TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 43 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT MÃ SỐ: CS.2010. 19.81 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI TS. NGUYỄN CHƯƠNG NHIẾP TP. HỒ CHÍ MINH- NĂM 2011 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................6 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ............................................................................................. 6 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI...................................................................................... 8 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU......................................................................... 9 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 9 5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................................................................................... 9 Chương 1: NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT ........................11 1.1. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật ............................................................................................................................................... 11 1.1.1. Những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại .................. 11 1.1.2. Tiếp thu, kế thừa và phát triển phép biện chứng duy vật của C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I. Lênin................................................................................................................................. 14 1.1.3. Phẩm chất và tài năng của Hồ Chí Minh...................................................................... 17 1.2. Đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật....................................................................................................................................................... 19 1.2.1. Tính sáng tạo .................................................................................................................... 20 1.2.2. Tính thiết thực................................................................................................................... 25 1.2.3. Tính giản dị ....................................................................................................................... 29 Chương 2. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT ...............................................................35 2.1. Tư tưởng về nhận thức và vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ...................... 35 2.1.1. Về mối liên hệ phổ biến ................................................................................................... 35 2 2.1.2. Về bệnh cận thị ................................................................................................................. 39 2.2. Tư tưởng về nhận thức và vận dụng nguyên lý về sự phát triển .................................... 42 2.2.1. Về sự phát triển................................................................................................................. 42 2.2.2. Về bệnh bảo thủ và bệnh máy móc, giáo điều .............................................................. 44 2.3. Tư tưởng về nhận thức và vận dụng các quy luật cơ bản của phép biện chứng ......... 48 2.3.1. Vấn đề mâu thuẫn và phủ định biện chứng................................................................... 48 2.3.2. Về bệnh tả khuynh và hữu khuynh.................................................................................. 51 2.4. Tư tưởng về nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa cái khách quan và cái chủ quan................................................................................................................................................... 52 2.4.1. Khách quan và chủ quan ................................................................................................. 52 2.4.2. Về bệnh chủ quan và bệnh thành tích ............................................................................ 52 2.5. Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” .................................................................................. 53 KẾT LUẬN .............................................................................................................55 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................57 HẦN PHỤ LỤC ......................................................................................................59 3 TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật Mã số: CS. 2010. 19. 