từ sự chênh lệch dân trí, sự bố trí dân cư, thường là ưu tiên cho những dân tộc ít người, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Nếu không thực hiện chính sách ưu tiên thì sẽ rất khó để có thể xây dựng được một đội ngũ công chức vùng cao, cho cộng đồng các dân tộc ít người, hoặc ảnh hưởng đến chính sách của Nhà nước về vấn đề dân tộc. Ưu tiên về giới thường hướng vào thực hiện chính sách của Nhà nước đối với công chức nữ. Ưu tiên người có công với nước nhằm tạo điều kiện ưu đãi, ví dụ như hạ độ tuổi, lấy độ tuổi rộng hơn đối với những người đã có sự hi sinh, đóng góp trong chiến tranh hay những hoàn cảnh đặc biệt, vì thế họ không còn đủ điều kiện để đáp ứng các tiêu chuẩn trong chế độ tuyển dụng của Nhà nước. Nguyên tắc ưu tiên bảo đảm tính khách quan, công bằng, khuyến khích được mọi công chức phát huy tối đa sự tận tâm, tận lực với công vụ, hạn chế tính quan liêu, tùy tiện, cảm tình cá nhân,… - Nguyên tắc công khai Tính công khai xuất phát từ các thiết chế dân chủ được quy định trong Hiến pháp và Luật, phạm vi công khai không hạn chế, công khai để mọi người cùng biết việc tuyển dụng, như công khai về chế độ dự tuyển, công khai số lượng cần chọn vào cơ quan, công khai kết quả thi tuyển, công khai chế độ ưu tiên,…trên các phương tiện thông tin đại chúng. - Nguyên tắc khuyến khích Đây là sự ưu tiên dành cho những người mà ngoài những tiêu chuẩn cần đáp ứng, họ còn có những kết quả, năng lực khác có giá trị bổ trợ đối với chuyên môn đã tham gia dự tuyển. Khi hai hoặc nhiều hơn số lượng người đều có đủ những điều kiện trúng tuyển thì phải tính đến nguyên tắc ưu tiên. Nhưng nếu nguyên tắc ưu tiên vẫn còn lại hai người trở lên để lựa chọn thì có thể áp dụng nguyên tắc khuyến khích để tìm những người có năng lực, tiêu chuẩn rộng hơn như những yếu tố về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, nơi cư trú, tuổi tác,…Ví dụ: nếu hai người cùng đủ tiêu chuẩn, ai có chứng chỉ ngoại ngữ cao hơn sẽ được tuyển dụng. Hoặc nếu có hai người cùng trúng tuyển mà chỉ tiêu còn một thì người có chỗ ở để ổn định công việc sẽ được khuyến khích tuyển dụng. - Nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu Tuyển dụng căn cứ vào nhu cầu thực tế, thiếu công chức cấp nào, thì tuyển đúng chuyên môn trình độ đó, có thể cao hơn nhưng không được thấp hơn, dựa vào việc để tìm người. Điều 23 Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định: “khi tuyển dụng cán bộ, GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 10 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp công chức quy định tại các điểm b, c, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này, cơ quan tổ chức tuyển tụng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của các chức danh cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức mình và chỉ tiêu biên chế được giao”.. Tuyển dụng không xuất phát từ nhu cầu sẽ tạo ra những hậu quả rất khó khắc phục sau này như đủ biên chế mà vẫn thiếu người làm việc, có người chơi mà không có người làm, việc đáng một người làm lại chia ra cho ba, bốn người. Không những thế, tâm lý tị nạnh, nhòm ngó lẫn nhau trong công vụ khá phổ biến ở những cơ quan bất cập về cơ cấu hiện nay. - Nguyên tắc đảm bảo vật chất và tinh thần Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, nếu ở nước nào có chế độ tiền lương đảm bảo cho công chức có cuộc sống khá về vật chất và tăng mức sống của xã hội, được bảo đảm về các quyền về tinh thần khác theo quy định của pháp luật thì điều đó sẽ là động lực trực tiếp khơi dậy sự sáng tạo, lòng trung thành, tận tụy của công chức đối với Nhà nước và nhân dân. Đồng thời khắc phục có hiệu quả tệ quan liêu, hối lộ, tiêu cực, tham nhũng trong đội ngũ công chức. Các nguyên tắc trên không tồn tại một cách độc lập mà chúng hỗ trợ, tác động lẫn nhau, phát sinh từ những yếu tố khách quan, yếu tố pháp lý, nguyên tắc tạo điều kiện để thực hiện nguyên tắc kia, vi phạm nguyên tắc này có thể sẽ vi phạm nguyên tắc khác. 1.4. Tiêu chuẩn của