Từ xưng hô trong ca dao bắc bộ

  • Số trang: 85 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN HOÀNG THỊ BÍCH LIÊN TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO BẮC BỘ Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: BÙI THỊ TÂM Cần Thơ, tháng 4 năm 2011 1 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. 2. Lịch sử vấn đề. 3. Mục đích nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu. CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 1.1 Khái niệm về từ tiếng Việt 1.1.1 Các quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt. 1.1.2 Đặc điểm từ tiếng Việt. 1.1.3 Các loại từ tiếng Việt. 1.1.3.1 Theo Nguyễn Kim Thản. (Các loại từ tiếng Việt gồm: Danh từ, thời vị từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ, phó từ, giới từ, liên từ, hệ từ, trợ từ, thán từ.) 1.1.3.2 Theo Diệp Quang Ban 1.1.3.2.1 Nhóm 1: Danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, vị từ. 1.1.3.2.2 Nhóm 2: Phụ từ, kết từ, tiểu từ. 1.2 Từ xưng hô. 1.2.1 Khái niệm từ xưng hô. 1.2.2 Các loại từ xưng hô trong tiếng Việt. 1.2.2.1 Các đại từ nhân xưng: (Đại từ nhân xưng lớp 1, đại từ nhân xưng lớp 2) 1.2.2.2 Từ xưng hô dùng trong gia tộc. 1.2.2.2.1 Từ xưng hô giữa ông – bà và cháu trong gia đình người Việt. 1.2.2.2.2 Từ xưng hô giữa cha – mẹ với con cái trong gia đình người việt. 1.2.2.2.3 Từ xưng hô giữa vợ - chồng trong gia đình người Việt. 1.2.2.2.4 Từ xưng hô giữa anh – chị - em trong gia đình người Việt. 1.2.2.3 Từ xưng hô trong xã hội. 1.2.2.3.1 Từ xưng hô dùng theo phép lịch sự. 1.2.2.3.2 Từ xưng hô dùng để chỉ chức danh. 1.2.2.4 Từ xưng hô trong tình yêu. 1.2.3 Một số đặc điểm chung trong cách xưng hô của người Bắc Bộ. 2 CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG CÂU CA DAO BẮC BỘ 2.1 Những nét chung của ca dao Bắc Bộ trong kho tàng văn học dân gian. 2.1.1 Những nét chung về ca dao dân tộc. 2.1.1.1 Khái niệm ca dao. 2.1.1.2 Đặc điểm ca dao. 2.1.2 Những nét chung về ca dao Bắc Bộ. 2.2 Khảo sát từ xưng hô trong một số câu ca dao Bắc Bộ. 2.2.1 Từ xưng hô trong gia tộc. 2.2.1.1 Từ xưng hô giữa ông – bà và cháu trong gia đình. 2.2.1.2 Từ xưng hô giữa cha – mẹ với con cái trong gia đình. 2.2.1.3 Từ xưng hô giữa vợ - chồng trong gia đình. 2.2.1.4 Từ xưng hô giữa anh – chị - em trong gia đình. 2.2.2 Từ xưng hô trong quan hệ xã hội. 2.2.2.1 Từ xưng hô trong lao động - sinh hoạt văn hóa – văn nghệ. 2.2.2.2 Từ xưng hô dùng để chỉ chức danh. 2.2.3 Từ xưng hô trong tình yêu. CHƯƠNG 3 MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO BẮC BỘ 3.1 Từ xưng hô thể hiện cảm xúc, tâm trạng. 3.2 Từ xưng hô thể hiện tính cách người nói. 3.3 Từ xưng hô thể hiện nét đẹp văn hóa của người Bắc Bộ. KẾT LUẬN 3 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 4 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong dòng Văn học dân gian Việt Nam, ca dao là một trong những viên ngọc sáng chói và quý giá. Nó là tiếng nói của dân tộc qua bao đời, phản ánh chân thật cuộc sống sinh hoạt của nhân dân, những hiểu biết, nhận xét, của nhân dân trong quá trình đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội, xây dựng quê hương, đất nước. Hiểu được giá trị của ca dao đối với đời sống tinh thần của dân tộc, người viết đã chọn thể loại ca dao. Ngôn ngữ ca dao gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân Việt Nam, là những câu hát của mẹ, những lời ru của bà, những làn điệu dân ca đưa ta vào giấc ngủ những ngày thơ ấu nằm trên nôi, đi sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam khi đã trưởng thành. Từ đó, làm nổi bật lên giá trị văn hóa của từng vùng miền, đất nước. Hệ thống xưng hô của người Việt phong phú, đa dạng nhưng cũng rất phức tạp. Chính vì thế phải xưng và hô thế nào cho đúng, gây thiện cảm với đối tượng giao tiếp chắc hẳn là không phải dễ. Qua tìm hiểu, người viết nhận thấy số lượng bài nghiên cứu về đề tài “Từ xưng hô trong ca dao Bắc Bộ” chưa nhiều và chưa sâu. Chính vì vậy, người viết chọn đề tài “Từ xưng hô trong ca dao Bắc Bộ” bởi người viết hiểu được tầm quan trọng của việc xưng hô trong cuộc sống, cũng như sự yêu thích ca dao đặc biệt là ca dao Băc Bộ. 2. Lịch sử vấn đề Có người nhận định rằng: “Tiếng Việt giàu về từ xưng hô so với các thứ tiếng khác trên thế giới” ( dẫn theo tác giả Hồng Huy trong bài viết Xưng hô trong tiếng Việt trên trang http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/193/honghuy_xungtrong