Tư tưởng nhân văn của nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng nguyễn trãi

  • Số trang: 161 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Triệu Quang Minh TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI Chuyên ngành : Triết học Mã số : 62.22.03.01 LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Lê Thị Lan 2. GS. TS Nguyễn Tài Thư 1 HÀ NỘI – 2014 MỤC LỤC MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................3 1.Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................3 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.................................................4 2.1. Mục đích......................................................................................................... 4 2.2. Nhiệm vụ.........................................................................................................5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án..................................................5 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu........................................................5 5. Những đóng góp mới của luận án.....................................................................6 6. Ý nghĩa của luận án...........................................................................................6 7. Kết cấu của luận án...........................................................................................6 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.........................7 1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo.....................7 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ hướng tiếp cận thuật ngữ “nhân văn”..............................................................................7 1.1.2. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ hướng tiếp cận nội dung, đại biểu của nó......................................................................14 1.2. Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, tư.........19 Tiểu kết chương 1................................................................................................24 Chương 2. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO..................................26 2.1. Một số nội dung cơ bản về khái niệm nhân văn...........................................26 2.2. Cơ sở xã hội cho sự xuất hiện và những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo.................................................................................................40 2.2.1 Cơ sở xã hội cho sự xuất hiện của tư tưởng nhân văn của Nho giáo........40 2.2.2 Những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo..................43 2 Tiểu kết chương 2................................................................................................89 Chương 3. ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI..............................................................................90 3.1. Nguyễn Trãi và thời đại của ông..................................................................90 3.1.1. Sơ lược thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi........................................90 3.1.2. Thời đại của Nguyễn Trãi..........................................................................92 3.2. Nguyễn Trãi tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn của Nho giáo...............96 3.2.1.Tư tưởng của Nguyễn Trãi về quyền được sống trong một cộng đồng tự do, một quốc gia độc lập của nhân dân Đại Việt......................................................97 3.2.2. Tư tưởng của Nguyễn Trãi về nhân nghĩa – con đường để hiện thực hóa quyền con người................................................................................................103 Tiểu kết chương 3..............................................................................................125 Chương 4. Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN NGUYỄN TRÃI ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP THU VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM..................................................................................................126 4.1. Tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống................126 4.2. Gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng con người...............................131 4.3. Củng cố niềm tin, xây dựng lý tưởng, cổ vũ tinh thần gìn giữ và phát huy văn hóa dân tộc..................................................................................................136 4.4. Định hướng tư duy và bồi dưỡng tư tưởng cộng đồng...............................141 Tiểu kết chương 4..............................................................................................147 KẾT LUẬN