Tư tưởng triết học trong kinh upanishad

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 40 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 PHẦN MỞ ĐẦU Triết học đã trải qua hàng triệu năm phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Dù triết học phương Tây và phương Đông ra đời gần như cùng thời điểm (khoảng thế từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước công nguyên) nhưng giữa chúng có những điểm khác biệt căn bản. Những điểm khác biệt này bắt nguồn từ những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội...từ sự khác nhau về quan niệm sống, cách sống của nguời phương Đông và phương Tây. Nhìn vào lịch sử phát triển của nền triết học phương Tây và phương Đông ta có thể nhận thấy được sự đối nghịch đó. Triết học phương Tây được xây dựng chủ yếu bởi các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học đặc biệt là khoa học tự nhiên.Các nhà triết học phương tây thiên về giải thích thế giới bằng nhiều cách lý giải khác nhau thể hiện trong tư duy phản biện của họ. Cho nên, vấn đề khởi nguyên đã trở thành vấn đề căn bản trong triết học tự nhiên của họ để trả lời cho “câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?”, “bản tính của thế giới là gì?” cho thấy rõ nổ lực của các triết gia mong muốn vượt qua ảnh hưởng của thế giới quan thần thoại đem đến lời giải đáp nghiêm túc về tất cả những gì đang diễn ra xung quanh và tác động trực tiếp lên đời sống con người”1. Nghiên cứu vấn đề đó họ đã tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể, chúa 1 Triết học Hy Lạp cổ đại, PTS. Đinh Ngọc Thạch, Nxb Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 1999 2 tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ thế giới khách quan. Vì vậy triết học phương Tây mang đậm tính hướng ngoại, đồng thời họ ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc để giải phóng con người. Triết học phương Tây ít nhiều vẫn duy trì theo đúng nguyên nghĩa của triết học trong việc tìm kiếm chân lý bằng lý trí. Tuy nhiên, như đã nói triết học phương Tây ít quan tâm đến vấn đề về con người, vấn đề này chỉ thực sự len lỏi vào triết học phương Tây khi nó được đánh dấu bằng bước ngoặt Socrate. Trong khi đó vấn đề con người trong lịch sử tư tưởng phương Đông đã có một bề dày lâu dài và được khai thác ở nhiều góc độ khác nhau thể hiện quan niệm nhân sinh sâu sắc. Nếu như Hy Lạp, La Mã được xem như là các trung tâm triết học lớn ở phương Tây thì Ai Cập, Babylon thì Trung Hoa, Ấn Độ được ví là thành trì của triết học phương Đông. Khi triết học Trung Hoa ghi dấu ấn bởi các phương pháp, đường lối trị nước khác nhau trong những học thuyết chính trị - xã hội thì triết học Ấn Độ hướng sự quan tâm của mình tới vấn đề giải thoát trong triết lý đạo đức nhân sinh. Đặt nền tảng cho toàn bộ căn nguyên tư tưởng của triết học Ấn Độ thời kì cổ đại đó chính là bộ kinh Upanishad. Để hiểu được những gì tinh túy nhất của triết học Ấn Độ cổ 3 đại mà không nắm được cái thần chứa đựng trong Upanishad thì cũng giống như đi đường mà không có bản đồ vậy! Hội tụ trong Upanishad là cả một dòng tư tưởng sâu sắc và hàm súc nhất, nó vạch ra những tư tưởng mà từ đó bản thân những ai muốn tiếp thu, tìm hiểu về triết học Ấn Độ ở thời kì này đều phải cung kính như nó là tất cả những gì mà chân lý vĩnh hằng đã bao chứa trong đó. Áo nghĩa