tiengviet.htm . Quả thật, từ xưng hô của người Việt rất đa dạng, phong phú và không kém phần phức tạp. Các nhà nghiên cứu đã tốn rất nhiều công sức và giấy mực để nghiên cứu vấn đề này. Hệ thống từ xưng hô càng được thể hiện một cách rộng rãi hơn, đa dạng hơn và phong phú hơn qua thể loại văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao, với những giọng điệu ngọt ngào, trữ tình, đằm thắm. Dưới đây, người viết xin nêu một số công trình nghiên cứu, những nhận định, đánh giá, các bài viết của các nhà nghiên cứu về vấn đề về Từ xưng hô, và Từ xưng hô trong ca dao. 5 Theo tác giả Lê Thị Lâm, có bài viết đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, đã nêu lên những ưu điểm của từ xưng hô, đồng thời cũng lí giải vì sao nó lại được sự chú ý của nhiều người đến như vậy: “Từ ngữ xưng gọi của tiếng Việt nhận được sự chú ý của các nhà ngôn học như thế, là bởi vì tính đa dạng, tính linh hoạt và giàu sắc thái biểu cảm” [12]. Trong bài viết tác giả còn nhận định: “Tiếng Việt đa dạng các từ ngữ xưng gọi. Từ nhiều góc độ khác nhau các từ ngữ này có thể được chia thành nhiều loại khác nhau” [12]. Dựa vào chức năng của từ xưng gọi, Lê Thị Lâm chia từ xưng gọi ra làm hai loại: “Từ ngữ xưng gọi lâm thời và xưng gọi thực thụ”. Sự phân chia được Lê Thị Lâm cụ thể hơn, chi tiết hơn trong từng loại: “Từ ngữ xưng gọi thực thụ bao gồm các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi, chúng tôi, tớ, chúng tớ, tao, chúng tao, …), đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (bọn, cậu, bọn cậu, mày, bọn mày,…)” và “Từ ngữ xưng gọi lâm thời cũng bao gồm nhiều tiểu loại: các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc (cụ, ông, bà, chú, cô, cháu, em,…) chỉ định (đây, đó, ấy, đằng ấy,…) chức danh, nghề nghiệp (bộ trưởng, thứ trưởng, hiệu trưởng, giáo sư, bác sĩ, nhà thơ,…) Các từ ngữ lâm thời góp phần tăng thêm số lượng cũng như sắc thái biểu cảm của hệ thống từ ngữ xưng gọi”. [ 12]. Theo TS Nguyễn Thị Trung Thành có bài viết “Cần phân biệt từ xưng hô và đại từ xưng hô” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống 3, năm 2007, đã nêu lên: “Khái niệm từ xưng hô có nội hàm rộng hơn khái niệm đại từ xưng hô. Từ xưng hô trong tiếng Việt gồm có các loại sau: đại từ dùng để xưng hô, danh từ chỉ quan hệ họ hàng dùng để xưng hô, danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp. Như vậy, đại từ xưng hô là một bộ phận nằm trong từ xưng hô.” [19;13]. Theo tác giả Trần Thành Mỹ, có bài viết “Phép xưng hô”, tác giả đã đưa ra nhiều ví dụ so sánh giữa từ xưng hô của tiếng Việt và các nước khác, cũng trong bài viết Trần Thành Mỹ còn đưa ra cách so sánh từ xưng hô trong gia đình của các vùng miền trong nước, tiêu biểu là hai miền Bắc và Nam: “Tiếng Việt ta còn thêm vấn đề cữ tên kỵ húy, nhất là miền Nam, chỉ gọi thứ nên cả xóm làng chỉ có “ông hai, bà ba, cô tư…” do đó cũng gây sai lệch, lầm lẫn, khó phân biệt ai có bà con ai không, họ hàng gần xa. Trong gia đình, phẩm trật bên nội ngoại được phân biệt rõ ràng, dù ba miền có vài điểm chênh lệch. Miền Bắc thường gọi chị của ba hay má là “bác”, chồng của cô, dì là “chú, bác”; trong khi miền Nam gọi chị hay em gái của ba đều là “cô”, của mẹ là “dì”, chồng của cô dì là “dượng”. Bên ba có ông bà nội, bác, chú, cô, dượng… 6 bên mẹ có ông bà ngoại, cậu (anh hay em gái của mẹ đều là cậu), mợ, dì, dượng, … nên không được sai xót trong việc xưng hô. Bà con họ hàng, anh chị em ruột, anh chị em họ tức là anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, bàn dì cũng gọi nhau đúng phép, theo thứ bậc, vai vế hoạc theo cách “nói tưng”” [14] Chính sự phức tạp của từ xưng hô mà nhiều người luôn phải trăn trở về vấn đề này. Trên trang http://www.kythu.net/Giao_thiep/Xung-ho-the-nao-cho-dung/30.chtml có bài viết “Xưng hô thế nào cho đúng?” bài viết có đoạn “Nếu có quan hệ họ nội, họ ngoài thì gọi theo quan hệ thân thuộc gắn bó tình thân thiết hơn; mặc dầu ít tuổi hơn mình nhưng ngang hàng cha mẹ thì gọi bằng chú, bác, cô, dì theo đúng vai vế trong họ. Ngược lại, đối với người đã lớn tuổi mặc dầu là bậc cháu nhưng để khỏi “chướng” nên gọi bằng anh, ông, bác ông… Coi như goi thay con cháu mình, như vậy thanh nhã và lịch sự hơn”. [28] Từ xưng hô có phạm vi sử dụng rất rộng, bởi trong quá trình giao tiếp ai ai cũng sử dụng từ xưng hô. Trên trang http://cuocsongviet.com.vn / index.asp?act=detail &mabv=1192&/Ban-ve-cach-xung-ho-trong-gia-dinh.csv có bài viết “Bàn về cách xưng hô trong gia đình”. