Tư tưởng Triết học chính trị của Jean Jacques Rousseau

  • Số trang: 108 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ ĐAM TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CHÍ NH TRI ̣ CỦA JEAN JACQUES ROUSSEAU LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Hà Nội – 2011 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ ĐAM TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CHÍ NH TRI ̣ CỦA JEAN JACQUES ROUSSEAU LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học Mã số: 60 22 80 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THẢO NGUYÊN Hà Nội – 2011 2 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................... 4 Chƣơng 1 ............................................................................................... ............................................................................................................ 10 NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ CỦA J.J.ROUSSEAU ................ ............................................................................................................ 10 1.1. Điều kiện và tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học chính trị của J.J.Rousseau ..... 10 1.1.1. Tình hình nước Pháp thế kỷ XVIII ..................................................................... 10 1.1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời của triết học chính trị J.J.Rousseau ................... 14 1.2. Qúa trình hình thành và phát triển triết học chính trị J.J.Rousseau .......................... 28 1.2.1. Những nhận thức ban đầ u về xã hội .................................................................. 28 1.2.2. Thời kỳ khẳng định của triết học chính trị J.J.Rousseau ................................... 32 Chƣơng 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ J.J.ROUSSEAU………………………………………………………….43 2.1. Quan niệm về Tự do , bình đẳng – quyền con người trong triết học chính trị của J.J.Rousseau ..................................................................................................................... 45 2.1.1. Về luật tự nhiên và quyền tự nhiên .................................................................... 45 2.1.2. Tự do, bình đẳng trong xã hội dân sự ................................................................ 49 2.1.3. Nguồn gốc của bất bình đẳng và giải pháp khắ c phục ...................................... 53 2.2. Quan niệm về thể chế chính trị ................................................................................. 63 2.2.1. Quan niệm về thống nhất quyền lực nhà nước và những ý tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân ................................................................................................ 63 2.2.2 Triết lý kiến tạo mẫu người công dân tự do cho xã hội dân chủ lý tưởng trong “Émily hay là về giáo dục” ......................................................................................... 79 2.3. Giá trị của tư tưởng triết học chính trị J .J.Rousseau và khả năng vâ ̣n du ̣ng ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay ................................................................................................................... 88 KẾT LUẬN………………………………………………………………98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………..103 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Jean Jacques Rousseau là đa ̣i biể u cấ p tiế n thuô ̣c thế hê ̣ thứ hai của Phong trào Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII. Ông đươ ̣c biế t đế n không chỉ là nhà triế t ho ̣c mà còn là nhà văn , nhà chính trị học , nhà giáo dục học lỗi lạc . Sự phân tích triế t ho ̣c những vấ n đề chính tri ̣chiế m phầ n lớn trong di sản tinh thầ n mà ông để la ̣i cho hâ ̣u thế . Với tư cách là nhà triết học, nhà chính trị học, J.J.Rousseau có những tư tưởng, những quan niệm độc đáo , sâu sắ c về dân chủ, về tự do, bình đẳng; về nguồn gốc, bản chất của nhà nước, pháp luật; về quyền lực tối thượng thuộc về nhân dân; những ý tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân, cũng như tư tưởng về xây dựng mẫu người công dân lý tưởng … những tư tưởng đó không chỉ góp phần làm nên thắng lợi của Đại Cách mạng Pháp 1789, mà còn ảnh hưởng tới nhiều cuộc cách mạng và nhiều nhà tư tưởng lớn trên thế giới, trong đó có C.Marx, F.Engels, V.I.Lenin. Tư tưởng của ông về tự do , bình đẳ ng đã trở thành mô ̣t nô ̣i dung cơ bản của Tuyên ngôn nhân quyề n và dân quyề n Pháp năm 1791. Ngày nay những tư tưởng chính trị của ông vẫn còn nguyên giá tri.