thư (tên Việt hóa của Upanishad) được xem là nền tảng của toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ, nó không những là thành tựu kì vĩ của riêng người dân Ấn mà hơn thế nó còn là một trong những tinh hoa của minh triết phương Đông, cũng như lớn hơn, nó được xem như một bông hoa rực rỡ nhất giữa đại ngàn núi rừng tư tưởng triết học tâm linh nhân loại. Việt Nam với những điều kiện địa lý, lịch sử được biết đến như là nơi giao lưu, tiếp biến của hai luồng văn hóa Đông – Tây, chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung hoa và Ấn Độ. Trong đó Ấn Độ với tư tưởng triết lý nhân sinh đạo đức, đặc biệt là Phật giáo đã ghi dấu ấn vào nền văn hóa tinh thần của người Việt và trở thành những giá trị văn hóa tinh thần quí báu của nhân dân với đặc trưng xem trọng đời sống tâm linh, truyền thống đạo đức ngàn đời. Với mục tiêu phát triển xã hội Đảng và nhà nước ta khẳng định: kiên định về đường lối chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam xây dựng đất nước ta theo mục tiêu: Dân 4 giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Nhưng nói thế nào đi nữa mục đích chung của toàn thể nhân loại và mỗi quốc gia đều muốn hướng đến cuối cùng là vì sự phát triển của chính đời sống con người, hạnh phúc cho con người. Do vậy, nhân tố con người là nhân tố cần được quan tâm hàng đầu. Như đã đề cập, triết học Ấn Độ nói riêng và triết học phương Đông nói chung nghiên cứu thiên về con người, giải thích các hiện tượng quy về mối quan hệ đạo đức nhân sinh mà đến nay nó vẫn còn mang giá trị thức tỉnh thời đại đầy nhân văn cao cả. Thiết nghĩ nghiên cứu về triết học Ấn Độ là một việc hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực. Trong đó nghiên cứu “Tư tưởng triết học trong Upanishad” sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về triết học Ấn Độ cũng như có cái nhìn sâu sắc về đạo làm người. Chương 1 UPANISHAD VIÊN NGỌC QUÝ CỦA NỀN TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ 1.1. Nguồn gốc của kinh Upanishad Nói đến thánh kinh Veda người ta luôn tôn sùng một cách kính cẩn, những tư tưởng chứa đựng, thể hiện trong đó 5 đầy tinh tế, vi diệu và Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của thánh kinh Veda. Có thể nói nó là đứa con được sản sinh ra từ quá trình phát triển và bình chú kinh Veda mà thành. Do vậy, Upanishad là những lời bình chú tôn giáo về các lẽ thiết yếu, về ý nghĩa của các lễ nghi và ý nghĩa triết lý sâu xa của các bài kinh cũng như các bản thần thoại Veda. “Upanishad xuất hiện vào khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ V trước công nguyên. Đó là thời kì đặc biệt của nhân loại. Thời kì mà Karl Jaspers đã mệnh danh là “thời đại trục” (période axiale) của lịch sử loài người, tức là thời kỳ với sự phát triển của đời sống xã hội và trí óc, như một sự gặp gỡ tất yếu, lần đầu tiên ở Hy Lạp, Trung Hoa và Ấn Độ, con người đồng thời từ bỏ vương quốc của thần thoại, tôn giáo nguyên thủy để tiến bước sang vương quốc của tư duy triết học, chuyển từ việc nghiên cứu giới tự nhiên sang tìm hiểu chính cuộc sống và thế giới nội tâm con người, với những nhà triết học lớn cùng xuất hiện, đặt cột mốc cho bước ngoặt lich sử ấy là Socrate, Platon, Aristote ở Hy Lạp; Khổng Tử, Lão Tử ở Trung Hoa; các tác giả Upanishad và Phật Thích Ca ở Ấn Độ”2. Ở phương Tây, sự xuất hiện của Socrates như là một minh thị cho bước hồi quy mang tính đột phá về tư tưởng mà người ta thường nhắc đến như một dấu son cho nền triết học phương Tây – “bước ngoặt Socrates” chuyển từ triết học 2 Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, 1997, tr.110 – 111. 