81 Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Chương Nhiếp Tel: 0913692024 E-mail: chuongnhiep@gmail.com Cơ quan chủ trì đề tài : Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện : Không Thời gian thực hiện: Từ tháng 4/ 2010 đến tháng 4/ 2011 1. Mục tiêu: Khảo sát và lý giải tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật 2. Nội dung chính: - Nguồn gốc và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biên chứng duy vật. - Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật. - Kinh điển tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật (phụ lục). 3. Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế-xã hội): - Báo cáo khoa học. - Đĩa CD về các tư liệu đã khảo sát. - Bài báo khoa học 4 SUMMARY Project Title: Thoughts of Ho Chi Minh on the cognition and the application materialist dialectic Code number: CS. 2010. 19. 81 Coordinator: Implementing Institution : Faculty of Education, HCM city University of Pedagogy Cooperating Institution(s) Duration: from April 2010 to April 2011 1. Objectives: 2. Main contents: 3. Results obtained: Science reported: “Thoughts of Ho Chi Minh on the cognition and the application materialist dialectic” 5 PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Phép biện chứng duy vật- bộ phận quan trọng cấu thành của triết học Mác- Lênin, là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, triệt để nhất và không phiến diện, là phương pháp luận chung nhất của nhận thức và thực tiễn, là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa khoa học và cách mạng, giữa tính đảng và tính sáng tạo. Cùng với lý luận duy vật biện chứng thì phép biện chứng duy vật là sự kết tinh của tư duy nhân loại và là giá trị bất hủ, trường tồn của triết học Mác- Lênin. Nghiên cứu phép biện chứng duy vật nói riêng, triết học Mác- Lênin nói chung chính là nhằm lĩnh hội khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, là nhằm tiếp thu, nắm lấy phương pháp luận chung nhất của nhận thức và thực tiễn để tránh những va vấp, sai lầm, nâng cao hiệu quả của thực tiễn. Tuy nhiên, nhiều sinh viên, cán bộ, đảng viên trong khi tiếp xúc với di sản quý báu này, khi học tập, nghiên cứu phép biện chứng duy vật, họ mới chỉ dừng lại ở câu chữ, theo kiểu học thuộc lòng mà không nắm được tinh thần cơ bản, không hiểu được thực chất cách mạng và khoa học của phép biện chứng duy vật, do vậy, trong nhận thức và hành động, không những không quán triệt đầy đủ mà nhiều khi còn làm trái với tinh thần của phép biện chứng duy vật, vì thế đã mắc phải những sai lầm đáng tiếc. Những căn bệnh trầm trọng hiện nay như bệnh thành tích, bệnh chủ quan, duy ý chí, bệnh “cận thị”, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều,… chính là biểu hiện của việc không nắm vững, không nhận thức đúng đắn, không quán triệt đầy đủ tinh thần khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật. Nhờ sớm đến với chủ nghĩa Mác- Lênin mà Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc ta, nhân dân ta, Hồ Chí Minh cũng là người sáng lập và lãnh đạo Đảng và nhà nước ta. Sinh thời, Người không chỉ quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân mà còn hết sức chăm lo “sửa đổi lối làm việc”, Người đặc biệt quan tâm và đề cao việc huấn luyện cho cán bộ, đảng viên phương pháp nhận thức và vận dụng các nguyên lý của triết học Mác- Lênin, trong đó có phép biện chứng duy vật. 6 Không như các nhà triết học, cũng không giống như một chính khách, một nhà hùng biện thường làm, Hồ Chí Minh có cách nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật hết sức độc đáo, tài tình, giản dị mà sâu sắc; ngắn gọn, súc tích mà hết sức sinh động, dễ hiểu; bàn đến những nguyên lý triết học trừu tượng mà vẫn rất cụ thể, rất gần gũi với cuộc sống, vẫn không khoa trương, màu mè. Tính độc đáo, tài tình của Hồ Chí Minh trong việc nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật đã được Người thể hiện một cách cụ thể, sinh động trong các bài viết, bài nói chuyện của Người tại các cuộc gặp gỡ với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân và chính trong suốt cuộc đời hoạt động, lãnh đạo cách mạng của Người. Chính sự độc đáo, tài tình trong việc nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật đã giúp Hồ Chí Minh lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác, bao thử thách có lúc tưởng chừng như “ngàn cân treo sợi tóc” để cập bến bờ thắng lợi và trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người thầy của cách mạng Việt Nam và là danh nhân văn hóa thế giới. Đáng tiếc là một vấn đề lớn và vô cùng quan trọng như vậy của di sản tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn chưa được chúng ta quan tâm khai