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra những nhược điểm trong cách xưng hô ở phạm vi gia đình, đồng thời cũng khẳng định một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình là do cách xưng hô: “Cách xưng hô trong một số gia đình hiện nay thường không thống nhất, đôi khi tùy tiện, thiếu chuẩn mực. Điều tưởng như nhỏ ấy lại là một trong những nguyên nhân làm cho quan hệ gia đình trở nên lỏng lẻo, thiếu bền vững. Hậu quả tất yếu xảy ra sau đó là các quan hệ gia đình bị phá vỡ và các hậu quả xấu thì hết sức khó lường” [29]. Tác giả đã khẳng định quan hệ xưng hô là nét đặc trưng trong gia đình Việt Nam truyền thống. “Trong gia đình Việt Nam truyền thống, quan hệ xưng hô là một trong những nét đặc trưng, không kể đó là miền Bắc, miền Trung hay miền Nam, miền xuôi hay miền ngược. Các thế hệ sống chung dưới một mái nhà với các mối quan hệ như: ông bà – cha mẹ; ông bà – cháu; cha mẹ - con cái; anh chị em với nhau… Với cách xưng hô tương ứng đã tạo nên một lối hành xử bất thành văn nhưng được đảm bảo thực hiện bằng bổn phận và trách nhiệm. Đây được xem là “pháp luật” của các gia đình mà ta thường gọi là gia pháp, gia phong hay gia giáo. Truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “trên kính dưới nhường”, “gọi dạ bảo vâng”, qua những cách xưng hô thể hiện tính trật tự, văn hóa và điều đó tạo nên sự bền vững trong cơ cấu gia đình. Đất nước có pháp luật, gia đình có gia 7 pháp, có như vậy mới giữ được nếp nhà, truyền thống đạo lý của dân tộc, ổn định xã hội, đất nước”. [29] Theo Cao Xuân Hạo có bài viết “Mấy vấn đề về văn hóa trong cách xưng hô của người Việt” đã nêu lên: “Ai nấy đều biết rằng tiếng Việt không có một đại từ nhân xưng (hay hồi chỉ) trung hòa. Không phải tiếng Việt không có những đại từ nhân xưng chính danh. Tao, mày, nó, hắn (chúng tao, chúng mày, chúng nó) và họ, có thể coi là những đại từ nhân xưng và hồi chỉ chính danh. Nhưng trừ họ (đại từ hồi chỉ ngôi thứ ba số phức) ra, tất cả các đại từ này đều được cảm thụ nhưng không được lễ độ, và không thể dùng trong khi giao tiếp với người dưng trong khuân khổ xã giao bình thường, và ngay cả họ cũng không phải lúc nào cũng dùng được (chẳng hạn không thể dùng thay thế cho cha mẹ hay người thân tộc ở bậc trên so với người nói)” [6] Cao Xuân Hạo còn cho rằng “Tất cả các từ thường được dùng để xưng hô trong những điều kiện bình thường đều là những danh từ". [6] Trong bài viết Cao Xuân Hạo còn nêu lên những đặc điểm của từ xưng hô trong nhiều mối quan hệ khác nhau, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của từ xưng hô người Việt. Trên trang http://www.danangpt.vnn.vn/vanhoa/detail.php?id=15&a=77 có bài viết “Tổng quan vùng văn hóa Bắc Bộ”, tác giả cho rằng văn học dân gian là một kho tàng quí giá, đồng thời trong bài viết tác giả còn so sánh ngôn ngữ ca dao miền Bắc so với ngôn ngữ ca dao Nam Bộ: “Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một loại vỏ với nhiều loại khoáng sản quí hiếm. Từ thần thoại đến truyền thuyết, từ ca dao đến tục ngữ, từ truyện cười đến truyện Trạng, mỗi thể loại đều có một tầm dày dặn mang nét riêng của Bắc Bộ. Chẳng hạn truyện Trạng ở Bắc Bộ như truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn v.v… sử dụng hình thức các câu đố, câu đối, nói lái, chơi chữ nhiều hơn truyện Trạng các vùng khác. Có những thể loại chỉ ở Bắc Bộ mới tồn tại, kiểu như thần thoại. Ca dao xứ Bắc trau chuốt, tỉa gọt hơn ca dao Nam Bộ”.[30] Theo các tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, có nhiều công trình nghiên cứu về Văn học dân gian. Trong các công trình nghiên cứu đó có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến từ xưng hô trong ca dao. Trong Văn học dân gian II, các tác giả đã khẳng định: “Trong ca dao dân ca trữ tình về tình yêu nam nữ, chúng ta thấy đa số các câu hát bài ca của “chàng trai” và “cô gái” được kết cấu theo lối đối thoại giữa hai nhân vật ấy. Cách xưng hô hay được dùng nhất là “mình, ta”, “anh, em”, “thiếp, 8 chàng” và những hình ảnh tượng trưng: “mận, đào”, “thuyền, bến”, “mây, rồng”, “trúc, mai”, “loan, phượng”…Xét về phương diện một tác phẩm hoàn chỉnh thì trong mỗi bài, hình thức đối thoại chủ yếu là đối thoại một vế.” [8;437] Theo tác giả Đinh Gia Khánh, “Phương