̣ Ở Việt Nam, từ những năm đầ u của thế kỷ XX, tư tưởng của J.J.Rousseau, mà đặc biệt là tư tưởng triết học chính trị của ông trong các Tân văn, Tân thư cũng như các tư liê ̣u sách báo du các nhà yêu nước Việt Nam tiếp nhận nhâ ̣p vào Viê ̣t Nam đã đươ ̣c và kế thừa . Sau thắ ng lơ ̣ i của Cách mạng tháng T ám, dưới sự lañ h đa ̣o của Đảng cô ̣ng sản Viê ̣t Nam và Chủ tich ̣ Hồ Chí Minh, nhân dân Viê ̣t Nam bắ t đầ u xây dựng nước Viê ̣t Nam dân chủ cô ̣ng hòa, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân đầ u tiên ở Đông Nam Á . Dù không trực tiế p khẳ ng đinh ̣ khái niê ̣m , song tư tưởng tự do , bình đẳng, dân 4 chủ và tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyề n xã hội chủ ng hĩa của dân, do dân và vì dân đã đươ ̣c khẳ ng đinh ̣ trong “ Tuyên ngôn độc lập” năm 1945 và trong bản Hiế n Pháp năm1946. Bước vào thời kỳ đổi mới , tại Đa ̣i hô ̣i VII Đảng ta khẳ ng đinh: ̣ “tiế p tục cải cách bộ máy nhà nước theo ph ương hướng: nhà nước thực sự của dân , do dân và vì dân . Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật , dưới sự lañ h đa ̣o của Đảng”. Đế n Đa ̣i hô ̣i VIII , khái niệm “nhà nước pháp quyền” chính thức đươ ̣c đưa ra trong văn kiê ̣n Đa ̣i hô ̣i Đảng. Sau Đa ̣i hô ̣i IX , quan điể m nhà nước pháp quyề n chính thức đươ ̣c thể chế hóa ta ̣i điề u 2 của Hiến pháp 1992 (sửa đổ i , bổ sung năm 2001): “nhà nước cô ̣ng hòa xã hội chủ nghiã Viê ̣t Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩ a của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tấ t cả quyề n lực nhà nước thuô ̣c về nhân dân… quyề n lực nhà nước là thố ng nhấ t , có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong viê ̣c thực hiê ̣n quyề n lâ ̣p pháp , hành pháp và tư pháp”. Đa ̣i hô ̣i X mô ̣t lầ n nữa khẳ ng đinh: ̣ “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa . Cầ n xây dựng cơ chế vâ ̣n hành của nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đề u thuô ̣c về nhân dân . Quyề n lực nhà nước là thố ng nhấ t , có sự phân công, phố i hơ ̣p giữa các cơ quan trong viê ̣c thực hiê ̣n quyề n lâ ̣p pháp , hành pháp và tư pháp”[16, 45]. Trên tinh thầ n đó, Đa ̣i hô ̣i XI vừa qua tiế p tu ̣c khẳ ng đinh ̣ đẩ y ma ̣nh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViê ̣t Nam. Tư tưởng về “Nhà nước pháp quyề n” là sự tiế p nố i tinh hoa t ư tưởng của các thời đại. Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chúng ta cầ n nghiên cứu triế t ho ̣c Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những tư tưởng cận hiê ̣n đa ̣i và đương đa ̣i khác, trong đó tư tưởng triế t ho ̣c chiń h tri ̣của J.J.Rousseau chiế m mô ̣t vi ̣trí quan tro ̣ng . Chính vì lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Tư tưởng Triết học chính trị của Jean Jacques Rousseau” làm đề tài luận văn tha ̣c si ̃ của mình. 5 2. Tình hình nghiên cứu Ở nước ta, việc nghiên cứu về triết học của J.J.Rouseau nói chung và tư tưởng triết học chính trị của ông nói riêng còn khá ít do nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau. Tư tưởng của J.J.Rousseau chủ yếu được nghiên cứu từ góc độ văn học, lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng chính trị. Từ góc độ văn học , có cuốn “Giăng Giắc Rút xô” của tác giả Phùng Văn Tửu được xuất bản năm 1978. Tiế p đế n là cuốn “Văn học phương Tây thế kỷ XVIII” của tác giả Phùng văn Tửu và Đỗ Ngoạn ra mắt độc giả năm 1983. Đã khái quát cuộc đời sự nghiệp của J.J.Rousseau cũng như những tư tưởng cơ bản của ông. Từ góc độ lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng chính trị , nghiên cứu về tư tưởng của J.J.Rousseau có cuốn “Lịch sử triết học” do GS. Nguyễn Hữu Vui chủ biên, công trình này đã giới thiệu một cách khái quát về thân thế, sự nghiệp của J.J.Rousseau, phân tích thế giới quan của ông trong các vấn đề xã hội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã cho tái bản năm 1998; công trình “106 Nhà thông thái” do P.S.Taranốp biên sọan (Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính), đã trình bày một cách vắn tắt về cuộc đời, sự nghiệp và học thuyết chính trị của J.J.Rousseau; cuốn “Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới”, là công trình do nhiều học giả nổi tiếng của Liên Bang Nga biên soạn đã được đông đảo độc giả trong và ngoài nước đánh giá cao được dịch giả Lưu Kiếm Thanh và Phạm Hồng Thái dịch sang tiếng Việt đây là cuốn sách đã giới thiệu khái quát lịch sử và nội dung cơ bản nhất các học thuyết chính trị của nhân loại từ cổ đại đến hiện đại, trong đó tư tưởng chính trị của J.J.Rousseau cũng đã được