thác, chưa đầu tư nghiên cứu đúng mức để trước hết, phục vụ cho việc dạy và học phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này; mặt khác, giúp hướng dẫn cán bộ, đảng viên áp dụng một cách đúng đắn và sáng tạo phép biện chứng duy vật vào thực tiễn xã hội Việt Nam, trong khi đó, hiện nay việc nhận thức và vận dụng phép biện chứng vẫn còn nhiều hạn chế và lệch lạc, việc dạy và học triết học Mác- Lênin trong các trường đại học vẫn còn nhiều yếu kém, khuyết điểm. Đây là thiếu sót và cũng là trách nhiệm của những người làm công tác nghiên cứu chúng ta. Trước tình hình đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 27 tháng 3 năm 2003 đã chỉ thị: “Bước sang thế kỷ XXI, đất nước ta có cơ hội lớn, nhưng đang đứng trước những thách thức không nhỏ, tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, khó lường. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó việc tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Đảng, cần được toàn Đảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả”. 7 Để thực hiện những yêu cầu đó đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc dạy và học triết học Mác- Lênin trong các trường đại học cũng như những lệch lạc, bất cập trong việc vận dụng phép biện chứng duy vật hiện nay, việc nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật” là hết sức cần thiết. Nó không chỉ có ý nghĩa thời sự trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà còn góp phần thiết thực trong việc giảng dạy và học tập môn Triết học, giúp cho người dạy và người học thấy được thiên tài Hồ Chí Minh, học được ở Người phương pháp nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật trong những điều kiện lịch sử- cụ thể nhằm hiểu sâu sắc hơn, vận dụng có hiệu quả hơn những nguyên lý triết học Mác- Lênin vào cuộc sống cũng như vào sự nghiệp đổi mới hiện nay. 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản đồ sộ, có nội dung hết sức phong phú và càng ngày chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của nó không chỉ đối với quá khứ mà cả với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay. Chính vì vậy mà ngày càng có nhiều người, nhiều công trình quan tâm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy vậy, từ trước đến nay khi đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu thường tập trung quan tâm đến tư tưởng đạo đức, tư tưởng về dân tộc và Cách mạng giải phóng dân tộc, tư tưởng về Cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tư tưởng về xây dựng Đảng, tư tưởng về liên minh công-nông, tư tưởng về đoàn kết quốc tế, tư tưởng quân sự và chiến tranh nhân dân; tư tưởng Đại đoàn kết; tư tưởng văn hóanghệ thuật, tư tưởng về giáo dục, v.v… nhưng rất ít khi và ít công trình nói đến tư tưởng về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật. Thực ra, cho đến nay đã có một số cuốn sách, một số bài viết của các học giả trong nước viết về những khía cạnh khác nhau của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh liên quan đến đề tài này. Trong số đó phải kể đến các cuốn: Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh (NXB lý luận chính trị, 2004) của tập thể tác giả do Đặng Xuân Kỳ chủ biên, cuốn Minh triết Hồ Chí Minh (NXB Thanh niên, 2007) của Vũ Ngọc Khánh và các bài viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều” của tác giả Trần Văn Phòng, bài “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của tác giả Song Thành và 8 bài viết của phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu “Vấn đề phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLênin và nâng lên tầm cao mới trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam của Hồ Chí Minh”… Nhìn chung các công trình cũng như bài viết của những tác giả trên đây đã ít nhiều nêu lên và phân tích được một số tư tưởng triết học Hồ Chí Minh như tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng về giải quyết mâu thuẫn, tư tưởng về dĩ bất biến ứng vạn biến,…Tuy vậy, có thể nói, từ trước đến nay chưa hề có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, tập trung và có hệ thống tư tưởng về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật của Hồ Chí Minh. Bởi thế, nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật” là công trình hoàn toàn mới mẻ, không bị trùng lặp. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật. - Nhiệm vụ nghiên cứu: 1. Khảo sát, tập hợp tư liệu về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật của Hồ Chí Minh. 2. Phân tích, xử lý, hệ thống hóa tư liệu về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật của Hồ Chí Minh. 