6 tự nhiên sang triết lý học đạo đức, từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân sinh. Ciceron cho rằng Socrates đã đưa triết học từ trên trời xuống dưới đất. Ở Socrates triết học được quy về đạo đức học duy lý. Sự đột phá về tư tưởng ở chỗ dốc toàn bộ ham muốn nhận thức của con người và đặc biệt là những nhà triết học trong việc hướng đến giải quyết các câu hỏi về bản nguyên, nguyên nhân đầu tiên cũng như nguồn gốc mọi vật trên thế giới, vũ trụ quay trở lại với vấn đề nhân sinh. Với quan điểm trên khía cạnh nhận thức luận Socrates tuyên bố “Con người hãy tự nhận tức chính mình” ông cho rằng con người chỉ có thể nhận biết những gì nằm trong quyền hạn mình, tức linh hồn. Điều đó đã đưa triết học Tây phương trở về lại thực tế, giải quyết vấn đề bản chất nhất cần phải giải quyết, đó là vấn đề con người. Còn ở phương Đông, việc giải quyết các vấn đề của con người từ lâu đã được chú trọng “thì trong các kinh Upanishad đã khai phá một con đường, một cách thức giải thoát mới, dùng trí tuệ để lý giải những vấn đề về nguồn sống của vũ trụ và khám phá bản chất đời sống tinh thần con người, tìm con đường giải thoát cho con người khỏi những nỗi khổ của cuộc đời. Đó chính là sự phản tỉnh của ý thức mà chỉ đến Upanishad mới đạt được” 3. Upanishad là một tập hợp các văn bản Vệ Đà có chứa sự xuất hiện đầu tiên của một số khái niệm tôn giáo trung ương của Ấn Độ giáo , Phật giáo và Kỳ Na Giáo. Họ còn được 3 Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ, Sđd, tr.108 – 109. 7 gọi là Vedanta ("cuối các Veda "). Upanishads được coi là của người Hindu có chứa chân lý mạc khải ( Sruti ) liên quan đến bản chất của thực tại tối hậu ( Bà La Môn ) và mô tả các nhân vật và hình thức của sự cứu rỗi con người ( moksha ). Upanishads được tìm thấy chủ yếu ở phần kết luận của Bà La Môn và Aranyakas .Hơn thế nữa, Upanishad gồm phần lớn là những đoạn kết của kinh Veda và nó cũng lý giải những vấn đề mục đích tối cao của kinh Veda nên còn được gọi là Vedanta (vì theo tiếng Phạn “anta”vừa có nghĩa là “kết cuộc”, “hoàn tất” vừa có nghĩa là “mục đích”.Do đó, Vedanta có nghĩa là phần kết luận của Veda, đồng thời cũng là cái cứu cánh của Veda. Sau này một môn phái triết học duy tâm lấy tên là Vedanta, chính là sự tiếp tục kế thừa tư tưởng chủ yếu của kinh Veda và Upanishad. Upanishad là công trình sáng tác tập thể chứ không do một cá nhân hay môn phái nào mà chủ yếu là xuất phát từ các bài giảng của các đạo sĩ giảng giải về câu chữ trong kinh Veda cho các môn đồ. Cuộc đời các đạo sĩ – tác giả của Upanishad không được ghi chép. Người ta chỉ biết được tên một số đạo sĩ nổi tiếng ghi trong văn bản như Aruni, Yajnavalkya, Uddalaki, Svetaketu, Sandilya, Balaki. Đó là những bậc thấu thị (rishi) hiểu biết sâu rộng đã đắc đạo. Chính vì vậy, lúc đầu các Upanishad chủ yếu là hình thức truyền khẩu về sau các đạo sĩ thu thập các bài giảng lại và in thành sách mang tên Upanishad. 