CHUNG........................................................................................148 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................150 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong khi giới trí thức, khoa học và những người quan tâm đến vấn đề học thuật còn đang tiếp tục bàn cãi về tính chất của nền văn minh đương đại thì có một thực tế không thể chối cãi được là: tiếng chuông cảnh tỉnh về sự sa sút đạo đức, về sự sòng phẳng đến mất nhân tính trong mối quan hệ giữa người với người, về sự rạn nứt và thay thế của các hệ chuẩn giá trị đang gióng lên ở hầu khắp các quốc gia. Cùng với đó, nhân loại đang tiếp tục đối mặt với một sự bất ổn toàn diện về cả kinh tế, chính trị và văn hóa. Để khắc phục và giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu liên quan đến loài người như chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, phai nhạt lý tưởng sống… các tổ chức quốc tế đều khuyến nghị các quốc gia, dân tộc và mỗi cá nhân tham gia vào việc thúc đẩy phát triển và phổ biến rộng khắp một nền văn hóa hòa bình, dân chủ, tự do, đoàn kết cùng tiến bộ dựa trên cơ sở nhân văn. Trong bối cảnh thế giới khẳng định và đề cao tư tưởng nhân văn, coi đó như chất keo kết dính, liên kết con người lại gần nhau hơn để cùng giải quyết các xung đột, Nho giáo đang được khai thác, vận dụng đang tiếp tục nhận được khai thác và vận dụng không chỉ ở các nước phương Đông – những nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Nho giáo trong lịch sử, mà còn ở nhiều nước phương Tây. Chính những hành công của một số nước trong việc vận dụng Nho giáo để ổn định và phát triển xã hội đã đưa tới kỳ vọng có thể khai thác Nho giáo với tư cách là một trong những cơ sở, tiền đề tư tưởng để giải quyết những vấn đề bất ổn của thế giới. Do đó, tư tưởng nhân văn của Nho giáo cần được tiếp tục nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và cụ thể hơn nữa. Tuy giá trị nhân văn Việt vốn có trong truyền thống dân tộc, trong mỗi con người Việt Nam song dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo, nhất là ở giai đoạn 4 Nho giáo cực thịnh, các giá trị đạo đức Việt đã được hệ thống hoá, được khuôn vào các tiêu chí mang tính quy tắc để đánh giá phẩm cách con người. Việc đánh giá một cách khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể về những ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn Nho giáo khi gia nhập vào hệ giá trị nhân văn dân tộc là công việc cần thiết để khẳng định những giá trị mang bản chất Việt và tính phổ biến toàn nhân loại lúc nào cũng vốn có trong các tư tưởng nhân văn. Bên cạnh đó, cần thấy rằng Nho giáo ở Việt Nam là kết quả của quá trình tiếp biến Nho giáo cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc. Sự tiếp biến này, đối với các nhà tư tưởng trong lịch sử cũng không hoàn toàn giống nhau. Trong danh sách các đại biểu tiêu biểu của giới nhân sỹ trí thức được đào tạo theo sách vở Nho giáo, Nguyễn Trãi được biết đến với tư cách một nhà Nho Việt tiêu biểu . Ông được coi là hiện thân của lương tri Việt, làm rạng danh chủ nghĩa nhân văn Đại Việt. Tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đã thể hiện vai trò, sức mạnh của tư tưởng trong chính hoạt động thực tiễn vì lợi ích chung của dân tộc, vì con người của bản thân ông. Không những thế, tư tưởng nhân văn ấy còn phát huy tác dụng trong việc định hướng về mặt chủ trương, đường lối chính trị, xã hội đương thời và lịch sử dân tộc về sau. Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi cũng được thực tiễn khẳng định không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với xã hội trong thời đại ông sống mà còn là một tài sản truyền thống có giá trị của dân tộc. Nói cách khác, tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài:“Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng của Nguyễn Trãi”, làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích 5 Làm rõ tư tưởng nhân văn trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi, từ đó nêu lên ý nghĩa của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu và phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam. 2.2. Nhiệm vụ Một là, phân tích cơ sở hình thành, bối cảnh xã hội tác động đến việc hình thành các tư tưởng nhân văn của Nho giáo. Hai là, dựa trên các tài liệu kinh điển Nho giáo để minh chứng và khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo, Ba là, phân tích làm rõ ảnh hưởng tư tưởng nhân văn của Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi và chỉ ra những điểm tiếp thu có chọn lọc, phát triển và sáng tạo của ông. Bốn là, khái quát và làm rõ và những ý nghĩa cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu và phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án - Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi. - Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong chuyên ngành Lịch sử triết học bằng cách khảo cứu tưởng nhân văn của Nho giáo (những tư tưởng chính, cơ bản thông qua tư tưởng của các đại biểu tiêu biểu của Nho giáo, nhất là Nho giáo Tiên Tần) trong các kinh điển Nho giáo, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi (thể hiện rõ sự tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn của Nho giáo) được thể hiện trong các trước tác của ông. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, những nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong nghiên cứu lịch sử triết học. 6 - Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, thống nhất giữa logic và lịch sử. Luận án cũng kết hợp phương pháp sử học, chính trị học… 5. Những đóng góp mới của luận án - Luận án đã tìm hiểu và phân tích một cách chuyên sâu từ phương diện triết học tư tưởng nhân văn của Nho giáo. - Luận án đã góp phần gợi mở cách tiếp cận những nội dung kinh điển Nho giáo dựa trên mối tương quan, sự liên hệ trong hệ trục so sánh với khái niệm nhân văn hiện đại. - Luận án đã khái quát và đặt tên cho những tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi theo ngôn ngữ hiện đại. Trên cơ sở đó, luận án đã phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng tư tưởng nhân văn Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi. - Luận án đã khẳng định ý nghĩa của tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong việc tiếp thu và phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam. 6. Ý nghĩa của luận án Về mặt lý luận: Luận án làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, đồng thời chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy: Lịch sử Triết học, lịch sử tư tưởng, Cơ sở văn hóa Việt Nam. Luận án cũng có thể trở thành tư liệu tham khảo cho các chuyên ngành có liên quan. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 9 tiết. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu Nho giáo dưới phương diện học thuyết chính trị - xã hội, hệ thống quy phạm đạo đức và tôn giáo là vấn đề không mới. Từ khi du nhập vào Việt Nam, một mặt nó nhận được sự quan tâm rộng khắp vì đã tồn tại và từng trở thành học thuyết cai trị của bộ máy cầm quyền. Mặt khác, luân lý đạo đức Nho giáo đã được người dân đón nhận trong ứng xử gia đình và xã hội nhờ thế nó tham gia vào nội dung đạo lý của người Việt Nam. Điều quan trọng hơn, Nho giáo trở thành nền tảng kinh điển để con người học tập, thi cử trước, trong, sau khi đỗ đạt. Nó lại tiếp tục là luận thuyết được những người chưa thành danh hoặc những người cáo quan về quê mở trường, lớp dạy học…Vì thế, có thể nói hệ thống sách vở viết về Nho giáo và các vấn đề liên quan là một công trình vô cùng đồ sộ. Với giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chú trọng vào những khuynh hướng nghiên cứu chủ yếu về Nho giáo có liên quan trực tiếp đến nội dung luận án. Qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy có một số khuynh hướng nghiên cứu sau: 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ hướng tiếp cận thuật ngữ “nhân văn” Nho giáo ra đời là sản phẩm phản ánh thực tiễn lịch sử xã hội cổ đại Trung Hoa thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Trong phạm vi nhận thức thời kỳ đó, tất nhiên bản thân vấn đề tư tưởng nhân văn sẽ không thể tìm thấy và lấy thuật ngữ “nhân 8 văn” làm xuất phát điểm bởi lẽ đây là vấn đề của thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu. Song, với nội hàm khái niệm được định vị, một số học giả đã đặt vấn đề trong hệ trục so sánh để có thể tìm thấy các nội dung mang tính nhân văn phổ quát trong tư tưởng của Nho giáo. PGS. Hà Thúc Minh trong bài viết “Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa nhân đạo”, in trên Tạp chí Khoa học xã hội số 7/2006, “Chủ nghĩa nhân văn thế kỷ XXI”, số 9+10/2007, đã đề cập tới nhân văn phương Đông và cho rằng: “Thay vì gọi là “chủ nghĩa nhân văn” thì nên gọi là “chủ nghĩa nhân đạo” có lẽ thích hợp hơn đối với Nho giáo Phương Đông, dựa vào “nhân ái” (đạo đức) để quản lý xã hội. Có lẽ nên xem “chủ nghĩa nhân văn” chỉ là một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo hoặc ít ra cũng không thể đồng nhất với “chủ nghĩa nhân đạo” được” [94, tr.7]. Hà Thúc Minh đã phân tích bản tính thiện của Mạnh Tử và cho rằng “Nho giáo không gắn bản tính “thiện” của con người với “nhân quyền” nào cả. Cũng chẳng cần có “luật” nào để bảo vệ cũng như hạn chế nó. Một khi bản tính con người là “thiện” thì cần gì phải dùng luật pháp để hạn chế nó. Còn nếu nó trở thành xấu thì làm thế nào có thể dùng cái bên ngoài để ngăn chặn cái bên trong được? Cái bên trong phải được điều chỉnh từ cái bên trong. Giáo dục đạo đức hay tự giáo dục mới là biện pháp hữu hiệu, triệt để nhất…hạnh phúc không phải chỉ là thỏa mãn nhu cầu tự nhiên. Thỏa mãn nhu cầu tự nhiên đó là sự thực, nhưng hạnh phúc không phải chỉ là sự thực mà là giá trị. Cho nên, khi tôi hy sinh lợi ích cho người khác, tức là tôi cho chứ không phải được. Giá trị mà tôi có cao hơn sự thật mà tôi mất. Cái mà chủ nghĩa nhân đạo đòi hỏi không phải là nhân quyền mà là nhân cách. Nhân quyền đòi hỏi bên ngoài còn nhân cách đòi hỏi bên trong. Nhân cách dành cho chủ thể của nó không gian bên ngoài hoàn toàn tự do lựa chọn. Khi bên trong đã đạt được cảnh giới tối cao thì mọi trở ngại bên ngoài đều không có gì đáng kể. Cho dù giầu sang cũng không sa ngã, nghèo khổ cũng không nhụt ý chí, uy vũ cũng không thể khuất phục” [94, tr.10]. 