nêu lên một cách khái quát. Cùng với hướng nghiên cứu trên, những tác phẩm tiêu biểu của J.J.Rousseau đã được dịch ra tiếng Việt được đông đảo độc giả Việt Nam đón nhận như tiểu thuyết “Juyli” của J.J.Rousseau do Hướng Minh dịch ra tiếng 6 việt đã ra mắt độc giả năm 1982. Tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”, đươ ̣c coi là tác phẩ m quan tro ̣ng nhấ t của nhà tư tưởng kh ai sáng J .J.Rousseau, có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình cách mạng dân chủ tư sản Pháp thế kỷ XVIII, những tư tưởng của tác phẩ m còn có ý nghiã to lớn và sức ảnh hưởng cho đế n tâ ̣n ngày nay. Tác phẩm do Hoàng Thanh Đạm dịch và giới thiệu tóm tắt nội dung cơ bản cũng như những nhâ ̣n xét đánh giá của ông về tác phẩm, được nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh xuất bản lần đầu năm 1992. Gần đây nhất là tác phẩm “Emile hay là về giáo dục” do Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch và nhà xuất bản Tri thức phát hành (tháng 6/2008), nhà văn Bùi Nam Sơn cũng đã viết bài giới thiệu về tác phẩm này. Cùng với những tác phẩm của J.J.Rousseau được dịch ra tiếng Việt thì trong tác phẩm “Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” (năm 2006), Tiến sĩ Lê Tuấn Huy cũng đã đưa ra những nhận xét, so sánh triết học chính trị của J.J.Rousseau với triết học chính trị của Montesquieu và những nhận định về vị trí, vai trò triết học chính trị của hai ông trong dòng chảy của triết học chính trị nhân loại nói riêng và cách mạng thế giới nói chung. Tác giả Phạm Thế Lực đã phân tích nội dung cơ bản của tác phẩm “Khế ước xã hội” trong bài viết “Tư tưởng chủ quyền nhân dân trong tác phẩm Khế ước xã hội của J.J.Rousseau” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội (số 8/2007)… Mặc dù khó có thể phân biệt một cách rõ ràng về các cách tiếp cận, có thể nói các nghiên cứu này xem xét chủ yếu từ góc độ khoa học chính trị- pháp lý, và triết học xã hội. Trong đó đã trình bày tư tưởng của ông về các hình thức tổ chức nhà nước. Nhiều tác phẩm chỉ đề cập đến các kết luận lý thuyết của ông một cách gián tiếp. Việc nghiên cứu sâu hơn các xuất phát điểm cũng như lập luận căn bản của ông về bản chất chính trị trong mỗi cá nhân, cũng như thể chế lý tưởng phù hợp với bản chất đó vẫn còn ít được đề cập. 7 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên, ở những phương diện khác nhau, đều có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu trào lưu tư tưởng Khai sáng nói chung và triết học chính trị nói riêng. Dựa trên những nguồn tài liệu của lịch sử triết học, kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố, chúng tôi cố gắng nghiên cứu để trình bày có hệ thống tư tưởng triết học chính trị của J.J.Rousseau trong luâ ̣n văn này. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn * Mục đích của đề tài nghiên cứu: Luận văn làm rõ mô ̣t số nội dung cơ bản của triết học chính trị của J.J.Rousseau từ đó phân tích những mặt tích cực và hạn chế cũng như vai trò và ảnh hưởng của nó. * Các nhiệm vụ nhằm thực hiện mục đích trên là: 1. Phân tích những điều kiện kinh tế- xã hội và các tư tưởng có ảnh hưởng đến triết học chính trị của J.J.Rousseau. 2. Phân tích những tư tưởng triết học chính trị của J.J.Rousseau như quan niê ̣m về tự do, bình đẳng, về nhà nước pháp quyền… 3. Đưa ra một số nhận định, đánh giá về những giá trị tư tưởng của J.J.Rousseau cùng những khả năng vận dụng trong viê ̣c xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiê ̣n nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Nghiên cứu triế t ho ̣c chiń h tri ̣của J.J.Rousseau trong các tác phẩ m của ông đã đươ ̣c dịch ra tiếng Việt như tác phẩm “Juyli”, “Bàn về khế ước xã hội”, “Émile hay là về giáo dục” cùng những tư tưởng của ông đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khác có liên quan, gắn với thực tiễn Việt Nam. 8 5. Cơ sở lý luận và Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn * Cơ sở lý luận Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, bằng việc xem xét sự vật trong tính lịch sử-cụ thể, trong tính hệ thống với cấu trúc nhiều thành tố, cùng những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng. * Phương pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích- tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, đặc biệt là phương pháp logic- lịch sử 6. Cái mới của luận văn Luận văn góp phần khái quát những nội dung cơ bản của triết học chính trị J.J.Rousseau. Từ đó luận văn đánh giá và nêu ra những giá trị của triết học chính trị của J.J.Rousseau đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Những kết quả đạt được trong luận văn là bổ sung cho quá trình nghiên cứu triết học chính trị và các ngành khoa học khác trong phạm vi có liên quan. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục. Luận văn chia làm 2 chương và 5 tiết. 9 Chƣơng 1 NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ CỦA J.J.ROUSSEAU 1.1. Điều kiện và tiền đề cho sự ra đời tƣ tƣởng triết học chính trị của J.J.Rousseau 1.1.1. Tình hình nước Pháp thế kỷ XVIII Tư tưởng triế t ho ̣c của Jean Jacques Rousseau ra đời ở Châu Âu thế kỷ XVIII, là sự phản ánh hiện thực xã hội Châu Âu trong thời đa ̣i của các cuô ̣c cách mạng tư sản nhằ m xác lập phương thức sản xuấ t tư bản chủ nghĩa . Những mầ m mố ng của phương thức sản xuấ t tư bản chủ nghiã đã hình thành ngay trong lòng xã hội Phong kiến. Với sự phát triể n ma ̣nh mẽ của lực lươ ̣ng sản xuất mà biểu hi ện trước hết là ở việc sử dụng kỹ thuật in và máy in, tiếp sau đó là nghề dệt, luyện kim bùng nổ, công nghệ cũng theo đó mà phát triển. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự xác lập quan hê ̣ sản xuất mới – quan hê ̣ sản xuất tư bản chủ nghĩa . Bên ca ̣nh đó , sự giao lưu kinh tế giữa các nước đã hình thành các trung tâm kinh tế thương ma ̣i , sự mở rô ̣ng giao lưu trao đổ i hàng hóa, góp phần phá vỡ các quan hệ phong kiến chật hẹp, biể u hiê ̣n của nề n kinh tế tự cung tự cấ p . Từ sự giao lưu về kinh tế kéo theo sự giao lưu về văn hóa tư tưởng giữa các nước cũng ngày càng ma ̣nh mẽ . Hơn nữa, những phát hiện địa lý đã đem lại một không gian thương mại mới cho các nước Châu Âu trên phạm vi toàn thế giới, khiến cho sự thông thương được tăng cường, tạo điều kiện phát triển hơn nữa nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa. Từ thế kỷ XV , XVI và XVII , khi chủ nghiã tư bản đã đi từ những giai đoa ̣n tić h lũy nguyên thủy đầ u tiên đế n sự dầ n dầ n hiǹ h thành và bước hẳ n lên vũ đài lịch sử với Hà Lan (1579) và nước Anh (1642- 1688), thì đến thế kỷ 10 XVIII, trung tâm những cuô ̣c đấ u tranh của giai cấ p tư sản chố ng la ̣i những giai cấ p và tầ ng lớp đă ̣c quyề n đă ̣c lơ ̣i đã chuyể n sang nước Pháp . Đây chính là thời kỳ mà Engels đã nhắ c tới, thời kỳ “nước Pháp đã đâ ̣p tan chế đô ̣ phong kiế n và thiế t lâ ̣p nề n thố ng tri ̣thuầ n túy của giai cấ p tư sản dưới mô ̣t da ̣ng cổ điể n mà không mô ̣t nước nào ở châu Âu đa ̣t đươ ̣c” [32, 384]. Về kinh tế, bước vào thế kỷ XVIII , nước Pháp là nước phát triể n thứ hai ở châu Âu, chỉ sau nước Anh, nhưng vẫn là nước nông nghiê ̣p với hơn 90% dân số là nông dân . Hơn nữa , Pháp lại là nước có nền nông nghiệp lạc hậu hơn nhiề u so với nước Anh . Trong khi, Hà Lan và Anh đang vững bước trên con đường phát triể n tư bản chủ nghĩa với tư tưởng của giai cấp tư sản đã trở thành tư tưởng thống trị thì nước Pháp vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu dưới sự cai tri ̣của các triề u đa ̣i quân chủ chuyên chế . Về mặt chính trị , kể từ khi vua Louis XI á p du ̣ng những biê ̣n pháp để tâ ̣p trung quyề n lực , thố ng nhấ t quố c gia, nước Pháp phải chiụ tấ t cả những quyề n hành độc đoán , chuyên chế . Nế u như trong thế kỷ XIV , XV và XVI , ở Pháp tồ n ta ̣i mô ̣t loa ̣i nghi ̣viê ̣n go ̣i là Estates General, bao gồ m các đa ̣i biể u của giới tăng lữ, quý tộc và thường dân, thì dưới triều Louis XV (1710- 1774), nhà vua đã nắ m tro ̣n cả quyề n ban hành luâ ̣t pháp và quyề n hành xử tố i cao , hoàn toàn đứng trên pháp luật . Khi đó người Pháp cai tri ̣quố c gia miǹ h bằ ng mô ̣t bô ̣ máy quan liêu càng ngày càng phiǹ h to do sự mua quan bán chức vố n đươ ̣c thừa nhâ ̣n từ thời vua Louis XI . Dù đã thống nhất từ lâu , nước Pháp trước 1789 vẫn tồ n ta ̣i những pha ̣m vi t ài phán riêng biệt của 13 pháp viện tối cao ở mỗi vùng tương ứng . Lại còn tồn tại thêm một hệ thống đốc quan , đươ ̣c nhà vua sử du ̣ng như mô ̣t công cu ̣ kim ̀ chế sức ma ̣nh của giới qu ý tộc và áp bức người dân [ xem 26]. Về phương diê ̣n xã hội , nước Pháp thế kỷ XVIII chia thành ba đẳ ng cấ p phi lý và bảo thủ : Đẳng cấp thứ nhất , bao gồ m tăng lữ và giáo hô ̣i Cơ đố c có 11 thế lực rấ t lớn về chin ́ h tri,̣ nắ m trong tay 20% ruô ̣ng đấ t và là chỗ dựa của chế đô ̣ phong kiế n . Đẳng cấp thứ hai, quý tộc chỉ gồm chừng hai mươi vạn người , nhưng la ̣i chiế m khoảng 30% đấ t đai canh tác của cả nước . Hai đẳ ng cấ p này nắ m phầ n lớn tư liê ̣u sản xuấ t chủ yế u trong xã hội, họ càng ngày càng trở nên thố i nát , lười biế ng, ăn chơi, số ng nhờ bổ ng lô ̣c triề u đình và bóc lô ̣t tô tức . Đẳng cấp