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trên cơ sở lý luận triết học Mác- Lênin và phương pháp luận biện chứng duy vật, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp… 5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản hết sức đồ sộ, phong phú, bao gồm nhiều mảng, nhiều lĩnh vực khác nhau, do yêu cầu về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, công trình chỉ tập trung 9 khai thác di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật qua các bài nói, bài viết của Người được tập hợp, thể hiện trong Hồ Chí Minh toàn tập, gồm 12 tập. 10 Chương 1: NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.1. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật Cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật, một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện từ các nguồn gốc: tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh hoa văn hóa của nhân loại, chủ nghĩa Mác- Lênin, những phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh. 1.1.1. Những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Cũng như bao nhiêu lĩnh vực khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật không phải là sản phẩm thuần túy tư biện được hình thành một cách ngẫu nhiên. Sẽ không thể xác định đúng nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật nói riêng nếu không nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc con người Hồ Chí Minh và những điều kiện, hoàn cảnh mà Hồ Chí Minh từng sinh ra, lớn lên và chịu ảnh hưởng. Với cách đặt vấn đề như thế, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật là kết quả tổng hợp từ một loạt những yếu tố khách quan và chủ quan, trước hết là sự kế thừa những giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam và những tinh hoa văn hóa nhân loại ‘ Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống, trước hết là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tự lực tự cường được hun đúc qua hàng ngàn năm giữ nước và dựng nước. Không như các quốc gia dân tộc khác, dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm không phải chỉ từ sự phân hóa giai cấp sâu sắc mà chủ yếu là do nhu cầu của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và yêu cầu chống chọi với thiên tai nghiệt ngã trong suốt chiều dài lịch sử. Trải qua hàng ngàn năm bồi đắp, tôi luyện, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành giá trị tinh thần và là tinh hoa văn hóa của dân tộc. 11 Cùng với chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tự lực tự cường thì tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng được hình thành và củng cố trong quá trình dựng nước và giữ nước cũng trở thành giá trị truyền thống tốt đẹp. Bên cạnh đó, những phẩm chất dũng cảm, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, sản xuất, chiến đấu luôn tiếp biến những giá trị văn minh của nhân loại đề bảo tồn dân tộc và phát triển đất nước. Chính chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất, tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, đức tính dũng cảm, thông minh, cần cù, sáng tạo - những tinh hoa văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc là cơ sở và cũng là bộ lọc để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa MácLênin trong đó có phép biện chứng duy vật. Bởi thế, Hồ Chí Minh từng nói: “Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin và Quốc tế thứ ba”. Những tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc mới chỉ là cơ sở, chứ chưa phải là động lực, cái tạo nên động lực mạnh mẽ thôi thúc Hồ Chí Minh sớm rời bỏ quê hương, bôn ba nơi trời Tây để tìm đường cứu nước, từ đó Người đến với chủ nghĩa Lênin, đến với phép biện chứng duy vật chính là thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước vẫn là một quốc gia lạc hậu, trì trệ. Chế độ phong kiến đã đến thời kỳ mục ruỗng, suy tàn, triều đình nhà Nguyễn ra tay áp bức, bóc lột ngày một nặng nề. Song song với việc tăng cường áp bức, bóc lột, triều đình nhà Nguyễn cũng thực thi một chính sách bảo thủ, cực đoan, cự tuyệt với mọi cải cách, đóng cửa với bên ngoài. Chính chính sách bảo thủ, cực đoan của triều đình nhà Nguyễn đã làm cho đất nước vốn đã lạc hậu, trì trệ lại càng trở nên lạc hậu, trì trệ hơn. Cự tuyệt đối với cải cách, với mở cửa làm cho quốc gia càng thêm nghèo đói, thiếu tiềm lực vật chất để có thể đối phó với địch họa, thiên tai vẫn thường xuyên rình rập. Tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân làm cho quần chúng nhân dân càng thêm bất bình, phẫn nộ, nên không tạo ra được sức mạnh đoàn kết để đương đầu với hiểm họa ngoại xâm, trong khi đoàn kết vốn là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, nhờ đoàn kết mà chúng ta đã tạo nên sức mạnh thần kỳ, đưa quốc gia vượt qua bao khó khăn, thử thách, đánh thắng kẻ thù, đuổi sạch quân xâm lược, giữ vững độc lập dân tộc. Trước tình đó, triều đình nhà Nguyễn bạc nhược, lúc đầu thì chống cự yếu ớt, sau đó là 12 từng bước nhân nhượng, cầu hòa và cuối cùng là chấp nhận đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của Pháp trên đất nước ta để giữ lấy ngai vàng và lợi ích riêng của hoàng tộc. Từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp phát triển và lan rộng trong cả nước. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang do các sĩ phu, văn thân như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích,…nổ ra khắp nơi cho thấy tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sôi sục của nhân dân ta. Tuy vậy những cuộc khởi nghĩa vũ trang ấy rốt cuộc đều thất bại. Sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX cho thấy sự lỗi thời, bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trước yêu cầu của lịch sử. Đầu thế kỷ XX, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam bắt đầu có sự chuyển biến và phân hóa, các tầng lớp tiểu tư sản và mầm mống của giai cấp tư sản đã bắt đầu xuất hiện. Phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp của các tầng lớp nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Một loạt phong trào yêu nước chống Pháp của các nhà nho yêu nước như phong trào Đông Du (1904- 1908) do Phan Bội Châu khởi xướng, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ( 1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh đạo, phong trào Duy Tân ( 1906- 1908) do Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp lãnh đạo,.. liên tiếp xuất hiện nhưng cũng lần lượt thất bại. Vừa lớn lên, Nguyễn Tất Thành đã phải xót xa chứng kiến nỗi thống khổ trong thân phận nô lệ của người dân mất nước cũng như sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp của các nhà Nho đương thời. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh sớm nhận ra rằng con đường cứu nước, giải phóng dân tộc sẽ rơi vào bế tắc nếu tiếp tục tiến hành theo cách cũ. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì cần phải tìm ra con đường mới, với phương pháp tiến hành cách mạng mới. Đó chính là động lực quan trọng thôi thúc Hồ Chí Minh tìm đến nước Pháp và sau đó tìm đến với chủ nghĩa Lênin. Người nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. [10,128] Bởi vì Hồ Chí Minh nhận thấy: “Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng”. 13 Chính yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thôi thúc Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước, từ đó Người đã đến với chủ nghĩa Lênin và đến với phép biện chứng duy vật. 1.1.2. Tiếp thu, kế thừa và phát triển phép biện chứng duy vật của C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I. Lênin Khi Hồ Chí Minh rời bỏ quê hương ra đi tìm đường cứu nước thì ở châu Âu, chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng đã định hình. Phép biện chứng duy vật do Mác- Ăng ghen xây dựng từ nửa cuối thế kỷ XIX trên cơ sở kế thừa một cách có phê phán phép biện chứng duy tâm của Hê ghen và được Lênin bổ sung, phát triển vào đầu thế kỷ XX. Phép biện chứng duy vật là học thuyết về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, là phương pháp luận phổ biến của nhận thức và thực tiễn. Bởi thế, đến với phép biện chứng duy vật, Người tìm thấy ở đó một “cẩm nang thần kỳ”, một “kim chỉ nam” cho hoạt động cách mạng. Đầu thế kỷ XX, khi mới lớn, chàng thanh niên đã được thừa hưởng vốn hiểu biết sâu rộng từ bố, mẹ, từ gia đình khoa bảng, thừa hưởng nét văn hóa của vùng quê nổi tiếng “địa linh nhân kiệt”, đặc biệt, Người đã tiếp thu được những tinh hoa văn hóa của một dân tộc giàu truyền thống. Trong những tinh hoa văn hóa của vùng quê xứ Nghệ, của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí Minh kế thừa có những tư tưởng biện chứng tự phát. Chỉ đến khi sang châu Âu, tiếp xúc với chủ nghĩa Mác- Lênin, làm quen với phép biện chứng duy vật thì Hồ Chí Minh mới bắt đầu hình thành tư tưởng về phép biện chứng duy vật. Có thể nói không có phép biện chứng duy vật, không tiếp xúc với chủ nghĩa Mác- Lênin thì cũng không có tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp, giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật. Hệ thống các nguyên lý, các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới khách quan mà còn vạch ra những nguyên tắc định hướng cho con người trong việc nhận thức và hoạt động thực tiễn. Phép biện chứng duy vật không chỉ là kết quả của sự kế thừa một cách có chọn lọc những tinh hoa trong trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học nhân loại mà còn là sự đúc kết những 