9 Quan điểm của Hà Thúc Minh có tính hợp lý nhất định bởi vì bản thân tồn tại xã hội phương Đông nói chung và xã hội Trung Quốc cổ đại nói riêng chưa từng có được các bước cách mạng đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của thuật ngữ “nhân văn”. Hà Thúc Minh phân tích lịch sử hình thành chủ nghĩa nhân văn và chỉ ra rằng ở Phương Đông từ ngữ “nhân văn” đã có từ trước công nguyên. Thuật ngữ này không giống như “humanism” của phương Tây, “nhưng đều dùng để chỉ về con người và những tiến hóa của con người…Một bên là đầu vào còn một bên là đầu ra của xã hội phong kiến” [95, tr.9]. Hà Thúc Minh cũng chỉ ra điểm gặp nhau không hẹn trước giữa Phương Đông và Phương Tây, về sự giống nhau giữa “bác ái” của Phương Tây và “nhân ái” của Phương Đông, của Khổng Tử. Tuy nhiên, những vấn đề mà Hà Thúc Minh đề cập mới chỉ là những tiếp cận ban đầu mang tính gợi mở bởi lẽ để so sánh về chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn là cả một vấn đề lớn, chưa kể giữa chúng có những sự giao thoa không thể tách biệt tuyệt đối được. Trong khi đó, bản thân Hà Thúc Minh cũng đã khẳng định thuật ngữ “nhân văn” cũng đã xuất hiện ở Phương Đông từ trước công nguyên và nó có điểm tương đồng, khác biệt với thuật ngữ này ở Phương Tây. Tính không đồng nhất trong việc sử dụng thuật ngữ cũng như khoanh vùng nội hàm thuật ngữ có thể khiến cho vấn đề trở nên phức tạp. Đương nhiên, không thể khoác cho Nho giáo thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” song có thể thấy suy cho cùng chủ nghĩa nhân văn hay chủ nghĩa nhân đạo cũng đều giải quyết các vấn đề của con người, liên quan đến con người. Cho nên, cách tiếp cận của Hà Thúc Minh là một gợi ý khoa học để triển khai luận án trên cơ sở bám sát nội dung khái niệm chứ không phải truy tìm khái niệm một cách siêu hình, cứng nhắc. Bên cạnh đó, tuy có đề cập song chưa thấy tác giả đi sâu vào phân tích cơ sở tồn tại xã hội, nền tảng mà trên đó Nho giáo nảy sinh. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong nghiên cứu triết học. Vì thế việc trở lại phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn lịch sử và những gì Nho giáo Tiên Tần phản ánh là rất cần thiết. 10 Cùng với đó cần trở lại để cụ thể hóa (một cách tương đối) nội hàm khái niệm thuật ngữ “nhân văn” cũng như phân tách nó với các thuật ngữ khác và với bản thân nó trong từng tầng bậc khác nhau. Cũng với lối tiếp cận hiện đại, có chiều sâu về mặt học thuật, GS. Đỗ Duy Minh. ĐH Harvard gọi Nho giáo cổ điển là học thuyết nhân văn. Ông cho rằng: “Sự khó khăn trong việc đạt đến một hiểu biết mang tính chất phân tích về chủ nghĩa nhân văn Nho giáo – một trong những truyền thống phức tạp nhất và có ảnh hưởng lớn nhất vẫn tiếp tục tồn tại tại Đông Á – chủ yếu là do lãnh vực quan tâm căn bản của Khổng Tử (551 - 479 TCN) – người đã có những tri kiến độc đáo về thân phận con người – có mức độ thống nhất rất cao…Gạt ra ngoài các vấn đề khởi nguyên và ranh giới, sự xuất hiện của hiện tượng Nho giáo như một sự đáp ứng đầy ý thức đối với sự suy tàn và sụp đổ của văn minh nhà Chu đã nhằm minh giải cho những vấn nạn (Problematiken) cụ thể mà sau đó chính những vấn nạn này lại trở thành những nét đặc trưng tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn Nho giáo. Ba tư tưởng hạt nhân trong tác phẩm luận ngữ chỉ ra ba vấn nạn này là: Khái niệm Đạo (the Way), Học (Learning), và Chính trị (Politics).” 23, tr.239. Quả thực, khi Đỗ Duy Minh đi sâu vào nội dung của Đạo, Học và Chính trị của Học thuyết nhân văn Nho giáo cổ điển có thể thấy rõ tính chất phức tạp trong việc phân tích về chủ nghĩa nhân văn Nho giáo. Đột phá trong cách tiếp cận mới đối với những nội dung kinh điển của Nho giáo như: niềm tin của Khổng Tử vào khả năng tự hoàn thiện của con người; quan niệm tính thiện bẩm sinh của Mạnh Tử; quan niệm về cuộc sống của người quân tử, ý niệm về chính quyền nhân đạo… Đỗ Duy Minh khẳng định: “Niềm tin vào khả năng hoàn thiện (perfectibility) trong bản tính nhân loại thông qua sự tự nỗ lực, như một câu trả lời cho những khuynh hướng phi nhân trong thời đại lịch sử đang bủa vây ông. Niềm tin đó hướng dẫn toàn bộ năng lực của ông vào việc chuyển hóa thế giới nhân loại từ bên