người dự tuyển công chức Khi đề cập tới tiêu chuẩn công chức thì đưa ra những thông tin có thể kiểm nghiệm được khi hình thành những tiêu chuẩn ở mức độ có thể, mà như vậy cũng không nên tuyệt đối hóa tiêu chuẩn theo hai cực đối lập nhau. Chẳng hạn nếu nói tiêu chuẩn có thể kiểm nghiệm không có nghĩa là mọi thông tin đưa ra đều có thể đo, đếm được. Nhưng có những tiêu chuẩn hoặc có thể phải chấp nhận việc đánh giá bằng sự kết hợp các tiêu chuẩn theo nguyên tắc liên hệ tất yếu. Thực tế cho thấy có hai vấn đề liên quan đến việc tiếp nhận người để tuyển dụng vào công chức: đòi hỏi người dự tuyển phải có những điều kiện cụ thể về chuyên môn, tuổi tác và những yếu tố về thể chất,… và tính chất có hạn của biên chế trong bộ máy hành chính Nhà nước khiến cho việc lựa chọn là việc cần thiết. Tiêu chuẩn là những tiêu chí cụ thể đòi hỏi người tham gia tuyển dụng phải thỏa mãn để đệ đơn cho cơ quan có trách nhiệm tuyển dụng, tiêu chuẩn là những đòi hỏi trước tuyển dụng vì vậy mọi người thi tuyển phải đủ tiêu chuẩn. GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 11 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp 1.4.1. Tiêu chuẩn về nhân thân Tiêu chuẩn này đề cập tới các yếu tố, xác định quốc tịch, xác định về tuổi tác, xác định về điều kiện thể chất và cuối cùng là tư cách công dân. Tiêu chuẩn về quốc tịch: Đối với pháp luật về công chức nước ta, tất cả công dân muốn tham gia vào công vụ đều phải có quốc tịch Việt Nam. Nghĩa là họ phải là người Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam (không phải là người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài) hoặc là người nước ngoài mang quốc tịch Việt Nam. Việc xác định quốc tịch và coi đó là một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với công chức đều được thực hiện ở nhiều quốc gia, nhất là công chức trong các cơ quan hành chính mà công vụ của họ trực tiếp phát sinh quyền lực Nhà nước. Đối với nước ta, hầu hết các ngạch công chức hiện nay đều có một yêu cầu là “điều kiện” tuyển dụng: đó là chỉ tuyển dụng vào công chức những người là công dân Việt Nam. Tiêu chuẩn về thể trạng, sức khỏe Tiêu chuẩn sức khỏe đối với một công chức không những là tiêu chuẩn chung, phổ thông, yêu cầu sức khỏe không những được duy trì ngay từ khi tuyển công chức vào biên chế mà còn được bảo đảm trong suốt quá trình thực hiện cuộc đời công vụ của mình. Một người có sức khỏe tốt thì sẽ thực hiện được nhiệm vụ được giao một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Tiêu chuẩn về sự bảo toàn các yếu tố của quyền công dân Như đã nêu trên về tiêu chuẩn quốc tịch đối với công chức. Tiêu chuẩn đó để phân định việc tham gia công chức đối với người có quốc tịch hoặc người không có quốc tịch Việt Nam. Còn tiêu chuẩn bảo toàn các yếu tố quyền công dân chỉ nói về những công dân Việt Nam. Nghĩa là, họ phải giữ được những gì là quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân khi tham gia vào công chức. Ví dụ nếu một người mắc bệnh tâm thần bẩm sinh hoặc lâm bệnh bất thường; hoặc một người đang bị truy tố, đang thụ án là những người không bảo toàn được các yếu tố của quyền công dân. 1.4.2. Tiêu chuẩn về trình độ, năng lực Tiêu chuẩn về trình độ và năng lực là một trong những tiêu chuẩn được nhấn mạnh và được kiểm nghiệm khá nghiêm túc trong khi chuyển đổi cơ chế quản lý. Tiêu chuẩn về trình độ, năng lực có sự hỗ trợ lẫn nhau, năng lực là hậu quả logic của tiêu chuẩn cũng như một người được đào tạo, bồi dưỡng để được cấp một văn bằng, chứng GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 12 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp chỉ xác định về một trình độ phù hợp với năng lực, để đảm đương một chức vụ. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp xuất hiện sự bất cập khi một người được đào tạo, bồi dưỡng, có hệ thống văn bằng khá tốt, nhưng lại không phát huy được những gì đã tiếp thu để biến thành năng lực trong công tác. Trái lại, có số cán bộ (đương nhiên là thiểu số) do tác động của hoàn cảnh chiến tranh trước đây, do điều kiện công tác, hoàn cảnh hoặc sự thay đổi cơ chế, chính sách không được đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống nhưng thực tế lại có khả năng giải quyết những công việc do thực tiễn đặt ra. Như vậy cho thấy rằng, những biểu hiện khác nhau của chế độ, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực. Nhưng đòi hỏi chung là, trong điều kiện đổi mới, công chức phải được đào tạo, bồi dưỡng đúng với cương vị, chức vụ mà họ đảm nhiệm. 1.4.3. Tiêu chuẩn về thời gian – tuổi tác Căn cứ vào trách nhiệm dân sự thì một người muốn tham gia vào công chức phải đủ điều kiện vể tuổi tác cần thiết. Đó là tuổi được pháp luật nhà nước từ Hiến pháp đến pháp luật hành chính quy định. Đó là tuổi xác định là đủ tiêu chuẩn, đủ tham gia công vụ theo pháp luật hiện hành, tuổi tham gia công vụ ở hầu hết các chức vụ là đủ 18 tuổi. Căn cứ vào sự từng trải thì quá trình thăng tiến của công chức hoặc yêu cầu cần được giao cho một chức vụ, nhất là chức vụ lãnh đạo, khoảng thời gian cần thiết đối với một chức vụ cần phải được xác định. Những giới hạn về tuổi tác là rất cần thiết vì tuổi tác một phần phản ánh năng lực làm việc, phản ánh khoảng thời gian còn phát huy năng lực, phản ánh tâm lý, nhất là tâm lý về trách nhiệm công vụ, tâm lý về sự đổi mới, cải biến chế độ công vụ, nêu ra những sáng kiến trong quản lý khi mà một công chức đang trong độ tuổi phù hợp. 1.5. Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức 1.5.1.Đối tượng, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức * Đối tượng đăng ký dự tuyển công chức - Viên chức đang làm việc ở các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; - Viên chức đang làm công tác quản lý, lãnh đạo từ cấp phòng trở lên trong các doanh nghiệp Nhà nước; - Cán bộ, công chức cấp xã; - Sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam. GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 13 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp *Điều kiện dự tuyển công chức Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người đăng ký dự tuyển công chức phải đảm bảo các điều kiện sau: - Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam; - Tuổi của người dự tuyển từ đủ 18 tuổi đến 45 tuổi; - Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển; - Đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ, công vụ; - Không trong thời gian bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; - Có thời gian làm việc liên tục tại cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước từ 3 năm (đủ 36 tháng) trở lên; Ngoài các điều kiện nói trên, căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của ngạch tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển. Những người dự tuyển vào công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 thì đăng ký dự tuyển vào công chức dự bị và phải thực hiện chế độ công chức dự bị theo quy định hiện hành trước khi xem xét tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch công chức. 1.5.2.Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức được tiến hành như sau: Bước 1: Thông báo tuyển dụng Sở Nội vụ niêm yết công khai tại trụ sở và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, hồ sơ, thời gian đăng ký dự tuyển để mọi người biết và đăng ký dự tuyển. Thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển phải sau thời gian thông báo ít nhất là 15 ngày; thời gian thi phải sau thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển ít nhất là 15 ngày. Bước 2: Nộp hồ sơ Người dự tuyển nộp hồ sơ tại sở nội vụ, hồ sơ gồm có: + Đơn đăng ký dự tuyển công chức; GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 14 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp + Bản sao sơ yếu lý lịch theo mẫu có xác nhận cả Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó đang công tác học tập; + Bản sao giấy khai sinh; + Bản sao có công chứng (chứng nhận) của cơ quan có thẩm quyền các văn bằng, chứng chỉ và bản kết quả học tập. Người đăng ký dự tuyển cần phải có đủ các văn bằng, chứng chỉ phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển mà không phân biệt loại hình đào tạo, kết quả đào tạo, không phân biệt trường công lập và ngoài công lập; + Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp huyện trở lên cấp trong vòng 6 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ; + Hai ảnh 4 x 6; hai phong bì (có dán tem). Bước 3: Tổ chức sơ tuyển Đối với trường hợp số người đăng ký dự tuyển từ 100 người trở lên và nhiều hơn hai lần chỉ tiêu được tuyển thì căn cứ vào tình hình cụ thể, hội đồng tuyển dụng quyết định tổ chức sơ tuyển để chọn ra số người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự thi tuyển. Số người dự thi tuyển phải nhiều hơn chỉ tiêu được tuyển ít nhất hai lần. Bước 4: Tổ chức thi tuyển Đối với thí sinh đăng ký dự tuyển vào công chức loại A, người dự tuyển phải dự thi đủ các môn thi sau: - Môn hành chính nhà nước bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu tuyển dụng. Hình thức thi: thi viết và thi trắc nghiệm. Thời gian thi viết: 120 phút; thời gian thi trắc nghiệm: 30 phút. - Môn ngoại ngữ: trình độ B (1 trong 5 thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí công tác). Hình thức thi: thi viết và thi nói. Thời gian thi viết: 90 phút; thời gian thi nói: 15 phút. - Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm, nếu thi trắc nghiệm, thời gian thi: 30 phút; nếu thi trên máy, thời gian thi: 60 phút. Đối với các thí sinh đăng ký dự tuyển vào công chức loại B, người dự tuyển phải dự thi đủ các môn thi sau: - Môn hành chính nhà nước bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 15 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp tuyển dụng. Hình thức thi: thi viết và thi trắc nghiệm. Thời gian thi viết: 90 phút; thời gian thi trắc nghiệm: 30 phút. - Môn ngoại ngữ: trình độ A (1 trong 5 thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí công tác). Hình thức thi: thi viết và thi nói. Thời gian thi viết: 90 phút; thời gian thi nói: 15 phút. - Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm, nếu thi trắc nghiệm, thời gian thi: 30 phút; nếu thi trên máy, thời gian thi: 60 phút. Đối với thí sinh đăng ký tuyển dụng vào công chức loại C: Hội đồng tuyển dụng của cơ quan căn cứ vào các văn bằng, chứng chỉ, hình thức, sức khỏe, phẩm chất của người dự tuyển (có thể kết hợp với kiểm tra trực tiếp tay nghề) để quyết định tuyển dụng. Đối với người dự tuyển vào làm việc ở các vùng, địa phương có nhu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số thì có thể thay thế môn ngoại ngữ bằng tiếng dân tộc thiểu số. Yêu cầu trình độ, hình thức thi, thời gian thi do Chủ tịch Hội đồng thi tuyển công chức quyết định. Đối với một số ngành đặc thù hoặc công việc cần thiết sử dụng ngoại ngữ, tin học ở trình độ cao hơn mặt bằng chung như ngoại giao, thương mại, hợp tác quốc tế, phiên dịch, khoa học công nghệ, tin học... thì căn cứ vào yêu cầu cụ thể của công việc, Hội đồng tuyển dụng sẽ quyết định mức độ, nội dung, hình thức, thời gian thi đối với môn ngoại ngữ, tin học. * Cách tính điểm thi - Điểm môn hành chính nhà nước, môn ngoại ngữ được tính trên cơ sở lấy điểm thi viết nhân hệ số 2 cộng với điểm thi trắc nghiệm (hoặc nói), tổng số điểm đem chia cho 3. Các môn thi còn lại tính hệ số 1. - Đối với những ngành đặc thù liên quan đến môn ngoại ngữ hoặc tin học thì môn đó sẽ được tính hệ số 2. Các môn thi còn lại tính hệ số 1. * Cách xác định người trúng tuyển: Người trúng tuyển trong kỳ thi là người phải thi đủ các môn thi, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 50 điểm trở lên và tính từ người có tổng số điểm cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển. Trường hợp nhiều người dự thi có tổng số điểm bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng thì được Hội đồng thi tuyển xem xét chọn người trúng tuyển theo trình tự sau: GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 16 