1.2 Ý nghĩa Upanishad 8 Danh từ Upanishad có nghĩa gốc khi mới ra đời là “thị tọa” là “cận tọa” có nghĩa là “những lời cao đẹp của giới quyền quý”. Nhưng về sau, nghĩa Upanishad có nhiều lần thay đổi chuyển sang: Upanishad: là bí mật hội tọa, cùng họp giảng thuyết lẽ cao siêu bí mật. Upanishad: là bí mật ý nghĩa. Upanishad: là bí thuyết, thuyết minh những lẽ bí mật. Upanishad: là bí giáo, giảng dạy những lẽ bí mật. “Và đến lần chuyển nghĩa cuối cùng là: khoa biên chép, ghi chú và giải thích các điều huyền bí về tôn giáo”. 4 “Theo nguyên ngữ, Upanishad có nghĩa là ngồi (Sad) gần (upa) một cách cung kính (ni). Từ ngữ ấy diễn tả thái độ cung kính học tập của các môn sinh quây quần bên cạnh sư phụ để đón nhận lời giảng dạy. Các bậc sư phụ này truyền dạy cho một số môn sinh chọn lọc bằng phương pháp bí truyền, và thường dùng truyền cảm tâm linh hoặc dặn dò thầm kín hơn là những lời biện chứng hùng hồn. Chân lí đem giảng dạy thường tiềm ngụ trong những câu chuyện ngụ ngôn, những thí dụ ám tỉ hay những lời đối thoại với các môn sinh về những vấn đề bí nhiệm hay siêu hình”. 5 4 Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn Độ, Ban Tu Thư Viện Đại học Vạn Hạnh, 1967, tr.70 9 “Chân lí là một cái gì vô ngã (apaurushèya) và vĩnh cửu (nitya). Mặc khải là kết quả của sự hoạt động phối hợp giữa thiền định của con người và ân thiên khải của Thượng đế, tức là của cả hai phương diện khách quan và chủ quan. Shvetâshvatara Upanishad có kể rằng đạo sĩ Shvetâshvatara thấy được chân lí nhờ ở công phu tu trì (tapah-prabhâva) và ơn thiên khải (devaprasâda)”. 6 “Upanishad thuộc vào loại tri thức mặc khải (shruti) và có một nguồn gốc thiêng liêng. Do đó nó không có một khởi điểm thời gian (sanatâna)”.7 Tri thức có trong kinh Upanishad do các đạo sĩ khi quán tưởng, lúc nhập định viết ra. Đó không phải là những khoảnh khắc tri giác thông thường mà chính ở đây các đạo sĩ đã “nhìn thấy một cách hiển nhiên”. Đạo sĩ ở đây là người như thế nào? – “đạo sĩ là những người có một nhãn quan thấu thị “trực tiếp” và những chân lí thực nghiệm được không phải chỉ là những kết luận hoàn toàn chủ quan. Phải có sự truyền thông, phải có cảm ứng của Thực tại khách quan hay Thượng đế thì thực nghiệm mới thành tựu được. Đó là mặc khải. Upanishad đã mô tả sự mặc khải như hơi thở của Thượng đế thổi vào nhân loại. “Đây là hơi thở của Đấng tối cao, đây là Rig-Veda”.8 5 Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ, Bộ xuất bản Giáo Dục Quốc gia, 1965, tr.126 - 127 66,7 Lê Xuân Khoa,Nhập môn triết học Ấn Độ, Bộ xuất bản Giáo Dục Quốc gia, 1965,tr.128 7 8 Lê Xuân Khoa,Sđd-tr.128 10 1.3. Cấu tạo của Upanishad Upanishad gồm tới 200 bài kinh, hiện nay người ta còn giữ được 108 bản kinh. Trong đó, người ta cho 13 kinh đầu là cổ và đặc biệt nhất. Mười ba kinh ấy là: 1. Aitareya Upanishad gốc Rig Veda; 2. Brihad âranyaka Upanishad gốc ở Yajur – Veda; 3. Chhaandogya Upanishad bắt nguồn từ Sâma – Veda; 4. Is′a Upanishad gốc ở Yajur – Veda; 5. Katha Upanishad gốc ở Yajur – Veda; 6. Kena Upanishad gốc ở Sàma – Veda; 7. Mândukya Upanishad gốc ở Atharva – Veda; 8. Mundaka Upanishad gốc ở Atharva – Veda; 9. Pras′ana Upanishad gốc ở Atharva – Veda; 10. Taitiriya Upanishad gốc ở Yajur – Veda; 11. Kaushitaki Upanishad gốc ở Rig – Veda; 12. Maitreyani Upanishad gốc ở Yajur – Veda; 13. S′vetas′vatara Upanishad gốc ở Yajur – Veda. “Trong những kinh nêu trên có hai kinh quan trọng nhất vì nó có nội dung