Tư tưởng của Erich Fromm về tự do trong tác phẩm Trốn thoát tự do

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VĂN HỌC TƯ TƯỞNG CỦA ERICH FROMM VỀ TỰ DO TRONG TÁC PHẨM “TRỐN THOÁT TỰ DO” LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học Mã số: 60220301 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ MINH HỢP Hà nội – 2015 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đỗ Minh Hợp. Tôi xin cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn thạc sĩ nào đã được công bố ở Việt Nam. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài. Người cam đoan Nguyễn Văn Học 3 LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Đỗ Minh Hợp, hiện đang công tác tại Viện triết học, đã hướng dẫn em hoàn thành luận văn này. Đồng thời, em cũng chân thành cảm ơn sự tận tình chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, và tất cả người thân, bạn bè đã luôn sát cánh giúp đỡ, trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn vừa qua. Em xin chân thành cám ơn! 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội phương Tây hiện đại, con người được giải phóng khỏi những sợi dây hữu hình trói buộc con người về tự nhiên cũng như về xã hội. Về mặt tự nhiên, con người dần nắm bắt được những quy luật của tự nhiên và “làm chủ” được nó. Về mặt xã hội, con người thoát khỏi sự kiềm chế của giáo hội, thoát khỏi những cơ cấu giai cấp cũ, trở thành một con người “tự do”. Tuy nhiên, con người lại bị trói buộc bằng những sợi dây mới – sợi dây vô hình, biến con người trở thành “nô lệ”. C. Mác đã chỉ ra rằng, người công nhân sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng anh ta không được sử dụng giá trị của cải vật chất ấy cho mình, mà quyền sử dụng giá trị của cải vật chất thuộc về nhà tư bản, dẫn đến hiện tượng “lao động tha hóa”. Người công nhân trở thành “nô lệ” cho những vật phẩm mà mình làm ra. Để khắc phục sự tha hóa trong lao động, Mác khẳng định cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Sự tha hóa không những diễn ra ở lĩnh vực sản xuất vật chất mà còn diễn ra trên “lĩnh vực tinh thần”, điều này đã được C.Mác tiên đoán. Erich Fromm tiếp thu những điểm tích cực từ Mác, đồng thời chỉ ra rằng, con người đề cao quá mức sức mạnh của khoa học, công nghệ dẫn đến, “tha hóa về mặt tinh thần”. Con người đánh mất đi những bản ngã vốn có của mình như: vui, buồn, yêu, ghét, giận dữ, đau khổ, v.v. Ngày nay, xã hội càng phát triển, vấn đề tha hóa về tinh thần càng lớn – con người đang đứng trước những thách thức mới được đặt ra có tính chất toàn cầu như: sự lo ngại về bom nguyên tử, sự hủy hoại môi trường, chủ nghĩa khủng bố. Nguyên nhân và cách giải quyết những khủng hoảng là những vấn đề đã được Erich Fromm, nhà phân tâm học, triết học người Đức đặt ra và luận giải từ những năm đầu của thế kỷ XX. 5 Erich Fromm với lý thuyết của ông thể hiện mối quan tâm với cả cá nhân và xã hội, cùng sự tương tác giữa chúng. Erich Fromm: “giải thích lập trường cơ bản là có một tập hợp các điều kiện xã hội lý tưởng và quả thật, một xã hội lý tưởng cũng như một sự định hướng tối ưu mà một cá nhân có thể có đối với xã hội. Tuy nhiên, các lý tưởng này đã không đạt được, nên về cơ bản, các cá nhân là những sinh vật cô đơn, biệt lập. Mỗi cá nhân cố gắng để đạt được tự do, nhưng khi có tự do, sự cô lập lại đến, do đó cần phải cố gắng liên tục để thoát khỏi tự do đã đạt được” [43, tr.232]. Tự do của con người đã, đang và sẽ luôn là một vấn đề nóng hổi, thu hút sự quan tâm của các nhà tư tưởng. Có thể nói, nếu con người là đề tài trung tâm của mọi thời đại, là nguồn hứng khởi chủ yếu cho những suy tư triết học, thì tự do của con người chính là mục đích cuối cùng của những suy tư ấy. Trong lịch sử, vấn đề tự do đã được các nhà tư tưởng lý giải ở nhiều góc độ khác nhau. Từ góc nhìn tâm lý học xã hội, trong “Trốn thoát tự do”, E.Fromm đã "tập trung vào khía cạnh vốn là điểm cốt yếu của những cuộc khủng hoảng văn hóa, xã hội trong thời đại chúng ta: ý nghĩa của tự do đối với con người hiện đại" [16, tr.5]. Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao. Dù vậy, đời sống văn hóa tinh thần lại phát triển không tương xứng, sự chênh lệch đó đang được đặt ra nhiều vấn đề bức xúc. Ở lĩnh vực văn hóa tinh thần, Việt Nam gặp phải những vẫn đề tương tự như các nước phương Tây. Trong xã hội phương Tây, con người được giải phóng khỏi sự áp bức bên ngoài, trong khi đó, vấn đề nội tâm được đặt ra rất gay gắt. Phân tâm học đã góp phần giải quyết những vấn đề liên quan đến nội tâm con người, đặc biệt là vấn đề “tha hóa tinh thần” của con người trong xã hội hiện đại. 6 Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài Tư tưởng về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm làm luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu Phân tâm học của Erich Fromm nói riêng và trường phái phân tâm học nói chung có ảnh hưởng rất lớn đến chủ nghĩa nhân bản phi duy lý của thế kỷ XX. Phân tâm học còn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đương đại. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về phân tâm học nói chung và phân tâm học của Erich Fromm ở Việt Nam còn chưa đa dạng, phong phú. Tư tưởng phân tâm học của Erich Fromm trong các tác phẩm phân tâm học nói chung hay các tác phẩm viết về triết học phương Tây hiện đại mới chỉ được trình bày một cách khái quát, sơ lược. Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, các tác giả đã trình bày được rất nhiều nội dung trong tư tưởng của Fromm về bản tính con người. Các tác giả đã đưa ra nhận định: “Fromm xác định bản tính con người không phải là tổng thể các dục vọng được định trước về mặt sinh học đây bao giờ cũng là “bản tính thứ hai”, là câu trả lời có suy xét, như là quan hệ toàn vẹn với thế giới. Câu trả lời như vậy có thể là khát vọng về tự do, về sự công bằng, về chân lý, nhưng cũng hệt như vậy, cũng có thể là sự căm thù, sự quá tự mê, là sự theo thời, sự tàn bạo, thói thích phá hủy” [24, tr.79]. Tuy nhiên, cuốn sách này mới ở dạng đại cương nên chưa đưa ra được những phân tích cụ thể về tư tưởng tự do của Erich Fromm. Trong cuốn Chủ nghĩa Mác phương Tây (trường phái Frankfurt) của Nguyễn Chí Hiếu – Đỗ Minh Hợp, hai tác giả đã nhận định rằng, “Các đại biểu của trường phái này đã cố gắng phát triển chủ nghĩa Mác nhằm phê phán xã hội tư sản hiện đại (lý thuyết phê phán) và chỉ ra con đường khắc phục “nô lệ”, “tha hóa” của con người phương Tây hiện đại”. Đồng thời, các tác giả 7 cũng đã đề cập đến những phương diện tự do của Erich Fromm, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát. Trong cuốn Lịch sử triết học phương Tây, tập 3 của Đỗ Minh Hợp, tác giả đã chỉ ra rằng, trong xã hội phương Tây hiện đại con người đã “tự do” về mặt sinh học, nhưng lại rơi vào tình trạng “tha hóa về tinh thần”. Cách thức giải quyết sự tha hóa đó là xóa bỏ sự xa cách giữa con người với xã hội. Tuy vậy, tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chưa đi sâu phân tích quan niệm “tự do”. Luận văn thạc sĩ Quan niệm về con người trong phân tâm học của Erich Fromm của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền nghiên cứu con người và bản chất của con người, cũng như cách thức giải phóng con người của Erich Fromm. Tác giả luận văn trên đã phân tích sự giải phóng con người ở hai góc độ: thứ nhất là ở góc độ tình yêu – câu trả lời cho vấn đề hiện hữu, thứ hai là tôn giáo nhân bản. Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền cũng đã chỉ ra một số con đường giải phóng con người, nhưng chưa đi sâu vào tư tưởng tự do của Erich Fromm. Trong luận văn thạc sĩ của Phan Thị Hồng Nhung, Tư tưởng của Erich Fromm trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”, tác giả đã tìm hiểu về “tự do tiêu cực” và “tự do tích cực”. Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào phân tích chi tiết hai nội dung tự do này. Các công trình của các tác giả nói trên đã trình bày và phân tích sơ lược được những nội dung cơ bản trong học thuyết của Erich Fromm, nhưng mới chỉ nghiên cứu ở một mức độ nào đó một số khía cạnh trong tư tưởng về tự do của ông. Do đó, tác giả luận văn này mong muốn trình bày một cách có hệ thống tư tưởng của Erich Fromm về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”. 8 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn là làm rõ tư tưởng về tự do của Erich Fromm trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”. Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, trình bày hoàn cảnh và những tiền đề ra đời của tư tưởng về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm. Thứ hai, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm. Thứ ba, đánh giá những giá trị và những hạn chế của tư tưởng về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu và một số phương pháp khác. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng về tự do của Erich Fromm trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các nội dung của tác phẩm “Trốn thoát tự do” có liên quan tới vấn đề tự do. 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn Về mặt lý luận: Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Erich Fromm, về tư tưởng tự do của Erich Fromm. Về mặt thực tiễn: Luận văn trên cơ sở xem xét tư tưởng tự do của Erich Fromm, cung cấp một hướng giải quyết việc khủng hoảng về mặt tinh thần 9 trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Việt Nam có thể tiếp thu và học tập trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. 7. Kết cấu Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết. 10 CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA ERICH FROMM VỀ TỰ DO 1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị văn hóa – xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX 1.1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu, những thành tựu khoa học được bổ sung thêm những khám phá mới. Đặc biệt, những nguồn năng lượng mới được phát hiện như: hơi đốt, xăng dầu, điện lực được sử dụng rộng rãi trong đời sống, những công cụ sử dụng điện năng ngày càng được ưa chuộng. Việc giải quyết được vấn đề truyền tải điện đi xa đã giải phóng nền công nghiệp ra khỏi những giới hạn về địa lí, tạo nên khả năng sử dụng điện ngay cả ở những nơi xa nguồn thủy năng. Cùng với công nghiệp, ngành giao thông vận tải cũng tiến bộ nhanh chóng, chiều dài đường sắt ngày một tăng lên. Ở đường biển, các tàu biển sử dụng tuốcbin chạy bằng sức nước hay động cơ nổ thay thế cho thuyền buồm. Các phương tiện liên lạc như điện báo, điện thoại ngày càng được hoàn thiện. Đối với ngành truyền thông việc sáng chế ra rađiô và ngành liên lạc vô tuyến điện phát triển đã làm cho thông tin được phổ biến một cách nhanh chóng. Những thay đổi trên lĩnh vực khoa học kỹ thuật làm cho kinh tế của châu Âu có những bước phát triển không ngừng, năng suất lao động tăng lên. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế, trên toàn châu Âu diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia do khả năng và trình độ ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật ở các quốc gia rất khác nhau. Trong giai đoạn 1870 – 1900, sản lượng gang sản xuất ở Anh tăng 1/3, Đức tăng 5 lần rưỡi và Mỹ tăng 8 lần. Tuy nhiên, những mặt khác Đức và Mỹ còn thua Anh như: ngành đóng tàu, dệt vải… Điều này làm cho vị trí của mỗi nước trong nền sản xuất của thế giới có sự thay đổi. Tuy nhiên, sự thay đổi đó chưa làm thay đổi được địa vị 11 mỗi nước trong lĩnh vực thương nghiệp. Anh vẫn là quốc gia hàng đầu trong xuất khẩu hàng hóa với 19%, trong khi đó, Đức chỉ chiếm có 13%, Mỹ là 12% và Pháp là 9%. Chủ nghĩa tư bản ở các nước châu Âu phát triển không đồng đều và đang chuyển dần từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền. Đức là nước công nghiệp hóa muộn hơn so với những nước khác ở châu Âu, nhưng nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và những kinh nghiệm của những nước khác mà kinh tế nước này phát triển một cách nhanh chóng và sớm trở thành một nền kinh tế quan trọng ở Châu Âu cũng như trên thế giới: “sản lượng những ngành công nghiệp nặng tăng lên rất nhanh, chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng sản lượng thế giới. Về nhiều mặt, nó đuổi kịp và vượt Anh, Pháp. Mạng lưới đường sắt được mở rộng trên quy mô rất lớn. Các ngành công nghiệp mới như điện, hóa chất đều tăng tiến mạnh mẽ, chiếm vị trí hàng đầu châu Âu. Năm 1883, Đức sản xuất 2/3 thuốc nhuộm trên thế giới dùng cho ngành dệt. Ngành ngoại thương, nhất là việc xuất cảng các sản phẩm công nghiệp, tăng lên rõ rệt” [38, tr.246]. Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của nền công nghiệp nước Đức đã làm cho Chủ nghĩa tư bản ở đây chuyển thành chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, sớm hình thành các tổ chức độc quyền. Tuy có nền công nghiệp hiện đại, nước Đức vẫn duy trì thủ công nghiệp trong một thời gian khá dài. Thợ làm nghề thủ công vào năm 80 khoảng - 2,3 triệu người, với khoảng 67 vạn người làm ở nhà một mình. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nước Đức cũng có sự phát triển, nhưng chậm chạp do cuộc cách mạng dân chủ tư sản không triệt để. Ruộng đất vẫn được tập trung trong tay giai cấp địa chủ và quý tộc. Vùng đông Phổ, đã có sự tập trung ruộng đất tạo thành những trang trại lớn, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới, nhưng sản xuất kiểu phong kiến vẫn được duy trì. 12 Erich Fromm sống ở Đức trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, lúc này, nền kinh tế nước Đức đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là công nghiệp. Sản lượng công nghiệp trong những ngành cơ bản ở Đức đứng hàng đầu châu Âu và thứ hai thế giới. Ở lĩnh vực sản xuất và thép đến năm 1912, Đức đã vượt cả Anh và Pháp. Các ngành khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí, hóa chất, đường sắt, đóng tầu biển…đều có những bước tiến tương tự. Trong nông nghiệp, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng với việc cơ giới hóa lao động và sử dụng phân bón hóa học. Từ năm 1909 đến năm 1913, sản lượng lúa và khoai tăng gấp 2 lần so với năm 1894 đến 1897. Đức đã đẩy mạnh việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài với số vốn ngày một tăng mà chủ yếu là thị trường Đông Nam Âu, cận Đông và Nam Mỹ, bằng chứng là: “năm 1902, số vốn đó là 12,5 tỉ phrăng (bằng 1/5 Anh, 1/2 Pháp), đến năm 1914 lên 44 tỉ (gần bằng 1/2 Anh và 2/3 Pháp). Đồng thời trong khoảng 1909 – 1913, hàng xuất khẩu của Đức tăng 60%. Thị trường đầu tư chủ yếu của Đức là Đông nam Âu, cận đông và nam Mĩ” [38, tr.248]. Tuy nhiên, Đức vẫn là một đế quốc trẻ ít thuộc địa, những thị trường trên không thỏa mãn sự phát triển kinh tế và tham vọng của tư sản Đức. Do đó, nước Đức