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp + Nếu hội đồng thi tuyển không có điều kiện tổ chức thi tiếp thì người có điểm thi môn hành chính nhà nước cao hơn sẽ được chọn là người trúng tuyển; + Nếu Hội đồng thi tuyển tổ chức thi tiếp để chọn người trúng tuyển là môn hành chính nhà nước. Nếu điểm môn thi tiếp bằng nhau thì Hội đồng thi tuyển sẽ chọn người có trình độ cao hơn là người trúng tuyển. Nếu người dự tuyển có trình độ như nhau thì người nào có kết quả học tập cao hơn và tốt nghiệp chuyên ngành chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với ngạch dự tuyển hơn sẽ là người trúng tuyển. Lưu ý: Kết quả thi tuyển của mỗi kỳ thi chỉ có giá trị đối với kỳ thi đó và không thực hiện bảo lưu kết quả thi. Bước 5: Công bố kết quả Hội đồng tuyển dụng phải niêm yết công khai danh sách trúng tuyển tại Sở Nội vụ và gửi thông báo kết quả trúng tuyển cho người dự tuyển. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo, người trúng tuyển sẽ phải hoàn chỉnh hồ sơ dự tuyển và xuất trình bản gốc các văn bằng, chứng chỉ hoặc các giấy tờ có liên quan tại Sở Nội vụ để kiểm tra. Nếu phát hiện, xác minh thấy văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp hoặc không thuộc diên ưu tiên tuyển dụng như kê khai trong hồ sơ dự tuyển thì kết quả trúng tuyển sẽ bị hủy bỏ. Bước 6: Tuyển dụng Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày công bố kết quả thi tuyển, Sở Nội vụ ra quyết định tuyển dụng người đã trúng tuyển. Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải đến cơ quan nhận việc, trừ trường hợp tuyển dụng có quy định thời hạn khác. Trường hợp người được tuyển dụng có lý do chính đáng mà không thể nhận việc đúng hạn thì phải làm đơn xin gia hạn và được cơ quan sử dụng công chức đồng ý. Thời gian gia hạn không quá 30 ngày. Trường hợp người có quyết định tuyển dụng đến nhận việc chậm quá thời hạn nói trên và không có lý do chính đáng thì Sở Nội vụ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng. 1.6.Chế độ ưu tiên trong thi tuyển, xét tuyển Việc ưu tiên trong tuyển dụng được thực hiện theo Nghị định số 117/2003/NĐ – CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số 09/2007/NĐ – CP ngày 15/01/2007 (sửa đổi, bổ sung Nghị định 117/2003/NĐ – CP) của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước. GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 17 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp 1.6.1. Chế độ ưu tiên trong thi tuyển: - Đối tượng được cộng 30 điểm vào tổng kết quả điểm thi bao gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. - Đối tượng được cộng 20 diểm vào tổng kết quả diểm thi bao gồm: Con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh; Con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động; Người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng. - Đối tượng được cộng 10 diểm vào tổng kết quả diểm thi bao gồm: Những người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng, những người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; Người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; Đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ; cán bộ, công chức cấp xã nếu có thời gian làm việc liên tục tại các cơ quan, tổ chức cấp xã từ 36 tháng trở lên. 1.6.2. Chế độ ưu tiên trong xét tuyển: Những người cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo được xét tuyển theo thứ tự ưu tiên sau đây : + Người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tự nguyện làm việc; + Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; + Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; + Con liệt sĩ; + Con thương binh, con bệnh binh, con của người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động; + Người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; cán bộ, công chức cấp xã đã có thời gian làm việc tại các cơ quan, tổ chức cấp xã từ 36 tháng trở lên. GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 18 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp + Người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên đội trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ. 