phong phú đề cập đến vấn đề cơ bản nhất của triết học, là kinh Brihad aarranyaka Upanishad và Chândogya Upanishad. Tên của những kinh trên được đặt với những lý do sau: Aitareya Upanishad là do lấy tên của tác giả, đạo sĩ Mahidâs Aitareya. Kinh Brihad âranyaka Upanishad có nghiã là một câu chuyện dài được soạn ra ở trong rừng. Chhândogya Upanishad bắt nguồn từ chữ “chândoga” nghĩa là người hát thánh ca Sâma. Is′a 11 Upanishad bắt nguồn từ chữ “sha” nghĩa là Thượng đế. Kena Upanishad là do chữ “kena” nghĩa là bởi ai. Katha Upanishad là tên của một bản kinh trong Yajur – Veda. Mândukya Upanishad có lẽ là tên của đạo sĩ Mândukya, cũng có thể do chữ “mandukya” (con nhái). Vì sự giác ngộ qua các giai đoạn thiền định được ví như những bước nhảy của con nhái. Mundaka Upanishad do chữ “mun” nghĩa là cạo đầu, đó là tu sĩ khất thực (sannyâsi) người đã thoát khỏi sự mê lầm của thế gian (bằng dao cạo đầu). Riêng bộ Taitiriya Upanishad có một lai lịch lạ lùng nhất: một bữa kia, đạo sĩ Yaajnavalkya giận một đệ tử, bèn đòi y phải trả lại hết những gì ông đã dạy, người học trò bèn mửa ra hết. Một số đệ tử thấy thế làm tiếc bèn biến mình thành những tittiri (con chim đa đa) và ăn hết những lời dạy đã bị mửa ra ấy. Còn kinh Prásana” Upanishad thì gồm có sáu câu hỏi, vì “prásana” có nghĩa là câu hỏi”9. Vì kinh Upanishad xuất phát từ kinh Veda nên có thể trình bày mối quan hệ giữa kết cấu của kinh Veda với kinh Upanishad như sau: Samhita Brahmana Aranyaka Upanishad s Rig- 1. Aitareya 1. Aitareya 1. Aitareya 9 Doãn Chính, Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia – sự thật, Hà Nội 2011, tr.87,88 12 Veda 2. Kaushitaki 2. Kaushita 2. Kaushitak ki 1. Jaiminiya i Sâma – 1. Tangyama Veda da 2. Sadvinsa 3. Jaiminiya ya 2. Kena 1. Sataptha 1. Brihad – Âranyaka 2. Is′a Trắng Yajur 1. Chhâdog – 1. Taitiriya 1. Taitiriya Veda Đen 1. 2. 3. 4. Taitiriya Katha Maitri Svetasvat ara Atharva 1. Gopatha – Veda 1. Pras′na 2. Mundaka 3. Maitrâyan i “Từ khởi xướng nên danh từ đến qua các chặng biến chuyển về ý nghĩa của Upanishad, người ta có thể chia thành ba thời kì: * SƠ KỲ (Trước Phật lịch) Đệ nhất kỳ: Brhadaranyaka, Chandogya Đệ nhị kỳ: Aitareya, Kansitaki, Taittiriya 13 Đệ tam kỳ: Kena, Isa * TRUNG KỲ (Sau Phật lịch) Từ năm 350 đến năm 300 trước Tây kỷ: Kathaka, Mundaka, Prasna Từ năm 300 đến năm 200 trước Tây kỷ: Svetasvatara * HẬU KỲ Từ năm 200 trước Tây kỷ trở lại: Maitrayan Từ năm 1 đến năm 200 sau Tây kỷ: Manduky”10 1.4. Đặc tính của Upanishad Sự xuất hiện của Upanishad đánh dấu bước chuyển từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học, giải thích thế giới bằng bản nguyên, chuyển từ đa nguyên sang nhất nguyên. Được biết đến là tác phẩm triết lý cổ xưa và đặc sắc nhất của nhân loại Upanishad được triết gia Schopenhauer nhận định: “Những tư tưởng thâm thúy, thăng hoa toát ra từ mỗi câu văn và toàn thể pho kinh đều thấm đượm một tinh thần thánh thiện, cao siêu và thành khẩn. Khắp thế giới không có gì lợi ích nâng cao tâm hồn con người bằng các Upanishad. Nó đã an ủi đời sống của tôi khi tôi chết 11”. 