14 thành tựu khoa học cụ thể và sự khái quát thực tiễn cách mạng phong phú, sinh động của giai cấp công nhân nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Bao gồm hai nguyên lý cơ bản, các cặp phạm trù và những quy luật cơ bản, phép biện chứng duy vật vừa là học thuyết duy vật biện chứng vừa là lý luận nhận thức và logic học, nó trình bày một cách chân thực, đúng đắn và có hệ thống tính chất biện chứng của thế giới khách quan. Trong khi vạch ra tính chất biện chứng của thế giới khách quan, thông qua những nguyên lý, những phạm trù, những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật vạch ra những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo con người trong việc hoạch định chủ trương, chính sách, phương pháp cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn. Phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin có nội dung hết sức phong phú, là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, bao gồm hai nguyên lý có tính chất bao trùm. Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng và nguyên lý về sự phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng khẳng định rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới không tồn tại một cách cô lập, tách rời, trái lại giữa chúng luôn có mối liên hệ, có sự ràng buộc, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau. Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng không phải là sự gán ghép chủ quan nào đó của con người, mà là những mối liên hệ khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng, bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới. Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng chẳng những có tính khách quan mà còn có tính phổ biến và tính đa dạng, phức tạp, nghĩa là mối liên hệ tồn tại khắp mọi lúc, mọi nơi, mọi sự vật, đồng thời mối liên hệ cũng muôn hình, muôn vẻ, chúng khác nhau không chỉ ở vị trí, về đặc điểm, về bản chất, chức năng… Chính vì mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cho nên quán triệt quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn thiển cận, lối xem xét một chiều, phiến diện. Khác với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, trong quá trình đó, phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng. Vì vậy quán triệt quan điểm phát triển là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất của nhận thức và thực tiễn. Nguyên tắc này đòi hỏi trong nhận thức và thực tiễn phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và 15 phát triển của nó, phải nhận thức đúng cái mới và ủng hộ cái mới, đồng thời tư duy phải mềm dẻo, linh hoạt, năng động. Ngoài hai nguyên lý cơ bản, phép biện chứng duy vật còn bao gồm các quy luật cơ bản và các quy luật không cơ bản. Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ( còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng. V.I. Lênin viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm”. [13,240] Thông qua việc phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn ở bên trong sự vật, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Chính vì vậy, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đòi hỏi chúng ta phải nắm vững nguyên tắc mâu thuẫn trong nhận thức và thực tiễn mà yêu cầu cơ bản của nguyên tắc này là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn đồng thời phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách khoa học, đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo, gắn liền với những mâu thuẫn cụ thể trong một tình hình cụ thể. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn tới những thay đổi về chất và ngược lại (còn gọi là quy luật lượng đổi- chất đổi) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Thông qua việc phản ánh quá trình thay đổi dần dần về lượng khi vượt qua độ và đạt tới điểm nút thì tạo ra bước nhảy làm thay đổi cơ bản về chất, quy luật lượng đổi- chất đổi vạch ra cách thức của sự phát triển. Chính vì vậy, quy luật lượng đổi- chất đổi là cơ sở phương pháp luận chung nhất cho quá trình thúc đẩy sự phát triển, tránh thái độ bảo thủ trì trệ cũng như chủ quan, nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn, đồng thời trong nhận thức cũng như trong thực tiễn cần vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy để đẩy nhanh quá trình phát triển. Quy luật phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng phát triển đi lên theo hình thức xoáy ốc, phản ánh tính kế thừa, tính chu kỳ và tính tiến lên của quá trình phát triển. Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn. Nguyên tắc phủ định biện chứng đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và thực tiễn, để bảo đảm sự phát triển cần phải biết kế thừa một cách có phê phán, có chọn lọc, tránh thái độ tả khuynh- phủ định sạch trơn cũng như hữu khuynh- kế thừa tất cả. 16 Ngoài các nguyên lý và những quy luật cơ bản, phép biện chứng duy vật còn bao gồm các cặp phạm trù hay còn gọi là các quy luật không cơ bản. Cũng như các quy luật cơ bản, các cặp phạm trù là sự cụ thể hóa của hai nguyên lý. Nếu như hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật phản ánh một cách bao quát tính chất biện chứng chung nhất của thế giới thì các cặp phạm trù và quy luật là lý luận nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến và sự phát triển trong thế giới các sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể. Chính vì vậy, các cặp phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là là sự cụ thể hóa quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử- cụ thể trong các lĩnh vực hoạt động nhận thức và thực tiễn. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật bắt nguồn chủ yếu từ chủ nghĩa Mác - Lênin mà cụ thể là phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin nhưng không hoàn toàn đồng nhất với phép biện chứng duy vật, mà là sự tổng hòa, sự kết hợp giữa giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại với phép biện chứng duy vật và những phẩm chất, tài năng của Hồ Chí Minh, trên nền tảng của phép biện chứng duy vật. Như trên đã phân tích, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật là kết quả tất nhiên của lịch sử cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đồng thời là sản phẩm của tài năng, của tư chất thông minh Hồ Chí Minh 1.1.3. Phẩm chất và tài năng của Hồ Chí Minh Như trên đã nói, phép biện chứng duy vật được C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng từ giữa thế kỷ XIX và trước Hồ Chí Minh đã có nhiều người ra đi tìm đường cứu nước, nhưng tại sao chỉ có Hồ Chí Minh mới tiếp cận được với chủ nghĩa Mác- Lênin, mới nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật một cách có hệ thống? Có thể nói, ngoài những yếu tố, những điều kiện khách quan như vừa trình bày ở trên (tinh hoa văn hóa dân tộc, hoàn cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác- Lênin, của phép biện chứng duy vật), tư tưởng về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật còn là kết quả tất yếu của những phẩm chất cá nhân, của tài năng Hồ Chí Minh. Không có những phẩm chất cá nhân đặc biệt, không có tài năng vượt trội của Hồ Chí Minh thì cũng không thể có tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật nói riêng. 17 Hồ Chí Minh ra đời trong một gia đình nhà Nho yêu nước, nơi một vùng quê nổi tiếng, có truyền thống hiếu học. Thân phụ của ông là người người học rộng, đỗ đến phó bảng. Những người đứng hàng phụ chấp của Hồ Chí Minh cũng đều là những chí sĩ uyên thâm về Nho học. Bản thân Hồ Chí Minh hồi nhỏ được theo học chữ Hán, tuy không đỗ đạt cao nhưng cũng đạt đến sự thuần thục nhất định. Người đến với Nho giáo nhưng không tự biến mình thành nhà Nho, không phụ thuộc vào Nho giáo. Những cái gì hay của Nho giáo đã được lịch sử và thực tiễn Việt Nam gạn lọc thì Hồ Chí Minh tiếp nhận và nâng cao, như tư tưởng dân là gốc nước (“dân vi bang bản”), vấn đề chăm lo đời sống cho dân (“túc thực, túc binh, dân ái, dân tín, chí hĩ”), vấn đề khắc kỷ, tu thân, vấn đề trung, hiếu…, còn những gì hạn chế của Nho giáo, như vấn đề coi thường phụ nữ, vấn đề hạ thấp, coi khinh lao động chân tay, vấn đề phân biệt đẳng cấp,… thì Người không nhắc đến hoặc phê phán rõ ràng. Không chỉ có Nho giáo, Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến Phật giáo. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất và có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam, đặc biệt vào thời đầu xây dựng nhà nước độc lập của nhà Lý- Trần. Phật giáo được coi như quốc giáo và đã có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hình thành nên những nét văn hóa đặc sắc trong giai đoạn này. Những tư tưởng từ bi, vị tha, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân,.. cũng đã được Hồ Chí Minh gạn lọc, tiếp thu. Khi trưởng thành, Người vẫn tiếp tục tìm hiểu văn hóa phương Đông, đặc biệt là những trào lưu tư tưởng mới ở Ấn Độ và Trung Hoa mà điển hình là tư tưởng của M. Găng đi và chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn. Người tìm thấy ở chủ nghĩa tam dân “những điều thích hợp với điều kiện nước ta” đó là tư tưởng về dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Từ đó cho thấy, ngay từ bé, Hồ Chí Minh đã thể hiện những phẩm chất và tài năng của một vị lãnh tụ sau này, Người thật sự cầu thị, luôn chịu khó học hỏi nhưng vẫn có tư duy độc lập khi đánh giá và tiếp thu các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tinh hoa văn hóa nhân loại. Người nói: "Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê-su, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội...". 