pháp xây dựng nhân vật trong ca dao, dân ca trữ tình Việt Nam có xu hướng xây dựng nhân vật không có tính xác định về đặc điểm diện mạo và tính cách. Nhân vật “chàng trai”, “cô gái”, “người lính”, … đều là những nhân vật không tên.” [7;493] Tính khái quát, không xác định, đây cũng là đăc điểm dễ nhận thấy trong ca dao, dân ca. Bởi khi miêu tả một chàng trai, cô gái, thì tác giả dân gian không nêu rõ tên tuổi, quê quán, … của chàng trai, cô gái. Mà đó chỉ là cách miêu tả chung chung của tất cả các chàng trai, cô gái. Như “Khi ca dao dân ca miêu tả một cô gái “mười thương” thì cái đáng yêu đó không phải là của riêng một cô gái A, cô gái B nào mà là cái đáng yêu theo một quan niệm chung của nhân dân lao động, của dân tộc ta về cái đẹp nói chung của người phụ nữ lao động.” [7;493]. Hay khi tác giả dân gian mượn hình ảnh con cò, để nói lên cuộc sống của cả lớp người trong xã hội cũ: “Khi ca dao, dân ca nói về cuộc sống vất vả của “con cò lặn lội bờ ao”, “thân cò lên thác xuống ghềnh” thì đó không phải là vận mệnh riêng của người nông dân lao động nào đó mà là những nét tiêu biểu chung cho cuộc sống của cả lớp người đó trong xã hội cũ …” [7;493] Những nhận định chung được đưa ra, nhằm khái quát lên tính không xác định về nhân vật trong ca dao, dân ca, đồng thời cũng chỉ ra khía cạnh để nhận dạng, đó chính là cách xưng hô của nhân vật: “Tính không xác định về đặc điểm diện mạo, tính cách số phận riêng của nhân vật trong ca dao, dân ca trữ tình cũng bộc lộ ngay một cách rõ ràng khi ta tìm hiểu chỉ một vấn đề thôi, là cách xưng hô của các nhân vật trong ca dao, dân ca” [7;493] Qua lời nhận xét trên, ta có thể biết được mặc dù tác giả dân gian không xác định rõ về nhân vật được đề cập đến trong ca dao, dân ca, nhưng qua cách xưng hô của nhân vật ta có thể nhận biết được đôi nét về nhân vật như: số phân, hoàn cảnh, tình cảm, … Như vậy, cách xưng hô của nhân vật trong ca dao, dân ca là rất quan trọng: “Trong ca dao, dân ca Việt Nam, những cách xưng hô của nhân vật thường không nói lên điều gì về tên tuổi, tiểu sử, hoàn cảnh riêng… của nhân vật. Đặc biệt là cách dùng đại từ phiếm chỉ “ai”. Có lẽ trong hàng loạt các từ xưng hô trong ca dao thì đại từ phiếm chỉ “ai” được dùng nhiều hơn cả” [7;493]. Đưa ra những nhận định trên không phải là không có lí, bởi trong công trình nghiên cứu các tác giả đã đưa ra hàng loạt ví dụ trong ca dao có dùng 9 đại từ phiếm chỉ “ai” như: “Trăm năm ai chớ bỏ ai”, “ai đi muôn dặm non sông, Để ai chất chứa sâu đong vơi đầy”, “nhớ ai em những khóc thầm, Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”, “nhớ ai ra ngẩn vào ngơ, Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai” … Thuộc loại đại từ phiếm chỉ “ai” những tên gọi rất độc đáo trong ngôn ngữ Việt Nam: “đấy” (hoặc đó); “đây” cũng thường được các nhân vật dùng nhiều trong các bài hát: “Đấy với đây chẳng duyên thì nợ”.” [7;494] Từ xưng hô phổ biến và cả từ xưng hô thuộc đại danh từ phiếm chỉ đều được dùng rất nhiều trong ca dao, tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm: “Cùng với những cách xưng hô phổ biến như : “mình, ta”; “thiếp, chàng”; “mận, đào”; “thuyền, bến” vốn đã không có tính xác định, những cách xưng hô dùng đại danh từ phiếm chỉ “ai”, “đấy” … càng nói lên xu hướng xây dựng nhân vật không có tính cách rõ ràng” [7;494]. Theo tác giả Vũ Ngọc Phan “Tục ngữ, ca dao của ta ít nói đến tên người, tên đất, ít nói đến những chuyển biến trong xã hội”. Vũ Ngọc Phan còn cho rằng: “Tục ngữ, ca dao của ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến gia đình, đến lao động và sản xuất” [16;25] 3. Mục đích nghiên cứu Có thể nói ngôn ngữ của người Việt là ngôn ngữ phong phú nhất: nhiều thanh điệu, từ xưng hô vô cùng phong phú, đa dạng … Người viết chọn đề tài Từ xưng hô trong ca dao Bắc Bộ làm đề tài luận văn sau bốn năm học tập trên giảng đường đại học. Bởi qua đề tài này, ta không chỉ thấy được sự phong phú và đa dang của hệ thống từ xưng hô của người Việt nói chung và người dân Bắc Bộ nói riêng. Mà qua quá trình nghiên cứu ta còn biết thêm những phong tục, tập quán, những sinh hoạt đời thường, tình cảm, tính cách của con người và những giá trị văn hóa của vùng đất Bắc Bộ. Người viết chọn đề tài Từ xưng hô trong ca dao Bắc Bộ không chỉ muốn tìm hiểu thêm những nét văn hóa, con người của vùng quê cha đất tổ, mà người viết chưa có dịp về thăm