10 Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn Độ, Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1967, tr.71 11 Will Durant, Lịch sử văn minh Ấn Độ, Sđd, tr. 75 14 Trong khi các kinh Veda thiên về con đường thờ phụng, sự cầu xin phù hộ và ban phước lành của các đấng thần linh, biểu thị cho sức mạnh của thiên nhiên được nhân hình hóa, hoặc tìm cách thể nhập với dấng tối cao của vũ trụ, thì các kinh Upanishad chú trọng về tri thức tuyệt đối, bản chất đời sống tâm linh và giải thoát. Cả ba đối tượng ấy thực ra chỉ là một, vì Upanishad quan niệm rằng Biết tức là Giải thoát, mà muốn Biết, con người cần phải thực nghiệm tâm linh, tức là sống một cuộc đời thoát tục và thiền định. “Upanishad cổ được so sánh như tác phẩm của Homère mà đồng thời cũng mới như học thuyết của I. Kant.” 12 Bản chất của Thực tại tuyệt đối là một thế lực vô giới hạn không thể định tính đầy đủ được. Chỉ biết thực tại ấy duy nhất và chủ quan, do đó có thể tạm mệnh danh là Ngã. Do ý muốn riêng của mình, Ngã sáng tạo ra Chất và Năng tức là hai Nguyên lý Âm, Dương. Chất và Năng hòa hợp tạo thành muôn loài trong vũ trụ. Kinh Brihad âranyaka Upanishad nói về Ngã và sự sáng tạo như sau: “Lúc khởi thủy, thế giới này chỉ là Ngã mang hình người. Nhìn chung quanh mình, Ngã không thấy có gì khác hơn là mình. Ngã bèn nói lời đầu tiên: “Ta hiện hữu”. Do đó có danh xưng ngôi thứ nhất là Ta…”13. 12 Doãn Chính, Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội – 2011, tr.86 13 Lê Xuân Khoa, Sđd, tr.131 - 132 15 Và từ đó “Upanishad nhấn mạnh vào sự đồng nhất giữa Ngã sáng tạo và vạn vật. Chất và Năng không phải là những thực tại biệt lập, tự sinh tự hữu mà chỉ là những tạo vật của Ngã nguyên thủy, duy nhất. Bởi thế vạn vật cũng chỉ là Danh (nâma) và Sắc (Rùpâ). Mọi ý tưởng phân biệt của con người, óc vị kỷ, lòng ham muốn tài sản và lạc thú, tất cả đều do sự ngu muội ràng buộc của con người với cuộc sống luân hồi và xô đẩy con người xa lìa Thực tại. Thực tại hay Ngã là nguyên do của sáng tạo, là bản chất nội tại của vũ trụ và muôn loài, ở ngoài tất cả mọi giới hạn của thời không và nhân quả, ở trên tất cả mọi tầm nhận thức của trí tuệ. Đó mới chính là Thượng đế. Tất cả các thần linh mà người ta vẫn tôn thờ chỉ là những thể hiện của các thế lực phát xuất nơi Thượng đế duy nhất tối cao” 14. Với tuyên bố: “Người nhận biết được Brahman (tức là giải thoát, đạt đến bất diệt) là người chăm lo hoạt động” 15 Thế nhưng hoạt động được nói đến ở đây chính là “hoạt động vô cầu” chứ không phải là những hoạt động tầm thường mang tính vụ lợi vật chất hay tinh thần. Mấu chốt của “hành động vô cầu” là “làm việc thế gian, dù là làm bổn phận hay hưởng thụ, nếu có tính cách hồn nhiên, không tự tư tự lợi, không quyến luyến đam mê thì đó chính là những hành động vô cầu. Quan niệm ấy diễn tả đúng như tư tưởng 14 Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 133 1515,16 Lê Xuân Khoa, Sđd, tr.137 16 “Vô vi nhi bất vô vi” trong Đạo giáo, hoặc như “Phật pháp bất ly thế gian pháp” trong Phật giáo Thiền tông” 16. Những người đi tìm chân lý có thể được giác ngộ bằng hai con đường khác nhau: con đường tri thức của những người suy tưởng và con đường hành động vô tư của những người hoạt động.Tri thức ở đây tức là tri thức về Brahman (Brahma-vidyâ), Thực tại tuyệt đối. Shvetâshvatara Upanishad nói: “ Những ai biết được Ngài (Brahman) sẽ trỏ thành bất tử. “Chỉ có trực giác là một cảm ứng trực tiếp với Thiêng liêng, thực hiện sự đồng nhất giữa tiểu ngã (âtman) và đại ngã (brahman) mới là cái Biết thật sự, giải thoát con người ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Như thế, cái Biết thực sự này còn khác với những tri thức do trí tuệ tư duy và giác quan ở chỗ không có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể, giữa năng tri và sở tri. Chính óc phân biệt là nguồn gốc của mọi sai lầm, càng ngày càng đẩy con người vào vòng luẩn quẩn của những ý niệm lưỡng nguyên đối đãi” 17 Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG UPANISHAD 2.1. Linh hồn vũ trụ sáng tạo tuyệt đối tối cao như là sự minh định cho huyền học – Brahman. 16 17 Lê Xuân Khoa, Sđd, tr.140 17 Trong các Upanishad đã cho thấy rằng con người không còn say mê, ca tụng và phụ thuộc vào tự nhiên nữa, người Ấn Độ muốn vươn mình vượt ra khỏi sự ảnh hưởng của các vị thần, nhằm tách các vị thần ra khỏi tự nhiên để dùng lý trí của con người để giải thích tự nhiên, nhằm hiểu nó, để khẳng định sức mạnh của con người. Trả lời câu hỏi về bản thân con người, về các giá trị đạo đức và nhân sinh, về bản chất và giá trị của mình bằng tri thức triết học, bằng sự suy lý trí chứ không phải xuất phá từ tôn giáo để từ đó tỉm ra nguyên nhân của nỗi khổ là vì đâu và con đường nào để giải thoát nó. Đây là vấn đề trọng tâm trong các Upanshad. Giải thích về vấn đề này, thì các Upanishad cho rằng về bản chất con người đồng nhất với vũ trụ tối cao, cho nên con người trường tồn vĩnh viễn, bất tận, nhưng do con người có thể xác nhục dục, với những ham muốn đã làm cho con người tách khỏi chân bản tướng của mình, tách khỏi bản thể chân thật, tuyệt đối đó. Người Ấn Độ cho rằng bản thể chân thật tuyệt đối nhân hậu đó chính là thần sáng tạo Brahman và nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho con người nhận biết được bản thể đó và quay về với nó. “Tinh thần vũ trụ tối cao” - Brahman trong Upanishad là lời giải đáp cho câu hỏi “Cái gì là thực tại đầu tiên tối cao duy nhất, là căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽ biết được cả vũ trụ” 18 và có thể giải thoát được linh hồn con người khỏi nỗi khổ của cuộc đời? 18 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội – 2012, tr.62 18 Brahman có nghĩa là cái toàn tri, toàn năng, là nguyên lý cấu tạo nên và chi phối vũ trụ, là nguyên nhân của hết thảy sự sống. Nó là “cái do đó mọi vật sinh ra, cái nhờ đó mọi vật sinh trưởng, cái trong đó mọi vật nhập vào sau khi tiêu tan, cái đó chính là Brahman”19. “Brahman xuất phát từ căn tự “brah” có nghĩa là “vươn lên”20, phát triển, tiến hóa, ý nói đến một thực tại tuyệt đối tối cao vĩnh hằng và bất diệt. Giống như Shankara bảo Brahman là “tinh khiết, hằng cửu”. Madhva lại bảo Brahman là một Đấng toàn thiện. Trong cuốn Mundaka Upanishad viết rằng: Om- Brahman tối cao là vô cùng, và điều kiện gọi là Brahman là vô cùng. Sự vô cùng phát sinh từ cõi vô cùng. Sau đó thông qua kiến thức, nhận ra được sự vô hạn của cõi vô cùng, nó vẫn là cõi vô cùng duy nhất. Trong Rig-Veda, Brahman là lời cầu nguyện linh thiêng, nối tiếp kẻ cầu nguyện với Đấng tối cao. Trong cú nghĩa (brâhmana), Brahman trở thành cái nguyên lý tối sơ và cai quản vũ trụ: “Không có gì lâu đời và rực rỡ hơn Brahman”. Đến Upanishad thì Brahman có nghĩa là trí tuệ thiêng liêng (Veda), là cái nguyên lý sáng tạo của toàn thể vũ trụ và vạn vật. Radhakrishnan giải thích rằng: “Tiếng đó (brahman) gợi cho ta thấy một mối liên hệ căn bản giữa