trong. Thái độ tập trung này đặt căn bản trên niềm xác tín rằng giá trị tối hậu của tồn tại nhân sinh nằm kề sát bên cạnh con người 11 và ước muốn đạt đến nhân tính sẽ dẫn đến sức mạnh cần thiết cho việc hiện thực hóa” [23, tr.243] và “nếu chúng ta không xem kinh điển Nho giáo như những văn bản viết thuần túy mà xem chúng như thể hiện cái nhìn, thị kiến nhân bản được quan niệm một cách rộng rãi, chúng có thể cho chúng ta thấy được phạm vi học thuật theo tinh thần Khổng giáo thời Cổ đại…Gộp chung lại, chúng thể hiện sự khai mở một dự phóng toàn diện nhằm cứu vớt ý nghĩa sâu xa của văn minh nhân loại đang trong bối cảnh khủng hoảng” [23, tr.247]. Đỗ Duy Minh quy về “năm thị kiến cơ bản về thân phận con người” và tác giả tự nhận định: “một cá nhân cùng lúc là một sinh thể thi ca, một sinh thể chính trị, một sinh thể xã hội, một sinh thể lịch sử và một sinh thể siêu hình. Quan điểm cực kỳ cô đọng và phức tạp này về con người như một hữu thể bao gồm nhiều chiều kích khác nhau khiến cho chúng ta khó mà thấu hiểu hệ tư tưởng Khổng giáo như một cơ chế thực tiễn (Praxis)”. Như vậy, Đỗ Duy Minh đã tìm cách đi đến tận gốc rễ của Khổng giáo để thống nhất năm thị kiến căn bản về thân phận con người. Năm thị kiến đó cũng chính là các vai trò khác nhau của con người trong cuộc sống, trong xã hội và trong lịch sử. Đây là cách tiếp cận mang tính phối hợp đem lại sự tương khớp giữa một học thuyết của thời kỳ cổ đại với học chủ nghĩa Mác (Trong tính hiện thực của mình, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội). Tuy nhiên, khuôn khổ bài viết hạn hẹp, số lượng thuật ngữ mới nhiều, vấn đề được đề cập đòi hỏi sự phân tích sâu rộng và đầu tư công phu…có thể là những nguyên nhân căn bản khiến sự tập trung của tác giả không nhằm vào việc chứng minh tính nhân văn của học thuyết Nho giáo cổ điển. Tính nhân văn của học thuyết Nho giáo cổ điển gần như được coi là sự mặc định dùng để chỉ ra mối quan hệ thống nhất giữa đạo học và chính trị. Sự mặc định này cần được minh chứng một cách rõ ràng, thuyết phục hơn. Thấy được vai trò quan trọng của môi trường thực tiễn và coi đó như là một trong những nguyên nhân khiến cho tư tưởng nhân văn của Nho giáo về sau 12 không thể phát triển, Vi Chính Thông trong “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” đã khẳng định: “Sự tự giác về tự do trong ý chí đạo đức của Nho gia thời Tiên Tần là bước ngoặt quan trọng trong quá trình đưa cuộc sống của con người từ đần độn đến sáng sủa. Sự tu dưỡng của con người, sự phấn đấu trở thành thánh hiền cũng bắt đầu từ đấy. Phát hiện đó chứng tỏ văn hóa Trung Quốc đã từng có sự tự giác về lý tính. Đáng tiếc là về sau, do không có sự phối hợp của các điều kiện văn hóa xã hội nên phát hiện vĩ đại đó dừng lại ở hình thái biểu hiện tiêu cực và ngày càng co lại, xơ cứng…Nho gia Tiên Tần có lý tưởng tốt, nhưng điều kiện văn hóa xã hội để thực hiện lý tưởng đó lại là chế độ phong kiến tông pháp ngặt nghèo, do vậy lý tưởng của Nho gia đã trở thành “hoa trong kính, trăng dưới nước” [115, tr.164]. Theo Vi Chính Thông, “tư tưởng nhân văn Trung Quốc quá nhấn mạnh phương pháp tu dưỡng nội tâm, tương phản với quan điểm nhận thức khoa học là phải nghiên cứu nhân tố khách quan. Phương pháp tu dưỡng nội tâm tất yếu dẫn tới xa rời kinh nghiệm, coi thường tri thức. Ngay thời kỳ đầu của tư tưởng nhân văn Nho gia Tiên Tần đã thể hiện xu hướng đó” [115, tr.237]. Tuy nói về hạn chế và một số nguyên nhân khiến cho tư tưởng nhân văn Nho giáo không phát triển tương dung được với khoa học nhưng không thấy Vi Chính Thông chỉ rõ nội dung của tư tưởng nhân văn Nho giáo. Ông chỉ khẳng định: “Nho gia thời Tiên Tần quả là có tư tưởng và niềm tin của chủ nghĩa nhân văn. Khổng Tử không nói quái, lực, loạn, thần; Mạnh Tử tôn trọng đạo đức; Tuân Tử chủ trương “trời và người tách rời” đều là những biểu hiện quan trọng của tư tưởng cổ đại Trung Quốc. Nhờ có sự truyền bá những tư tưởng này, văn hóa Trung Quốc mới từ tôn giáo và thần thoại nguyên thủy dần dần đi theo hướng nhân văn; mới khiến cho người Trung Quốc từ sùng bái thượng đế, trời, dần dần chuyển sang tự thân con người, nhận thức được sức mạnh và trách nhiệm của bản thân”[115, tr.344]. Không sử dụng thuật ngữ “nhân văn” mà dùng thuật ngữ “nhân bản” song Tào Thượng Bân trong “Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần” thực sự đã 13 có cách tiếp cận đạt đến bản chất của vấn đề và mở ra một tiềm năng khai thác sâu rộng hơn nội dung này. Theo ông, “Mục đích của học thuyết Nho gia hướng tới là trở thành thánh nhân, ít nhất cũng là lấy việc xây dựng một cõi nhân gian mà mọi người đều mong đợi làm mục đích. Có thể nói, học thyết Nho gia là chủ nghĩa giáo dưỡng. Đã gọi là giáo dưỡng, tất nhiên là phải lấy con người làm gốc, từ đó sẽ phát triển thành triết học nhân văn”4, tr.21. Ông cũng khẳng định: “Tư