thứ ba , bao gồ m các tầ ng lớp xã hô ̣i còn la ̣i như tư sản , thơ ̣ thủ công, nông dân, dân nghèo thành thi ̣, trí thức…là đẳng cấp chiế m đa số trong xã hội, nhưng la ̣i không có bấ t kỳ mô ̣t điạ vi ̣chính tri ̣ - xã hội nào , họ bị hai đẳ ng cấ p trên bóc lô ̣t về kinh tế và áp bức về chính tri ̣ , trong số đó , tình cảnh của người nông dân là bi đát nhất. Chính sự phi lý và bảo thủ đó , dẫn đế n mâu thuẫn xã hội ngày càng diễn ra gay gắ t giữa mô ̣t bên là đẳ ng cấ p thứ nhấ t cấ u kế t với đẳ ng cấ p thứ hai và mô ̣t bên là đẳ ng cấ p thứ ba - là đẳng cấp chiếm đa số trong xã hội nhưng có rấ t it́ tư liê ̣u sản xuấ t . Vì thế trong giai đoạn lịch sử này đẳng cấp bị áp bức không ngừng đấu tranh để tự giải phóng. Suố t trong thế kỷ XVIII , nước Pháp bi ̣suy yế u vì những cuô ̣c chiế n tranh xảy ra liên miên như chiến tr anh với Anh vì tranh chấ p thuô ̣c điạ và ưu quyề n trên mă ̣t biể n , chiế n tranh giành quyề n thừa kế ở Tây Ban Nha (1701-1714), ở Ba Lan (1733-1735), ở Áo (1740-1748). Do đó , tài chính kiệt quệ . Hơn nữa vua và triề u đin ̀ h la ̣i ăn chơi ph ung phí , để có tiền ăn chơi , triề u điǹ h đã tổ chức mua quan bán tước và đánh thuế rấ t nă ̣ng . Bao nhiêu nỗi khổ cực đều trút lên đầu nhân dân lao động . Như vâ ̣y, ngoài hai tầng áp bức trên , đẳ ng cấ p thứ ba còn trực tiế p là na ̣ n nhân của chiń h thể quân chủ mu ̣c nát . Vì lẽ đó , mâu thuẫn nổ ra gay gắ t giữa mô ̣t bên là đẳ ng cấ p quý tô ̣c câu kế t với đẳ ng cấ p tăng lữ cố duy trì trâ ̣t tự hiê ̣n hành và mô ̣t bên là đẳ ng cấ p thứ ba hướng tới cách ma ̣ng. Giai cấ p tư sản Pháp thế kỷ XVIII, lực lươ ̣ng dẫn đầ u đẳ ng cấ p thứ ba, hùng mạnh hơn giai cấp tư sản Đức , lại chưa bộc lộ nhiều khía cạnh xấ u xa thuô ̣c bản chấ t của giai cấ p tư sản như tư sản Anh trong cùng thời đa ̣i . 12 Do đó, tính chiến đấu của giai cấp tư sản Pháp thời kỳ này mang tính chất trọn vẹn hơn cả. Đây là giai đoa ̣n lich ̣ sử trong đó quyề n lơ ̣i của giai cấ p tư sản còn thố ng nhấ t với quyề n lơ ̣i của toàn đẳ ng cấ p thứ ba . Chính trong hoàn cảnh ấ y , tiế ng nói của những người đa ̣i diê ̣n chân chính giai cấ p tư sản không chỉ phát ngôn cho riêng giai cấ p mình mà còn nói lên tâm tư, nguyê ̣n vo ̣ng của toàn thể nhân dân bi ̣áp bức [ xem 63, 115-116]. Về khoa học và Tôn giá o, thời kỳ này khoa học tự nhiên đã có bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là vật lý học. Những nguyên tắc vật lý của Newton, những định luật toán học của D‟Alembert, những công trình nghiên cứu vật lý học của Buffon, cũng như việc người ta đem áp dụng những thành tựu đó vào sản xuất và đời sống thu được những thành tựu khả quan đã làm thay đổi những quan niệm đương thời. Người ta đã bắt đầu nhận thấy rằng, sự sáng tạo bắt nguồn từ kinh nghiệm và lý trí chứ không phải xuất phát từ chúa trời. Những vấn đề khoa học ngày càng được công chúng yêu thích nghiên cứu. Sự phát triển của khoa học thời kỳ này có tác dụng tích cực trong tiến trình vận động của xã hội. Còn Tôn giáo , từng đươ ̣c xem là sức mạnh tinh thần của x ã hội Pháp truyề n thố ng. Thì đến thời vua Louis XIV , nhà vua muốn trong nước chỉ có một tôn giáo duy nhất, Thiên chúa giáo cổ truyền, nên ông đã truất quyền tồn tại của đạo Tin lành. Vì thế, những người không chịu từ bỏ tôn giáo của mình đành phải xuất ngoại, còn những người buộc phải ở lại thì trở thành những kẻ bất mãn, căm thù nhà vua. Sự phát triển của khoa học tự nhiên là một trong những nguyên nhân dẫn đế n thái độ hoài nghi đối với tôn giáo của người dân . Các lực lượng tiến bộ xã hội cũng đã bày tỏ thái độ phán kháng đối với Nhà thờ - thành lũy tinh thần của chế độ Phong kiến. Nếu nhà vua độc tài nhìn thấy ở nhà thờ một sức mạnh to lớn để cũng cố quyền lực , thì ngược lại, các nhà tư tưởng Khai sáng xem nhà thờ như một nền chuyên chế tinh thần . Chẳ ng ha ̣n, 13 Holbach (1723-1789), trong quyể n “Cơ đố c giáo bi ̣ kế t án” đã viế t : Tôn giáo đó là nghê ̣ thuâ ̣t làm đầ n đô ̣n con người với mu ̣c đích đánh la ̣c hướng suy nghi ̃ của họ khỏi tội ác mà những kẻ cầm quyền gây ra cho họ … Vì thế, xung đô ̣t giữa hai đẳ ng cấ p trên và “đẳ ng cấ p thứ ba” ngày càng gay gắ t . Do điều kiện đặc thù lịch sử của đất nước, giai cấp tư sản Pháp đã liên minh với nông dân, công nhân, thợ thủ công cũng như các tầng lớp nhân dân lao động khác trong cuộc đấu tranh chống lại nền quân chủ, quý tộc và giáo hội phong kiến. Như vậy, hệ thống chính tri ̣bảo thủ và phản động đã làm gay gắt thêm những mâu thuẫn trong xã hội Pháp lúc bấy giờ . Không chỉ Giai cấp tư sảntập hợp trong “đẳng cấp thứ ba”- không thể chờ sự ban phát của chính quyền trung ương mà hầu như tất cả các giai cấp trong xã hội Pháp lúc bấy giờ đều bày tỏ sự phản kháng bằng cách này hay cách khác đối với trật tự hiện tồn . Ngay cả giai cấp thống trị, tầng lớp quý tộc cũng bày tỏ sự bất bình trước những chính sách của nhà nước chuyên chế. Tất cả những mâu thuẫn đó đã báo hiệu cho một cuộc cách mạng đang đến gần - cuộc cách mạng tư sản. Tóm lại, cơ sở thực tiễn của triết học J.J.Rousseau nói riêng và phong trào khai sáng Pháp nói chung là bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội tại nước Pháp đầu thế kỷ XVIII . Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến cùng sự lớn mạnh của giai cấp tư sản Pháp lúc bấy giờ là tác nhân trực tiếp gây nên sự bùng nổ các phong trào đấu tranh do giai cấp tư sản lañ h đa ̣o trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội . Nước Pháp đã trở thành vũ đài của các cuộc luận chiến giữa tư tưởng tự do với chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa thần quyền. Phong trào Khai sáng Pháp đã ra đời trong xu thế ấy, trong đó J.J.Rousseau là đại biểu tiêu biểu. 1.1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời của triết học chính trị J.J.Rousseau 14 Tư tưởng xã hô ̣i của mô ̣t thời đa ̣i bao giờ cũng phản ánh tồ n ta ̣i xã hội của thời đại ấy , đồ ng thời nó còn là sự kế thừa , tiế p nố i có phê phán thời đa ̣i trước. Vì thế, để tìm hiểu tư tưởng triết học của J.J.Rousseau nói chung và triết học chính trị của ông nói riêng, ngoài cơ sở thực tiễn đã được trình bày ở trên, chúng ta không thể không đi tìm nguồn gốc hình thành và phát triển của nó. Hay nói cách khác là cơ sở lý luận cho sự hình thành tư tưởng triế t ho ̣c của J.J.Rousseau. Trong Chống Đuyrinh Engels viết: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy La ̣ p, không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã, thì không có Châu Âu hiện đại được”. Như vậy có thể nói xuất phát điểm của triết học Khai sáng Pháp nói chung và triết học J.J.Rousseau nói riêng trước tiên phải kể đến triết học Hy- La cổ đại. Các nhà tư tưởng cổ đa ̣i Hy La ̣p đã xác lâ ̣p và sử du ̣ng trong các cuô ̣c tranh luâ ̣n ho ̣c thuâ ̣t nhiề u tư tưởng và ho ̣c thuyế t chiń h tri ̣ khái niệm mà căn cứ vào đó người , cùng hàng loạt ở thời đại sau xác định , đánh giá và tim ̀ hiể u các hiê ̣n tươ ̣ng chin ́ h tri ̣. Nế u trong các vấ n đề triế t ho ̣c nói chung, từ bản thể luâ ̣n đế n nhâ ̣n thức luâ ̣n , người Hy La ̣p đã ta ̣o nên sự phân tuyế n rõ ràng về thế giới quan và phương pháp luâ ̣n , thì ở các vấn đề triết học chính trị cũng vậy . Các phạm trù triết học chính trị cơ bản như : tự do , bình đẳng , dân chủ hay đô ̣c tài , công bằ ng hay bấ t công , quyề n lực… đươ ̣c đề câ ̣p đế n như phầ n không thể thiế u trong tranh luâ ̣n triế t ho ̣c , từ thời kỳ sơ khai đế n thời kỳ Hy La ̣p hóa . Socrates (470- 399 T.CN), tư tưởng của ông chỉ được biế t đế n qua các tài liê ̣u là: các tác phẩm của Platon, các tác phẩm của Kxenophonto, những thông tin đươ ̣c Aristote le thu thâ ̣p và ghi la ̣i . Quan điể m về chiń h tri ̣xã hô ̣i c ủa Socrates gắ n với quan niê ̣m về đa ̣o đức của ông. Phản đối nền dân chủ Athens, 15 phản đối cơ cấu Hội nghị công dân bao gồm tất cả các thành phần mà ô ng cho là thấp kém (nông dân , tiể u thương… ). Điề u này phản ánh mô ̣t chủ trương nhằ m duy lý hóa nhà nước , trao quyề n điề u hành quố c gia vào tay những người xứng đáng , có tri thức và năng lực . Có thể nói: “Đa ̣o đức ho ̣c chính trị của Socrates là kết quả phát triển độc đáo tư tưởng chính trị Hy lạp cổ đại trước đó và đồ ng thời đã trở thành xuấ t phát điể m cho sự phát triể n tiế p theo của nó đến các đỉnh cao như triết học chính trị Plato n và khoa ho ̣c chính tri ̣ Aristoteles” [24, 116]. Platon (427- 347 TCN) và Aristotele (384-322 TCN) là những tên tuổi lớn của thế giới cổ đa ̣i. Các ông đã có những tư tưởng về trình độ cao của sự phát triể n xã hô ̣i, về hê ̣ thố ng phân loa ị các hình thức tổ chức đời số ng cô ̣ng đồ ng , quản lý xã hội. Trong đó , Platon đưa ra và luận giải tư tưởng về sự phát triển và phân loại các kiểu tổ chức đời sống cộng đồng, quản lý xã hội như sau: a. Chế đô ̣ quân chủ - sự cầ m quyề n của mô ̣t người b. Chế đô ̣ quý tô ̣c - sự cầ m quyề n củ a mô ̣t số ít người c. Chế đô ̣ dân chủ - sự cầ m quyề n của đa số , hay của nhân dân. Theo Platon, các hình thức nhà nước trên là ngu ngố c , hạn chế, bẩ n thiủ . Từ đó ông đưa ra mô hình nhà nước “tố t nhấ t” - “Nhà nước lý tưởng ”. Trong nhà nước