quê, chưa một lần đặt chân đến, mà người viết còn có sự yêu thích những câu ca dao, một giá trị văn hóa tinh thần của nhân loại. Bởi người viết cảm nhận được sự ngọt ngào, những tình cảm sâu lắng của các câu ca dao mà tác giả dân gian đã để lại. Người viết cũng hy vọng rằng, đề tài người viết nghiên cứu, sẽ giới thiệu một phần nhỏ đến mọi người về sự phong phú của hệ thống từ xưng hô, được thể hiện trong ca dao và những giá trị văn hóa của người dân Bắc Bộ. Giúp cho mọi người 10 thêm yêu mến nền văn học dân gian và lưu giữ những nét đẹp truyền thống của thể loại văn học dân gian này. 4. Phạm vi nghiên cứu Với sự phong phú, đa dạng của từ xưng hô, sự đồ sộ của ca dao, chắc hẳn trong phạm vi hiểu biết và nghiên cứu hạn hẹp, người viết không thể nghiên cứu hết được mà chỉ chọn lấy “Từ xưng hô trong ca dao Bắc Bộ” để làm đề tài nghiên cứu, trong hệ thống ca dao ba miền của đất nước. Trong hệ thống ca dao Việt Nam, ca dao Bắc Bộ chiếm một tỉ lệ lớn, bởi nó có lịch sử hình thành lâu đời. Để tiện cho việc nghiên cứu, người viết chọn những câu ca dao Bắc Bộ trong các quyển sau: Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan [17], Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam – Thu Phương [21]. 5. Phương pháp nghiên cứu Trước khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài, ta phải sưu tầm những tài liệu có liên quan đến đề tài ta đã chọn, để mở rộng đề tài, giúp cho việc nghiên cứu được thuận tiện hơn và thuyết phục mọi người hơn khi công trình nghiên cứu đã hoàn thành. Một điều cũng không kém phần quan trọng khi nghiên cứu một đề tài là phải lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp, để bài viết có tính khoa học hơn. Qua quá trình tìm hiểu và lựa chọn, người viết chọn các phương pháp nghiên cứu sau: • Thống kê và phân loại từ xưng hô theo cách gọi cụ thể của từng đối tượng từ đó biết được số lượng chính xác, cụ thể giúp cho việc nhiên cứu mang tính khoa học và thuyết phục hơn • Đối chiếu và so sánh từ xưng hô Bắc Bộ với từ xưng hô Nam bộ, để thấy được những nét tương đồng và dị biệt, từ đó rút ra nét đặc trưng trong cách xưng hô của người Bắc Bộ. Đồng thời cũng đối chiếu so sánh từ xưng hô trong ca dao, dựa trên những kết quả có được để phân tích, chứng minh từ xưng hô trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau sẽ có những từ xưng hô khác nhau. • Cuối cùng, tổng hợp đánh giá lại quá trình làm từ các phương pháp trên, sau đó đưa ra ý kiến riêng của người viết. 11 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 1.1 KHÁI NIỆM VỀ TỪ TIẾNG VIỆT Để trao đổi thông tin, người ta giao tiếp với nhau bằng các câu nói. Về mặt ngữ pháp câu là một kết cấu ngữ pháp do cá nhân người nói tạo ra, có tính cụ thể, chủ quan và có số lượng vô hạn; chúng là kết quả của thao tác chọn lọc và kết hợp các đơn vị có sẵn của ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng. Các đơn vị này gồm các từ và các đơn vị tương đương với từ. Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu. 1.1.1 Các quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một khối viết liền.” [5;168]. Theo tác giả Nguyễn Văn Tu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết, cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo). Cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu” [20;14]. Theo Nguyễn Hữu Chỉnh – Nguyễn Thị Thu Thủy “Từ là đơn vị cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ, là đơn vị có sẵn, có tính hiện thực của ngôn ngữ” [3;192] Theo Nguyễn Thị Thu Thủy “Từ là đơn vị cơ bản, là đơn vị hai mặt – ngữ âm và ngữ nghĩa nhỏ nhất và có khả năng trực tiếp kết hợp với nhau để tạo nên câu nói” [22;87]. Theo Lưu Văn Lăng “Những đơn vị tách biệt nhỏ nhất mới là từ, Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất. Nói cách khác từ là ngữ đoạn ( tĩnh ) nhỏ nhất” [11;213] Theo Lê Văn Lý “Từ trong tiếng Việt … là một tín hiệu ngữ âm có thể cấu tạo bằng một âm vị hay sự kết hợp với âm vị, mà sự phát âm chỉ tiến hành trong một lần, hoặc là một âm tiết mà chữ viết biểu thị bằng một đơn vị tách rời và có một ý nghĩa 12 hiểu được” [dẫn theo Nguyễn Kim Thản – Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt – trang 30]. Theo Hồ Lê “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh liên kết phi hiện thực, hoặc có chức năng liên kết mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và nhất thể về ý