tưởng nhân bản của Nho gia Tiên Tần lấy sự tồn tại xã hội của con người làm tiền đề. Nhưng quan niệm về tính xã hội giữa các nhà Nho như Mạnh Tử, Tuân Tử ít nhiều có điểm khác biệt…Mạnh Tử nhấn mạnh cộng đồng xã hội, còn Tuân Tử nhấn mạnh lợi ích xã hội. Mạnh Tử chú trọng cá thể tồn tại giữa các mối quan hệ giữa người với người, vì thế chủ trương tính thiện. Còn Tuân Tử chú trọng đến con người sống trong tập thể, cho rằng những chế ước bên ngoài chi phối cả tập thể mang tính tất yếu, không liên quan tới quyền của mỗi cá nhân, vì thế mới chủ trương tính ác. Nói một cách khác: Mạnh Tử nhấn mạnh phương diện luân lý, Tuân Tử nhấn mạnh phương diện chính trị, hay còn hiểu là xã hội. Khi Nho gia coi con người là tồn tại xã hội, tất nhiên không thể không quan tâm đến vấn đề mối quan hệ giữa người với người” [4, tr.22]. Đây là quan điểm có tính hợp lý đã được Tào Thượng Bân khi khai triển để chứng minh tính nhân bản của học thuyết Nho gia. Tào Thượng Bân đã khẳng định Nho học lấy nhân bản làm tôn chỉ và minh chứng bằng việc chỉ ra sự tỏa sáng của nhân học Khổng Tử. Thông qua sự chuyển hóa tư tưởng nhân bản học trong học thống nhân văn của Nho giáo Tiên Tần (từ Khổng Tử đến Mạnh Tử, Tuân Tử), Tào Thượng Bân còn chỉ ra phương thức thực hành các quy phạm giáo dục mang tính nhân bản của Nho học Tiên Tần: thi hành giáo dục đạo nhân và thực tiễn chính trị nhân bản. Theo sự phân tích của ông, “Tư tưởng Nho học thời Tiên Tần – tức học thuyết của Khổng Tử, từ đầu đến cuối, luôn lấy con người làm đối tượng và mục đích cuối cùng, cao cả nhất và trực tiếp nhất. Nói cách khác, muốn phát triển nhân tính, phát huy nhân lực, ủng hộ nhân quyền, bồi dưỡng nhân cách, phải từ trong 14 cuộc sống nhân sinh thể hiện ra chân lý, nên gọi là chủ nghĩa nhân văn. Ý nghĩa tinh túy của triết học Nho gia là đem niềm hy vọng của nền văn minh xây dựng trên sự hoàn thiện cá nhân. Về phương diện này chủ nghĩa nhân văn của triết học Nho gia và phương Tây dường như thống nhất…Mọi học thuyết khiến cho con người ngày càng hoàn mỹ hơn đều được coi là chủ nghĩa nhân văn (humanism), nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn này là sự thể hiện của ý thức chỉ thú lấy con người làm bản vị” [4, tr.140 -141]. Như vậy, Tào Thượng Bân đã khẳng định những nội dung mang tính nhân bản có trong học thống nhân văn Nho giáo. Tuy sử dụng cả “nhân bản” và “nhân văn” nhưng chưa thấy Tào Thượng Bân phân tách một cách rõ ràng phạm vi, tầng bậc giữa hai thuật ngữ này. Trong sự phân tích của ông, tư tưởng nhân bản của Nho học khiến cho con người hoàn mỹ hơn và vì thế học thuyết này được coi là chủ nghĩa nhân văn. Do đó, vấn đề này cần được tiếp tục luận chứng, lý giải một cách cụ thể và chi tiết hơn. Tóm lại, từ hướng tiếp cận thuật ngữ “nhân văn” để nghiên cứu Tư tưởng nhân văn của Nho giáo có thể thấy thành tựu căn bản là có một sự thống nhất khi đề cập đến tính nhân văn của Nho giáo. Minh chứng, phân tích và hệ thống các nội dung mang tính nhân văn có trong Nho giáo đã bước đầu đạt được những kết quả nhất định. Song đó mới chỉ là những tiếp cận phái sinh trong một nội dung lớn khác hoặc chỉ là cách gọi tên rồi minh chứng bằng một vài trích dẫn kinh điển. Bên cạnh đó, hầu hết các học giả ít khi khoanh vùng nội hàm khái niệm. Đôi khi, nhân văn, nhân bản, nhân đạo cũng có sự phân tách tương đối song chưa cụ thể. Các nội dung mang tính nhân văn được khai thác nếu không ôm trùm toàn bộ nội dung Nho giáo thông qua các đại biểu chính thì cũng là sự chọn lọc mang tính cá biệt. Tồn tại xã hội với tư cách là yếu tố làm nảy sinh và ảnh hưởng đến tư tưởng nhân văn của học thuyết gần như chưa được phân tích…Đây là những vấn đề mà luận án cần tiếp tục kế thừa và làm rõ. 1.1.2. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ 15 hướng tiếp cận nội dung, đại biểu của nó Các công trình nghiên cứu về nội dung, đại biểu Nho giáo là hệ thống tài liệu đồ sộ. Thông qua việc khảo cứu các tư liệu này có thể thấy, các tư tưởng nhân văn của Nho giáo đã được đề cập ở những mức độ nhất định. Sự thể hiện các tư tưởng này thông qua các đại biểu chính của Nho giáo như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử cũng đã được khai thác. Tuy nhiên, trong các công trình này, tư tưởng nhân văn của Nho giáo không được nghiên cứu với tư cách là nội dung độc lập mà là tư tưởng đơn lẻ, nằm đan xen hoặc tư tưởng phái sinh từ việc phân tích các tư tưởng khác. Quang Đạm trong “Nho giáo xưa và nay” đã đánh giá về những cống hiến chủ yếu đáng được nêu lên với xã hội cũ của Nho giáo và khẳng định: “Nho giáo đã có những cống hiến lớn bền bỉ và những cống hiến tích cực trong việc khuyên bảo dạy dỗ cho con người thương yêu đồng loại, cho người và người có quan hệ tốt với nhau, sống yên vui hòa thuận với nhau: Đạo đức nhân nghĩa lễ trí, đạo đức hiếu đễ trung tín, đạo đức yêu