lý tư ởng cũng có một số người đ iề u hành nhà nước , giố ng như nhà nước quân chủ , mô ̣t số it́ hơn . Ông đưa ra tiêu chuẩ n của những ngư ời điều hành nhà nước là: phải có năng khiếu tự nhiên ; phải được đào tạo lâu dài . Nguyên lý cơ bản của nhà nước lý tưởng là sự chiń h nghiã . Ông đưa ra sơ đồ của nhà nước lý tưởng như sau: Tầng lớp thứ nhất , những người điề u hành - là những người có khả năng nắ m bắ t đươ ̣c nghê ̣ thuâ ̣t chiń h tri ,̣ là những người hiể u đươ ̣c cái chính nghĩa và cái thiện, có khả năng thực hiê ̣n chúng, theo Platon, đó là những nhà thông thái- những nhà triế t ho ̣c . Những người này phải là nh ững người ưu tú , đươ ̣c 16 huấ n luyê ̣n từ nhỏ . Ông chủ trương mô ̣t thế giới cô ̣ng sản dành riêng ch o những người đươ ̣c cho ̣n lựa để trở thành lañ h đa ̣ o hoàn hảo . Họ không có tài sản riêng, số ng và đươ ̣c huấ n luyê ̣n chung theo kiể u t rại lính vì theo Platon đó là cách duy nhất để những người này trở thành hiền đức , không tự hào cá nhân, không ghen tuông , không bi ̣quyế n rũ bởi vâ ̣t chấ t… tầ ng lớp này theo ông là những nhà cai trị hoặc triết gia. Tầ ng lớp thứ hai , là những người bảo vệ xã hội khỏi sự tấn công từ bên ngoài và kể cả từ bên trong nữa , ông go ̣i tầ ng lớp này là tầ ng lớp vê ̣ sĩ , gọi là vê ̣ quân. Tầ ng lớp thứ ba , là tầng lớp thấp nhất trong xã hội bao gồm nhữ ng công dân làm nông dân , thơ ̣ thủ công buôn bán , trao đổ i…. Là những người nặng về đời số ng nhu ̣c cảm , có trách nhiệm lao đô ̣ng để cung cấ p đồ ăn , vâ ̣t du ̣ng cho thành bang. Theo Platon, muố n duy trì mô ̣t xã hô ̣i ổ n đinh , các tầ ng lớp phải số ng ̣ đúng vi ̣trí của min ̀ h , đă ̣c biê ̣t phải cho ̣n lựa , đào ta ̣o đô ̣i ngũ cầ m quyề n mô ̣t cách chặt chẽ và có ý thức [xem 58, 117]. Trong triế t ho ̣c chin ́ h tri ̣J .J.Rousseau thời kỳ đầ u , chịu ảnh hưởng của Platon, ông cho rằ ng với trâ ̣t tự tự nhiên và ha ̣n chế nhu cầ u đế n mức tố i đa để ngăn chă ̣n tin ̀ h tra ̣ng tha hóa nảy sinh do bấ t câ ̣p giữa phát triể n kinh tế v à hoàn thiện nhân cách. Tuy nhiên, ở giai đoa ̣n phát triể n tiế p theo, J.J.Rousseau không dừng la ̣i ở chủ nghiã biǹ h quân mà nhấ n ma ̣nh mu ̣c tiêu chiń h tri ̣của phát triển kinh tế , đề cao giá trị nhân văn và dân chủ . Nế u Platon chủ trương xóa bỏ sở hữu tư nhân, thiế t lâ ̣p sở hữu cô ̣ng đồ ng thì J .J.Rousseau không chủ trương thủ tiêu hoàn toàn sở hữu tư nhân , và nếu Platon nhìn nhận tình trạng bấ t bin ̀ h đẳ ng , bấ t công từ sự sa đo ̣a của nền dân chủ , thì J.J.Rousseau nhâ ̣n thấ y nguyên nhân sâu xa của sự bất bình đẳng là từ kinh tế. Đây chiń h là điể m khác biệt giữa hai nhà tư tưởng ở hai thời đại khác nhau. 17 Tư tưởng chin ́ h tri ̣ - xã hội của Aristotele cũng giống với Platon là xây dựng ho ̣c thuyế t nhà nước lý tưởng trên n ền tảng quan niệm về bản chất con người. Aristotele cho rằng, nhà nước chính là chỗ dựa cầ n thiế t cho mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiê ̣n bản thân và thành tựu ha ̣nh phúc trong đời . Mục tiêu cơ bản của nhà nước là tạo điề u kiê ̣n cho mỗi công dân đươ ̣c hưởng mô ̣t cuô ̣c số ng thư nhàn , có cơ hội nhận thức được giá trị tối thượng của con người. Tuy nhiên, trong xã hô ̣i của Aristotele , quyề n công dân chỉ đươ ̣c dành cho các tầ ng lớp thươ ̣ng đẳ ng , tầ ng lớp nô lệ và nông dân , do đời số ng nghèo khổ , bị buộc phải lao đô ̣ng. Chỉ có các tầ ng lớp thươ ̣ng đẳ ng hưởng đươ ̣c cuô ̣c số ng thư nhàn và đắ m mình trong các hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu chính tri ̣ , nghê ̣ thuâ ̣t, khoa ho ̣c, triế t ho ̣c… chỉ riêng ho ̣ mới có thể đa ̣t đươ ̣c ha ̣nh phúc , điề u tố t đe ̣p nhấ t của cuô ̣c số ng và là sản phẩ m có giá tri ̣nhấ t đươ ̣c ta ̣o ra từ trí tuê ̣ ưu viê ̣t của con người [xem 69, 101]. Nhà nước - mô ̣t thực thể phức ta ̣p , tâ ̣p hơ ̣p những cá thể khác nhau về chức phâ ̣n , về tin ̀ h tra ̣ng tài sản , về điạ vi ̣, trình độ học vấn . Khả năng tham gia của công dân vào công viê ̣c nhà nước quy đinh ̣ thể chế chiń h tri ̣của nó Thể chế chin ́ h tri ̣là mô ̣t trâ ̣t tự làm cơ sở ch . o sự phân chia quyề n lực nhà nước và đảm bảo sức ma ̣nh của luâ ̣t pháp . Luâ ̣t pháp không từ trên trời rơi xuố ng, mà được xây dựng trên những giá trị truyền thống, phong tu ̣c, tâ ̣p quán lâu đời, vì thế có tính chất bền vững và thiêng liêng. Aristotele là người đầ u tiên chỉ ra sự phân quyề n trong bô ̣ máy nhà nước , gồ m ba bô ̣ phâ ̣n : bô ̣ phâ ̣n thứ nhấ t là cơ quan tư vấ n pháp lý về hoa ̣t đô ̣ng của nhà nước - cơ quan lâ ̣p pháp, bô ̣ phâ ̣n thứ hai là