nghĩa” [7;104] Theo Đái Xuân Ninh “Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở ngay hàng sau nó tức hình vị và thành lập một khối hoàn chỉnh” [15;24] Theo Phan Khôi “Từ là một lời để tỏ ra một khái niệm trong khi nói” [dẫn theo Nguyễn Kim Thản – Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt – trang 30] Theo Nguyễn Kim Thản “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách rời các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và cấu tạo” [11;31] Dựa vào các quan niệm khác nhau về từ, đã khái quát lên phần nào sự phức tạp của việc nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Do người nghiên cứu đứng ở góc độ đồng đại hay lịch đại, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cương khác nhau, đã dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ khác nhau. 1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt Có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà ngôn ngữ về từ nhưng nhìn chung ta thấy các đặc điểm của từ là: • Từ tiếng Việt có thể đơn âm tiết hoặc đa âm tiết Ví dụ: nhà, áo, đẹp, ba hoa, a xit, mì chính… • Từ tiếng Việt có biến thể ngữ âm nhưng không có biến thể hình thái học. Ví dụ: Người miền Nam khi xưng hô ông thì lại phát âm là ổng, hay người miền Bắc nói mưa rào và dông rải rác thì lại phát âm là: mưa dào và dông dải dác… • Kiểu cấu tạo là một đặc điểm cần chú ý để nhận diện từ. Kiểu cấu tạo nên từ có tham gia vào việc xác định về nghĩa và về ngữ pháp. Ví dụ: Bốn từ: bạn hữu, phấp phỏng, ốc nhồi, bồ hóng thuộc về bốn kiểu cấu tạo khác nhau cho nên chúng cũng khác nhau về kiểu ngữ nghĩa. • Đặc điểm về ngữ nghĩa. Đây là đặc trưng quan trọng nhất để khẳng định tư cách từ của một hình thức ngữ âm nào đấy. Tuy cũng là âm tiết nhưng các âm tiết 13 như: tều, quáo, phượu, tiếng hoặc tổ hợp âm tiết đọc hi cang bây … vì không có nghĩa nên không phải là từ trong tiếng Việt. • Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu, là đơn vị độc lập để tạo câu. Vì độc lập nên từ mới là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu. Đây là đặc điểm phân biệt từ với các đơn vị tuy cũng có nghĩa nhưng không thể độc lập tạo câu. Ví dụ: Vân – Một yếu tố Hán Việt có nghĩa là mây nhưng khi ta nói: “Tôi nhìn mây bay” hay “Trên trời có đám mây xanh”, chứ không ai lại nói: “Tôi nhìn vân bay” hay “Trên trời có đám vân xanh”. Vì vậy, chỉ có mây mới là từ. • Đặc điểm sẵn có của từ. Đây là đặc điểm phân biệt từ với các đơn vị thuộc cấp độ cú pháp. • Đặc điểm cuối cùng cần chú ý là các thuộc tính mà hợp thể của chúng mới cho ta một từ. Khi xác định một hợp thể nào đó có phải là từ hay không, chúng ta phải lần lượt xem xét tất cả các đặc điểm: hình thức ngữ âm, kiểu cấu tạo, đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, khả năng độc lập tạo câu, tính có sẵn, bắt buộc … không thể chứng minh tư cách từ của một hình thức nào đấy nếu chỉ căn cứ vào một và duy nhất một đặc điểm nào đấy của nó. 1.1.3 Các loại từ tiếng Viêt. 1.1.3.1 Theo Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt”. Theo Nguyễn Kim Thản các loại từ trong tiếng Việt gồm: • Danh từ Danh từ là một loại thực từ biểu thị những cái có tính chất sự vật (sinh vật, vật thể, hiện tượng, sự việc trong đời sống thực tại và của tư duy). Đặc trưng ngữ pháp của danh từ: + Không trực tiếp làm vị ngữ + Có thể kết hợp với một trong những loại từ sau đây: Số từ ( một, hai, … ), đại từ chỉ số ( tất cả ), lượng từ (những, các ), phó danh từ ( con, cái, … ), đại từ chỉ định ( nào, kia, ấy, …). Không kết hợp được với phó từ như: Đều, sẽ, rất, không đặt sau các từ: hãy, đừng, chớ, … Các tiểu loại danh từ: Danh từ riêng và danh từ chung. + Danh từ riêng: Mai, Trang, Hà Nội, … 14 + Danh từ chung: danh từ tổng hợp ( danh từ chỉ cá thể, danh từ không chỉ cá thể ): học sinh, giáo viên, nhà báo… • Thời vị từ Thời vị từ là loại từ biểu thị tên gọi của các điểm xác định trong thời gian và không gian, có những đặc điểm ngữ pháp của thể từ, nhưng không có những đặc điểm riêng biệt của danh từ. Thời vị từ có thể một mình làm thành câu. Ví dụ: Bao giờ anh đi? – Mai. Thời vị từ có thể làm vị ngữ với điều kiện có từ “là”. Ví dụ: Ngày nay của miền Bắc là ngày mai của miền Nam. Thời vị từ gồm hai tiểu loại: Những từ chỉ thời điểm và những từ chỉ không điểm ( vị trí không gian ) Những từ chỉ thời điểm: nay, nãy, giờ, hiện tại, … Những từ chỉ không điểm: trên, dưới, trong, ngoài … • Số từ Số từ là từ đứng giữa hai nhóm thể từ và vị từ. Số từ chia thành hai tiểu loại: Số từ chỉ lượng và số từ chỉ số thứ tự + Số từ chỉ lượng: Khi kết hợp với danh từ - đứng trong từ tổ danh từ đặt trước danh từ và phó danh từ. Không có khả năng trực tiếp làm vị ngữ, mà phải có hệ từ là. Ví dụ: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. + Số từ số thứ tự: Trong từ tổ danh từ, bao giờ cũng đặt sau danh từ. Nếu danh từ có định ngữ phức hợp thì nó thường đứng sau tính từ, trước đại từ chỉ định. Có khả năng trực tiếp làm vị ngữ, không cần phải có hệ từ là. Ví dụ: Anh nhì thế thì ai nhất? • Động từ Động từ là loại từ biểu thị quá trình ( sự hoạt động, động tác, hành vi, biến hóa và trạng thái). Động từ có thể tự do, trực tiếp làm vị ngữ của câu, không cần phải có hệ từ là làm mô giới. 15 Động từ không thể kết hợp với những từ kiểm nghiệm của danh từ, nghĩa là không thể đứng sau số từ, lượng từ ( những, các), các phó danh từ và trước các đại từ chỉ định. Ví dụ: đi, đứng, làm, thay đổi, ngồi … Động từ có thể phân loại theo hai mặt: phân loại có tính chất từ pháp, phân loại có tính cú pháp. • Tính từ Tính từ là loại từ chỉ tính chất của sự vật. Tính từ có thể trực tiếp làm vị ngữ, không cần hệ từ là làm mô giới. Tính từ không kết hợp với hãy … ( đi ). Ví dụ: Giỏi, tốt, xanh, đỏ, … Tính từ được chia làm hai tiểu loại nhỏ: + Tính từ tương đối. Ví dụ: Cực kỳ, khá, lắm, rất, … + Tính từ tuyệt đối. Ví dụ: Duy nhất, không, riêng, chung, … • Đại từ Từ loại không gọi tên mà chỉ dùng để trỏ gọi là đại từ. Ví dụ: “Nếp nhà tranh lủn củn nấp dưới rặng tre là ngà, lặng lẽ úp lấy khu đất đê thành và kín đáo náu trong một xóm cuối làng Đông Xá, đứng xa ngó lại, có thể lầm với nơi nhốt lợn hay chứa tro, đó là nhà của Nguyễn Văn Dậu.” (Tắt đèn – Ngô Tất Tố) Đại từ không có định ngữ và bổ ngữ do thực từ đảm nhiệm. Đại từ có thể thay thế cho một từ, một tổ hợp từ thậm chí cả một câu. Ví dụ: Các em nhỏ đang nô đùa ngoài sân. Chúng thật là đáng yêu. Đại từ được chia thành hai tiểu loại: đại từ thể và đại từ vị từ • Phó từ Giữa thực từ và hư từ có một nhóm từ chỉ phục vụ cho một thực từ hay một tổ liên hợp của thực từ đó là phó từ. Phó từ nói chung không thể tự mình lập thành câu. Phó từ chỉ phụ trợ cho vị từ, cho vị ngữ hoặc cho cả câu, chứ không thể làm thành phần chủ yếu của câu ( chủ ngữ, vị ngữ ). Ví dụ: Thưa ông, trưa lắm rồi. 16 Phó từ được chia thành hai tiểu loại: + Tiểu loại thứ nhất gồm những từ chỉ phụ trợ cho vị từ hoặc vị ngữ. Ví dụ: Cũng, sẽ, rồi, còn, nữa, … + Tiểu loại thứ hai gồm những phó từ thường hay phụ trợ cho cả câu.: quả nhiên, có lẽ, bất đắc dĩ, kỳ thực, vị tất, … Ví dụ: Bất đắc dĩ tôi mới đặt chân đến cái nơi này. • Giới từ. Giới từ là một loại hư từ ( trong nhóm quan hệ từ ) có tác dụng nối liền phụ từ ( hoặc từ tổ phụ ) với từ chính ( hoặc từ tổ chính ) biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó. Ví dụ: Người mà tôi đã gặp hôm qua là người miền Nam. Giới từ đứng trước từ phụ hoặc từ tổ phụ. Giới từ chia làm hai tiểu loại: + Giới từ nối liền thành phần phụ với vị từ: của, mà. Ví dụ: Cây viết của tôi để trên bàn. + Giới từ nối liền thành phần phụ với vị từ: để, cho, với, vì, … Ví dụ: Mai với Hoa là hai người bạn thân.. • Liên từ Liên từ là một loại hư từ ( trong nhóm quan hệ từ ) có tác dụng nối liền những từ ( hoặc từ tổ, đoạn câu ) có quan hệ liên hợp hay quan hệ qua lại với nhau. Liên từ được chia làm hai tiểu loại: + Liên từ biểu thị quan hệ liên hợp: cùng, cũng như, và, … Ví dụ: Nam và Mai bằng tuổi nhau. + Liên từ biểu thị quan hệ qua lại: Nếu – thì, tuy nhiên, mặc dầu, song, mà, … Ví dụ: Mặc dầu bài vở nhiều, nhưng Tùng vẫn không nản. • Hệ từ Trong quan hệ tiếng Việt, ngoài giới từ và liên từ ra còn có một số hư từ tách biệt ra khỏi hai loại từ trên. Những từ này không nối liền thành phần phụ với từ trung tâm như giới từ, cũng không nối liền thành phần có quan hệ liên hợp hay quan hệ qua lại với nhau như liên từ. Tác dụng ngữ pháp của chúng là nối liền hai thành phần chủ yếu của câu. 17 Gồm những từ như: là, thì và mà. Ví dụ: Tùng là sinh viên. • Trợ từ Trợ từ là một loại ngữ thái từ phục vụ cho việc tỏ rõ hơi câu ( nghi vấn, mệnh lệnh, cảm thán ) hoặc tỏ thái độ của người nói. Trợ từ được chia làm hai tiểu loại: + Những trợ từ có tác dụng câu: à, nhé, ừ, hả, chăng, … Ví dụ: Bé đi học nhớ ngoan