người, yêu thương rộng rãi mọi người…vv tuy có phần mơ hồ do sự hạn chế của những điều kiện lịch sử và xã hội đương thời, biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lành, tha thiết mong muốn làm cho con người tránh được, bớt được đau khổ, cùng nhau sống trong “bốn bể đều là anh em”. Phản đối giết chóc, căm ghét chiến tranh, Nho giáo đặt giáo dục đạo đức để thuyết phục và cảm hóa lên trên chính trị và hình phạt, và thường ước mơ đi tới cảnh “thiên hạ đại đồng” trong đó mọi chuyện bất công, bất bình, oan ức, tội lỗi sẽ không còn, và hạnh phúc yên vui sẽ đến với mọi người” [24, tr.458]. Nguyễn Thị Tuyết Mai trong “Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người” cũng đặt vấn đề: “Giá trị nhân sinh, thái độ nhân sinh và trách nhiệm nhân sinh của nhà nho còn được triển khai thành một vấn đề có tính nhân văn căn bản hơn, thiết dụng với mỗi cá nhân, đó là vấn đề sống để làm gì? Nói cách khác mục đích nhân sinh ra sao? Nêu lên mục đích nhân sinh là trình độ nhận thức riêng của con người. Con vật dù thông minh đến mấy cũng chỉ biết sống theo bản năng, sống theo tự nhiên, đến đâu hay đến đó” [89, tr.146] 16 GS.Trần Đình Hượu trong “Các bài giảng về tư tưởng Phương Đông” cho rằng: “Chủ nghĩa nhân đạo của Nho giáo quả thật là cao cả vì nó yêu thương con người. Thử nghĩ mà xem, cách đây 25 thế kỷ mà đã nói: người nào lần đầu tiên lấy hình con người mà tạc ông bù nhìn là xúc phạm con người, người đó không nên có con cái. Hoặc người nói rằng tôi không phải là chim, tôi không phải là thú mà tôi là con người, nếu con người không đau khổ thì tôi chạy vạy làm gì. Điều đó thì hết sức nhân đạo, là một tình cảm hết mực yêu thương con người. Nhưng ở đây có 3 điều mà tôi lưu ý: - Một là không đặt vấn đề đấu tranh cho công bằng, tự do và bình đẳng - Hai là không đấu tranh cho hạnh phúc - Ba là không dựa vào trí tuệ và sức lao động Như thế, rốt cuộc chủ nghĩa nhân đạo của Nho giáo chỉ là lòng thương vô bổ…Nhưng cũng không phải vì thế mà nói Nho giáo phản động; nó là nhân đạo nhưng cái nhân đạo của nó không thể phát triển” [53, tr.266] Như vậy, Trần Đình Hượu đã đặt ra vấn đề về mặt trái của chủ nghĩa nhân đạo Nho giáo và lý do chủ nghĩa nhân đạo này không thể phát triển được. Tất nhiên, ngoài những nguyên nhân nằm sẵn trong bản thân học thuyết, còn có những nguyên nhân khách quan khác. Vì thế, để hiểu được thực chất của vấn đề phải đặt Nho giáo trong bối cảnh lịch sử của chính nó. Đây là nguyên tắc căn bản để khai thác những tư tưởng nhân văn của Nho giáo của luận án. GS.Nguyễn Tài Thư trong “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” dành một chương bàn về “Nho giáo sơ kỳ và ảnh hưởng của nó đối với con người Việt Nam hiện nay” và cho rằng: “Có một vấn đề liên quan mật thiết với việc xác định và nhận diện ảnh hưởng của Nho giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, đó là ảnh hưởng của Nho giáo trong quan niệm về hạnh phúc của con người và về phương thức đạt tới hạnh phúc đó. Bởi vì xét toàn bộ lịch sử văn minh nhân loại thì từ xưa tới nay, quan niệm về hạnh phúc và phương thức đạt tới hạnh phúc đó của con người vốn đã chi phối cuộc đời của con người từ lối sống đến tâm linh, từ hành vi mưu sinh cho đến văn hóa ứng xử với đồng loại , với cả chính mình…Những vấn đề vừa 17 nêu ở trên lại liên hệ với vấn đề các giá trị phổ biến toàn nhân loại trong Nho giáo sơ kỳ” 131, tr.34-35. Bảng các giá trị toàn nhân loại của Nho giáo được khẳng định trong tác phẩm bao gồm: Thứ nhất, giá trị nhân văn trong việc phụng dưỡng cha mẹ, trong các khái niệm “hiếu” và “từ”, về “gia đình”; Thứ hai, trong yêu cầu phải biết tôn trọng sự sống và giá trị sự sống của con người; Thứ ba, trong việc chấp nhận khát vọng hạnh phúc của con người và cố hết sức tìm cách đáp ứng khát vọng hạnh phúc của con người. Việc đạt đến các giá trị toàn nhân loại này còn mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc bởi vì: “Dù trong Nho giáo sơ kỳ, khát vọng hạnh phúc của con người bị chế ước nặng nề trong lễ giáo tôn pháp đến thế nào đi chăng nữa, nhưng ở thời đại chúng ta khó có thể phủ nhận tính nhân văn mang giá trị toàn nhân loại của nó ở những điều cơ bản vừa phân tích trên. Bởi vì đó là những bước chập chững đầu tiên rất khó nhọc của sự tiến hóa của con người và loài người trong quá trình nhận thức về hạnh phúc và quá trình tìm kiếm phương thức đạp ứng khát vọng hạnh phúc vốn là bẩm sinh của con người” [131, tr.54]. Có thể thấy, những giá trị nhân văn của Nho giáo đã được nhận diện và bước đầu đi vào phân tích chứng minh bằng những luận cứ trích từ kinh điển. Đây thực sự là kết quả nghiên cứu có giá trị. Dùng bảng giá trị này làm để soi tìm, hoàn toàn có thể phát hiện các tư tưởng nhân văn của Nho giáo. Tuy nhiên chưa thấy các tác giả xâu chuỗi, hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển các giá trị toàn nhân loại này trong Nho giáo. Các dẫn chứng kinh điển còn mỏng. Điều kiện hình thành hay vấn đề thực tại của tính toàn nhân loại này (theo cách nói của chính các tác giả) tuy có được đề cập nhưng lại thiên về sự khảo sát ý thức hệ, sự tự nhận thức, sự suy tư chứ không phải là vai trò hay tác động của thực tiễn lịch sử xã hội lúc bấy giờ đối với các quan niệm của con người về sinh mệnh, gia đình, khát vọng hạnh phúc…Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu. 18 Khi đi vào từng đại biểu của Nho giáo, nói như Lý Tường Hải trong “Khổng Tử”: “Nho học là một loại “học vấn của đời sống”, sức sống nội tại của nó không thể không gắn liền với Khổng Tử, người sáng lập ra Nho học. Trong xã hội truyền thống, Khổng Tử được người ta suy tôn là thánh nhân, không chỉ bởi ông là một người thầy lớn có mặt từ rất sớm trong lịch sử Trung Quốc, mà là người thầy vĩ đại dẫn người Trung Quốc hoàn thành sinh mệnh riêng của mình. Mấy nghìn năm lại đây, Nho gia sở dĩ được lưu truyền như thế, không chỉ bởi mọi người khâm phục học vấn của Nho gia mà quan trọng hơn là, người ta kính trọng nhân cách Nho gia ở Khổng Tử, tiến đến gắn bó với Nho gia trên ý nghĩa sinh mệnh tồn tại. Khổng Tử đã để lại cho lịch sử nhân loại một tấm bia lớn về con người và nhân ái” 43, tr.11-12. Nguyễn Hiến Lê trong “Khổng Tử” cũng khẳng định: “Muốn đánh giá công của một triết gia nào phải đặt họ vào thời đại của họ, xét xem họ đã làm được gì hơn người trước, gợi ý được gì cho người sau, chứ đừng xét học thuyết của họ, một hai ngàn năm sau, còn hợp thời hay không; theo nguyên tắc đó thì chúng ta phải nhận rằng công của Khổng Tử rất lớn, nhất là về phương diện luân lý. Khắp thế giới ai cũng trọng ông là một luân lý gia có tinh thần nhân bản (humanisme) cao. Ông yêu con người, tin ở bản tính con người có thể cải hóa được; ông trọng sự nhân ái, sự công bằng, tặng nhân loại một hệ thống luân lý hợp tình người, để lặp lại trật tự xã hội, thay đổi thế giới” [74, tr.225]. Phạm Đình Đạt trong “Học thuyết tính thiện của Mạnh Tử với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay” đã chỉ ra rằng: “Học thuyết tính thiện của Mạnh Tử, tuy cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng nếu gạt bỏ những hạn chế về điều kiện lịch sử và dấu ấn của lợi ích giai cấp…, nó vẫn còn có những giá trị toàn nhân loại phổ biến nhất định: Một là, đã phát hiện ra bản chất tốt đẹp của con người – bản tính thiện và tin tưởng, về bản chất ai cũng có thể trở thành thánh thiện. Điều đó có ý nghĩa xã hội tích cực và tính nhân văn sâu sắc…Rõ ràng với sự cố gắng khắc phục và vượt qua đẳng cấp danh phận xã hội ở chừng mực nhất định và sự khẳng định rằng co người sinh ra vốn bình đẳng về bản tính, 19 Mạnh Tử đã đặt niềm tin vào sự vươn lên của con người…”[ 29, tr.154-155]. Phạm Đình Đạt tập trung vào việc phân tích nguồn gốc, nội dung cơ bản trong học thuyết tính thiện của Mạnh Tử để minh chứng về ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt hiện nay. Chính trong quá trình ấy, bản tính thiện của con người và khả năng quay về với bản tính thiện ấy được thể hiện như một tư tưởng nhân văn vì con người. Điều này hoàn toàn có cơ sở để tiếp tục khai thác bởi lẽ từ Khổng Tử đến Mạnh Tử, Tuân Tử đều bàn về bản tính. Như vậy, khi đi vào nghiên cứu các nội dung của Nho giáo qua từng đại biểu riêng biệt, các tư tưởng nhân văn của Nho giáo đã được tiếp cận và nhận diện ở những phạm vi nhất định. Nếu việc nghiên cứu các đại biểu riêng lẻ chỉ đem lại sự nhặt nhạnh một vài tư tưởng nhân văn để khẳng định tư tưởng nhân văn Nho giáo có tồn tại thì việc nghiên cứu nội dung của Nho giáo qua các ấn phẩm kể trên về cơ bản đã hệ thống được các giá trị nhân văn mang tính phổ quát. Tuy vậy, cơ sở nảy sinh, diễn tiến thay đổi và phát triển các tư tưởng này cũng như các minh chứng kinh điển của chúng chưa được đề cập hoặc chỉ mới ở mức độ rất hạn chế. Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để đạt đến những chất lượng cao hơn. 1.2. Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, tư tưởng nhân văn của Nho giáo nói riêng trong tư tưởng Nguyễn Trãi Tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng như công lao của ông trong lịch sử đã được giới nghiên cứu khai thác từ sớm trong tiến trình lịch sử. Tuy nhiên, nói như GS.Trần Văn Giàu, mặc dù “Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng được nhiều người nghiên cứu và đã được nghiên cứu từ hàng chục năm nay, nhưng việc nghiên cứu đó ta chưa thể xem là xong rồi. Nếu nói rằng chúng ta bắt đầu thì có lẽ đúng hơn”40, tr.506. Sự bắt đầu này hoàn toàn có thể đi đến thành công nhờ có một khối lượng tư liệu đồ sộ. Đặt trọng tâm ở việc khảo cứu sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn của Nho giáo trong tưởng Nguyễn Trãi, luận án chỉ khoanh vùng 20
- Xem thêm -