tinh thần khao khát hướng thượng của con người với tinh thần của vũ trụ. Mong muốn thực tại tức là ta đã biết được thực tại một phần 19 The Upanishad, Vol 4, “Chhândogya Upanishad VI”, 2,1Bonanza Books, New York, 1959, p.67 20 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông, Sđd, tr.63 19 nào. Nếu ta không biết gì về thực tại thì tại làm sao ta lại có thể nói là có thực tại mà ta đang mong biết đến? Vậy nếu ta biết có thực tại thì chính là vì thực tại tự biết ở trong ta. Tấm lòng khao khát Thượng đế, cái cảm tưởng rằng mình đang phải sống một kiếp lưu đày, những cái đó làm cho chúng ta thấy có Thượng đế ở trong ta. Mỗi cố gắng tâm linh diễn tả sự tiến triển của một sự hiểu biết nửa chừng đến chỗ sáng tỏ. Thực nghiệm tôn giáo là một bằng chứng thể hiện của thiêng liêng. Trong những giây phút xuất thần, chúng ta có cảm tưởng rằng có thực tại cao cả, lớn lao ở trong ta, mặc dầu ta không thể nào mô tả được…Không thể bảo rằng thực nghiệm tôn giáo là chủ quan. Thượng đế chỉ có thể nhận biết và thực nghiệm được do chính hành động của Ngài. Nếu ta nhận thức được Brahman thì chính là nhờ đó ở sự hoạt động của Brahman ở trong ta. Brahman hay là Đại ngã là thực tại duy nhất, tuyệt đối, tối cao, vĩnh viễn, vô hình, vô danh, vô sắc, là bản chất của tất cả, xâm nhập và bao trùm tất cả, ở ngoài giới hạn không gian và thời gian. Brahman được viết trong kinh Chhândogya Upanishad: “Đầu tiên, nguyên thủy chỉ có một thực tại duy nhất không hai. Cái nguyên thủy, đầu tiên là cái không tồn tại, là duy nhất chỉ duy nhất, không hai, và từ cái không tồn tại đó, tồn tại được sinh ra” 21. Cụ thể “Chhândogya còn miêu tả một cách khó hiểu là “Tajjalàn” – là (tat), mà từ đó thế giới sinh ra (ja), là nơi mà thế giới 21 The Upanishad, Vol 4, “Chhândogya Upanishad VI”, 2,1Bonanza Books, New York, 1959, p.294 20 quay về (la) và nhờ đó mà Brahman được xác nhận và tồn tại”22. Trong Taittiriya, Brahman được định nghĩa là nơi vạn vật sinh ra, nhờ đó mà vạn vật tồn tại và nơi mà vạn vật được hút lại. “Tồn tại chân lý là Brahman tối cao, còn gọi là “Tồn tại vĩnh hằng”, không sinh, không diệt, vừa xuyên suốt lại vừa nằm ngoài giới hạn của thế giới đó (“gọi là ngoài giới hạn bởi vì thao thực chất bí ẩn mà nói nó không bao giờ xuất hiện”23 Brahman được ví như nguồn sáng của mọi ánh sáng và nó có mặt ở khắp mọi nơi, “Brahman là cái ở đằng trước, Brahman là cái ở đằng sau, Brahman là cái ở đằng sau, Brahman là cái ở bên phải, Brahman là cái ở bên trái, Brahman ở chót vót trên caovaf ở tận cùng đáy sâu. Brahman là cái vĩ đại nhất”24. Brahman không có một hình thù nào xác định mà “Brahman không lớn, không nhỏ, không ngắn, không dài, không rực rỡ, không tối tăm, không mùi, không vị, không mắt, không tai, không tiếng nói, không hơ thở, không trong không ngoài, không bị tiêu hủy. Brahman là cái vô hình và không thể nắm bắt, không thể lấy gì tỷ nghĩ và không màu sắc, lại không mắt không tai, không chân nhưng hằng hữu như cái không có chỗ nào 22 Chandradhar Sharma, Ph.D, Triết học Ấn Độ, Dịch Nguyễn Kim Dân, Nxb tổng hợp TP.Hồ Chí Minh – 2004, tr.28 23 M.T.Stepaniants, Triết học phương Đông, Trần Nguyên Việt dịch, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội – 2003, tr.26 2425,26 Doãn Chính, Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Sđd, tr. 94,95
- Xem thêm -