nhé! + Trợ từ phục vụ sự biểu thị thái độ của người nói: ạ, cơ, vậy, mà,… Ví dụ: Thưa ba mẹ con mới đi học về ạ! • Thán từ Thán từ là một loại ngữ thái từ dùng làm tín hiệu của các tình cảm, các sự kích động khác nhau, nhưng không định danh cho các tình cảm và kích động ấy và làm tín hiệu của các lời gọi, đáp. Thán từ làm thành phần đơn lập trong câu. Ví dụ: Ôi! Cháu bà ngoan quá! 1.1.3.2 Theo quan niệm của Diệp Quang Ban Theo Diệp Quang Ban hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm 1.1.3.2.1 Nhóm I • Danh từ Ý nghĩa từ vựng khái quát hóa thành đặc trưng ngữ pháp của danh từ là ý nghĩa thực thể. Danh từ có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ,…Danh từ còn có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ. Danh từ được phân loại: danh từ riêng và danh từ chung. Ví dụ: thư ký, kỹ sư. Trà Vinh., … • Động từ Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình. Động từ thường có các phụ từ đi kèm, để biểu thị ý nghĩa quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và với các đặc trưng vận động của quá trình trong 18 không gian, trong thời gian và trong hiện thực. Động từ còn kết hợp được với thực từ nhằm phản ánh các quan hệ trong nội dung vận động của quá trình. Chức năng phổ biến và quan trọng nhất của động từ là làm vị ngữ trong cấu tạo câu. Động từ được chia thành hai lớp: động từ độc lập và động từ không độc lập. Ví dụ: Đi, nhảy, chạy, đạp, nói, … • Tính từ Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng là tính từ. Tính từ có khả năng kết hợp với thực từ, nhưng không kết hợp được với hãy, đừng, chớ. Tính từ cũng có thể kết hợp với thực từ đi kèm. Chức năng chính của tính từ là làm vị ngữ trong câu nhưng tính từ cũng được dùng kèm với danh từ hoặc động từ để bổ nghĩa cho danh từ hay động từ. Tính từ có thể phân chia thành hai lớp: lớp chỉ đặc trưng không xác định thang độ và lớp chỉ đặc trung có xác định thang độ. Ví dụ: vuông, tròn, đẹp, tốt, … • Số từ Số từ gồm những từ biểu thị ý nghĩa số. Số từ có khả năng kết hợp phổ biến với danh từ để biểu thị số lượng vật được nêu ở danh từ. Số từ có thể đảm nhiệm một số chức năng cú pháp ( làm chủ ngữ, làm vị ngữ ), nhưng bị hạn chế trong những điều kiện nhất định của kết cấu câu trong văn bản. Số từ có thể chia thành hai lớp: số từ xác định và số từ không xác định. Ví dụ: hai, bốn, sáu, rất nhiều, tất cả, … • Đại từ Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ. Đại từ có khả năng hoạt động trên trục đối đoạn. Đại từ không chỉ thay thế cho thực từ (danh từ, động từ, tính từ ), mà còn có thể thay thế cho kết hợp từ ( cụm), câu, đoạn văn. Đại từ có thể đảm nhiệm các chức năng cú pháp của thực từ được thay thế. Đại từ được chia thành hai lớp: đại từ xưng hô và đại từ chỉ định. Ví dụ: tao, chúng nó, mày, bọn họ, … 19 1.1.3.2.2 Nhóm II • Phụ từ Phụ từ bao gồm: định từ và phó từ. + Định từ Định từ là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu lên ở danh từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp từ có trung tâm ngữ nghĩa – ngữ pháp là danh từ. Định từ có tác dụng dạng thức hóa một số ý nghĩa ngữ pháp quan trọng của từ loại danh từ. Có thể phân biệt một số nhóm định từ sau đây: nhóm những, các, một; nhóm mỗi, từng, mọi; nhóm cái, mấy. + Phó từ Phó từ là hư từ thường dùng kèm với thực từ ( động từ, tính từ). Phó từ không có khả năng làm trung tâm ngữ nghĩa – ngữ pháp trong kết hợp thực từ, và rất ít có khả năng làm thành phần chính trong câu. Một số nhóm phó từ thường gặp: Nhóm phó từ chỉ thời gian ( đã, từng, sẽ, sắp, …), nhóm phó từ so sánh và phó từ chỉ tiếp diễn ( cũng, đều, vẫn, cứ, còn, nữa, cùng, .. ), nhóm phó từ sai khiến ( hãy, đừng, chớ ), nhóm phó từ chỉ kết quả (mất, được, ra, đi ), nhóm phó từ chỉ tần số ( thường, năng, ít, hiếm, luôn, luôn luôn, thường thường, … ), phó từ tác động ( cho ). • Kết từ Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ ( và hư từ ) một cách tường minh. Kết từ được dùng để kết các từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp. Kết từ có thể chia thành hai lớp: lớp kết từ chính phụ và lớp kết từ đẳng lập. Ví dụ: Nhà của tôi ở một thị trấn nhỏ. • Tiểu từ Tiểu từ là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh; hoặc biểu thị quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh; Ý nghĩa quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tính tình thái. 20
- Xem thêm -