1.7. Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức dự bị 1.7.1 Điều kiện đăng ký dự tuyển Người đăng ký dự tuyển công chức dự bị phải có đủ tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của ngạch đăng ký dự tuyển và có đủ các điều kiện sau đây : - Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam; - Phẩm chất đạo đức tốt; - Tuổi đời phải từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi; - Có đơn xin dự tuyển và lý lịch rõ ràng; có đủ văn bằng, chứng chỉ theo quy định của ngạch đăng ký dự tuyển; - Có đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ; - Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục. Lưu ý: Căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ, cơ quan tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển. 1.7.2. Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức dự bị Bước 1: Thông báo tuyển dụng Sở Nội vụ niêm yết công khai tại trụ sở và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về điều kiện và tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển, số lượng cần tuyển, nội dung hồ sơ đăng ký dự tuyển, thời gian đăng ký dự tuyển và địa điểm nộp hồ sơ, số điện thoại liên hệ, nội dung thi, thời gian thi, địa điểm thi, lệ phí thi. Việc thông báo thi tuyển công chức dự bị được thực hiện 60 ngày trước ngày thi. Thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển phải sau thời gian thông báo ít nhất là 15 ngày; thời gian thi phải sau thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển ít nhất là 15 ngày. Bước 2: Nộp hồ sơ - Đơn đăng ký dự tuyển công chức dự bị GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 19 SVTH: Trần Thị Thu Uyên Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp - Bản sao sơ yếu lý lịch theo mẫu có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó đang công tác học tập. - Bản sao giấy khai sinh; - Bản sao có công chứng (chứng nhận) của cơ quan có thẩm quyền các văn bằng, chứng chỉ và bản kết quả học tập. Người đăng ký dự tuyển cần phải có đủ các văn bằng, chứng chỉ có trình độ phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển mà không phân biệt loại hình đào tạo, kết quả đào tạo, không phân biệt trường công lập và ngoài công lập. - Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp huyện trở lên cấp trong vòng 6 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ. - 2 ảnh 4x6, 2 phong bì (có dán tem). Bước 3: Tổ chức sơ tuyển Việc sơ tuyển công chức dự bị do Hội đồng sơ tuyển của cơ quan, tổ chức có chỉ tiêu tuyển dụng công chức dự bị thực hiện. Hội đồng sơ tuyển do người đứng đầu cơ quan quyết định thành lập có số lượng từ 3 đến 5 thành viên. Hội đồng này có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ dự tuyển, xem xét để lựa chọn những người dự tuyển đủ tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng; báo cáo và đề nghị người đứng đầu cơ quan quyết định danh sách những người được sơ tuyển. Số lượng được sơ tuyển phải nhiều hơn số chỉ tiêu được tuyển từ 1/3 lần trở lên. Đối với trường hợp số người đăng ký dự tuyển từ 100 người trở lên và nhiều hơn 2 lần chỉ tiêu được tuyển thì căn cứ vào tình hình cụ thể, Hội đồng tuyển dụng quyết định tổ chức sơ tuyển để chọn ra số người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự thi tuyển. Danh sách những người đã được sơ tuyển phải nhiều hơn chỉ tiêu được tuyển ít nhất 2 lần. Bước 4: Tổ chức thi tuyển Đối với các kỳ thi tuyển công chức dự bị để bổ sung cho công chức loại A, người dự tuyển phải thi đủ các môn thi sau: - Môn Hành chính nhà nước: bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu tuyển dụng. Hình thức thi: Thi viết và thi trắc nghiệm. Thời gian thi viết 120 phút, thời gian thi trắc nghiệm 30 phút. GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 20 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Xem thêm -