các tòa thị chính - cơ quan hành pháp và bô ̣ phâ ̣n thứ ba là các cơ quan tư pháp . Hơn hai mươi thế kỷ sau , tư tưởng này mới đươ ̣c hồ i phu ̣c và phát triển trong triết học Khai sáng Pháp trong đó có J.J.Rousseau theo tinh thầ n mới trong điề u kiê ̣ n lich ̣ sử mới [xem 26, 31]. Aristotele là người có tư tưởng bảo vê ̣ quyề n tư hữu . Theo ông, sự thiế u thố n về vâ ̣t chấ t , 18 nghèo đói, tự chúng chưa thể sinh ra ba ̣o loa ̣n và phân tranh. Aristotele tin vào khả năng màu nhiệm của sở hữu cá nhân sẽ hòa giải và đoàn kết chặt chẽ đươ ̣c mọi thành viên trong xã hội. Tư tưởng này về sau đươ ̣c thể hiê ̣n rõ nét trong tư tưởng chính tri ̣của J .Locke trong tác phẩ m “Khảo luận thứ hai về chính quyề n”, ba quyề n cơ b ản mà J .Locke đề câ ̣p đế n đó là quyề n số ng , quyề n tự do và quyề n tư hữu . Ông viế t : “Dù trái đấ t và tấ t cả sinh vâ ̣t cấ p thấ p là của chung đố i với mo ̣i người , thế nhưng mỗi người vẫn có mô ̣t sở hữu riêng đố i với cá nhân con người mình , và không một ai có bất kỳ quyền gì đối với sở hữu này ngoài anh ta. Lao đô ̣ng của cơ thể anh ta, sản phẩm của đôi tay anh ta - hoàn toàn có thể nói - đích thi ̣là của anh ta . Vâ ̣y thì , cái gì anh ta lấy ra từ trạng thái mà tự nhiên đã cung cấp và đã để mặc ở đó , anh ta trô ̣n lẫn lao đô ̣ng của mình và đã gắn kết vào nó bằng cái gì đó vố n là của riêng anh ta, và bằng cách này mà khiến cho nó trở thành sở hữu của mình” [29, 63]. Nghĩa là quyề n sở hữu là quyề n của thươ ̣ng đế ban tă ̣ng , do đó nó là “bấ t khả xâm phạm”. Tư tưở ng này đươ ̣c các nhà Khai sá ng về sau tiế p tu ̣c khẳ ng đinh ̣ tư hữu là quyề n thiêng liêng của con người trong đó có J.J.Rousseau. Thái độ của Platon và Aristotele đối với nền dân chủ Athens là như nhau , tuy nhiên trong khi Platon từ đó xây dựng mô ̣t nhà nước lý tưởng tuyê ̣t đố i thố ng nhấ t trong mô ̣t khuôn mẫu từ trên xuố ng dưới, thì ở Aristotele la ̣i là vấ n đề bỏ ngỏ , mă ̣c dù đôi khi Aristotele ca ngơ ̣i nề n dân chủ như hiǹ h thức nhà nước xưa nhấ t và thánh thiê ̣n nhấ t , nhưng la ̣i dành nhiề u thiê ̣n cảm cho hiǹ h thức cô ̣ng hòa , tâ ̣p hơ ̣p từ số đông “không giàu không nghèo” [6, 60-61]. Ông cho rằ ng , mô ̣t nhà nước không nên q uá lớn và cũng không nên qúa nhỏ, khoảng mười ngàn công dân là vừa . Sau này, J.J.Rousseau cũng đã phân tić h lại điều này trong tác phẩ m “Bàn về khế ước xã hội”. Tiế p theo thời kỳ C ổ đa ̣i, thời Trung cổ Tây Âu đã kéo dài hàng trăm năm dưới sự thố ng tri cu ̣ ̉ a chế đô ̣ chuyên chế vương quyề n và thầ n quyề n , của bạo 19 lực nhà nước và cuồ ng tin ́ tôn giáo . Trong đó chế đô ̣ thầ n quyề n luôn luôn chiế m ưu thế , tòa án giáo hội là cơ quan xét xử có thế lực nhất và giáo lý tôn giáo ngự trị trong tâm thức mọi thần dân trung cổ . Trong thời kỳ này , triế t ho ̣c chỉ lo làm việc chứng minh về mặt bản thể cho sự tồn tại của chúa , đem la ̣i diê ̣n ma ̣o mới cho khoa ho ̣c thầ n ho ̣ c, để đi đến xây dựng và cũ ng cố lý luâ ̣n cho sự hơ ̣p nhấ t thầ n quyề n và thế quyề n . Chính vì thế, trong thời kỳ này, vấn đề tự do, bình đẳng, dân chủ… ít được đề cập đến. Thời kỳ P hục hưng (thế kỷ XV - đầ u thế kỷ XVII ) đem la ̣i mô ̣t diê ̣n ma ̣o mới x ua đi “đêm trường T rung cổ ” cho xã hội Phương Tây. Thời đại mà Engels đánh giá là đã sản sinh ra những con người khổng lồ, “khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng…” [35, 459-460]. Thời kỳ này , triế t ho ̣c cùng với văn học nghệ thuật và khoa học làm nhiệm vụ khôi phục những giá trị nhân văn, khoa ho ̣c của thời Hi- La cổ đa ̣i, đề cao tình yêu con người và sự thế tu ̣c hóa nhà nước… . Trên tinh thầ n đó , trong phương diê ̣n đời số ng chiń h trị- xã hội đã xuấ t hiê ̣n nhiề u nhà tư tưởng bắ t đầ u xem xét nhà nước từ lâ ̣p trường khoa ho ̣c, khách quan, thế tu ̣c. N.Machiavelli (1469- 1527), là trường hợp điển hình cho cách tiếp cận thế tu ̣c này và là sự báo hiệu cho những chuyển biến tích cực đang đến gần N.Machiavelli đã tóm lược tất cả kiến thức và ý kiến của ông về nghệ thuật làm vua trong tác phẩm “Quân vương”, được đánh giá là tác phẩm kinh điển về triết học chính trị và về văn hóa thời Phục hưng . Trong tác phẩm này N.Machiavelli nêu ra một số tư tưởng chính , có tác dụng đáng kể đến việc hình thành khoa học chính trị hiện đại, đồng thời gợi mở khả năng phân tích triết học đối với “công nghệ quyền lực”. Chính trị, theo N.Machiavelli là một lĩnh vực tự mình xác định những mục tiêu cho mình, xác định phương pháp và phương tiện thực hiện những mục tiêu ấy, mà không cần dựa vào chuẩn mực 20
- Xem thêm -