18 Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy". Sau này, khi bôn ba tìm đường cứu nước chính là thời gian Người được tiếp xúc với văn hóa và khoa học phương Tây. Với sự nỗ lực rèn luyện và học tập, tham gia không biết mệt mỏi vào phong trào công nhân, tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp, Người đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn minh, nói và viết thông thạo nhiều thứ ngôn ngữ. Nhờ vậy, Người chiếm lĩnh được những tri thức tiên tiến của thời đại, những kinh nghiệm phong phú của nhân loại, đặc biệt là những kinh nghiệm đấu tranh trong phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chính điều đó đã hun đúc nên một Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng với óc phê phán tinh tường làm cho Người trở nên hết sức sáng suốt khi tiếp nhận tinh hoa văn hóa của bốn phương, nhân loại. Cùng với tư duy độc lập, sáng tạo, óc phê phán tinh tường, ở Hồ Chí Minh còn có một trái tim nhân hậu, một tâm hồn nhạy cảm, một tình yêu bao la, yêu quê hương, yêu đất nước, yêu con người. Tất cả những điều đó đã làm nên một minh triết Hồ Chí Minh- cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung trong đó có tư tưởng về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật. 1.2. Đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật Điều quan trọng nhất ở Hồ Chí Minh, cái làm nên nhân cách vĩ đại, nên nét riêng ở con người Hồ Chí Minh là lời nói đi đôi với việc làm, nhận thức và thực tiễn là gắn bó khăng khít, tư tưởng và hành động là luôn thống nhất với nhau. Chính điều đó đòi hỏi chúng ta khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không được tách rời với cuộc sống và hoạt động của Người. Phép biện chứng duy vật qua lăng kính của Người không chỉ được bộc lộ qua lời nói mà còn qua hành động, không chỉ thể hiện ở các bài viết, bài huấn luyện mà cả ở trong quá trình lãnh đạo cách mạng, trong cuộc sống của Hồ Chí Minh. Với cách đặt vấn đề như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật có các đặc điểm cơ bản: tính sáng tạo, tính thiết thực và tính giản dị. 19 1.2.1. Tính sáng tạo Biểu hiện rõ nhất, sinh động nhất của tính sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật nói riêng là chống giáo điều, chống rập khuôn, máy móc từng câu, từng chữ của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin. Trong di sản tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh nói rất nhiều, rất sâu sắc và đấu tranh không khoan nhượng với bệnh máy móc, giáo điều. Là người lãnh đạo, Hồ Chí Minh nhận thấy bệnh máy móc, giáo điều đã ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách làm, đến năng lực nhận thức và hành động, đến sự tiến bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Người nói: “Từ trước tới nay, Đảng ta đã cố gắng liên hệ chặt chẽ chủ nghĩa Mác- Lênin với thực tế cách mạng Việt Nam. Cán bộ và đảng viên ta nói chung đều có phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn nhiều khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, tác phong quan liêu, chủ nghĩa cá nhân…. Những khuyết điểm ấy ngăn trở sự tiến bộ của các đồng chí chúng ta. Chúng ta phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác- Lênin… Chúng ta phải ra sức học tập có sáng tạo kinh nghiệm của các đảng anh em”. [10,201] Người không chấp nhận cách nghĩ, cách làm việc máy móc, giáo điều, thiếu sáng tạo. Người coi cách nghĩ, cách làm việc máy móc, giáo điều là một thứ bệnh có hại cho công việc cách mạng cần phải khắc phục, loại bỏ. Đáng tiếc rằng, không ít cán bộ ta, trong nhiều lĩnh vực công tác thường mắc phải căn bệnh này. Chẳng hạn, trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhiều cán bộ, đảng viên ta vẫn chưa thoát ra khỏi bệnh giáo điều sách vở. Bác chỉ ra và nhắc nhở: “Cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng thì khệnh khạng như “ ông quan”. Lúc khai hội thì trăm lần như một: “ Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, thảo luận, phê bình, giải tán”. “Ông cán” làm cho một “tua” hai, ba giờ đồng hồ. Nói gì đâu đâu.. Còn công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó thì không động đến”. [5,247] Máy móc đến mức: “ Có cán bộ đem “ kinh tế học” huấn luyện cho chị em phụ nữ thôn quê ở thượng du”. [5,248] Bởi thế, trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, muốn làm cho quần chúng hiểu được đường lối chủ trương của Đảng, từ đó mà làm theo thì cán bộ làm công tác tuyên 20
- Xem thêm -