tìm cách tăng cường thuộc địa của mình bằng việc gây ra chiến tranh để chia lại thị trường thế giới. Đức chính là nước phát động, gây ra hai cuộc chiến tranh lớn trên thế giới: chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945). Bên cạnh đó, cũng như các nước phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa khác, kinh tế nước Đức không tránh khỏi những cuộc khủng hoảng có chu kì. Nhà sử học Norman Davies đã nhận định về nước Đức: “tiến trình công nghiệp hóa dữ dội của Đức đã xuất hiện chậm hơn Anh và Pháp. Sự thống nhất chính trị chỉ đến vào khoảng 1871. Hệ quả là đế quốc thực dân Đức không có những tầm cỡ tương xứng với sự kiêu hãnh và lòng dũng cảm của nó. Khách quan mà nói, tình thế bất lợi của Đức được tưởng tượng nhiều hơn là có thật: sự 13 xâm nhập của kinh tế Đức vào những vùng kề cận tại Đông Âu là một sự bù đắp, còn tốt đẹp hơn là sở hữu những thuộc địa xa xôi. Tuy vậy, về mặt tâm lý, Đức cảm thấy rất bực bội và không bằng lòng” [3, tr.770]. Châu Âu của thế kỷ XIX phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế đã kéo theo tư tưởng khám phá bao trùm. Về chính trị, chiến tranh tưởng chừng đã chấm dứt với hội nghị Viên, nhưng quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không ngừng diễn ra, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với nhau, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản. Về cơ bản, châu Âu đã hòa bình, nhưng vẫn có những xung đột cục bộ. Hội nghị Viên xu hướng bảo thủ thắng lợi và họ vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế, chưa chấp nhận xu hướng phát triển của các cuộc cách mạng tư sản đang nổ ra ở nhiều nơi. Trong giai đoạn này, chủ nghĩa dân tộc cũng hình thành với quá trình hiện đại hóa. Nó dần trở thành hệ tư tưởng thống trị ở châu Âu và lan ra khắp thế giới. Chủ nghĩa dân tộc là tập hợp những ý tưởng có liên quan đến quốc gia – dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc hình thành do sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia châu Âu ở thế kỷ 19. Từ đó, nó lan sang các châu lục khác. Chủ nghĩa dân tộc tồn tại dưới hai dạng: chủ nghĩa dân tộc nhà nước và chủ nghĩa nhân dân hay sắc tộc. Chủ nghĩa dân tộc nhà nước được bảo vệ của thiết chế nhà nước. Chủ nghĩa nhân dân hay sắc tộc được dẫn dắt bởi nhóm người sống bên trong nhà nước và chống lại nhà nước đó. Trong bối cảnh chính trị châu Âu như vậy, nước Đức không nằm ngoài những xu hướng chung đó, sự thống nhất chính trị của nước Đức đến vào năm 1871 sau khi cuộc đấu tranh thống nhất dẫn đến thắng lợi nhà nước Đức được thành lập. Trong hiến pháp nước Đức năm 1871 quy định, Đức là quốc gia liên bang với 22 bang và 3 thành phố. Ở các bang có chính phủ và vua riêng, có hệ thống hàng chính và giáo dục riêng. Trên toàn nước Đức, hội đồng liên 14 bang gồm các đại biểu ở các bang và Quốc hội do bầu cử. Nhà vua có quyền hạn rất lớn như thống lĩnh quân đội, bổ nhiệm và cách chức thủ tướng, kí kết hiệp ước, ngoại giao, tuyên chiến…Vua có quyền triệu tập, giải tán và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Thủ tướng chịu trách nhiệm trước vua. Thủ tướng không bắt buộc phải thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, không bị bắt buộc phải rút lui khi không được tín nhiệm. Đức mang tính chất tư bản chủ nghĩa nhưng vai trò của tầng lớp quý tộc vẫn rất lớn. Đặc biệt, ở Đức chủ nghĩa dân tộc phát triển mạnh mẽ, thể hiện rất rõ ở nửa đầu thế kỷ XX khi chế độ Đức quốc xã cầm quyền với chính sách bài do thái: “tinh thần Phổ hóa nước Đức thể hiện rõ rệt trong hiến pháp vua Đức phải là vua Phổ. Chủ tịch Hội đồng liên bang phải là thủ tướng của đế quốc và trong số 58 ghế của Hội đồng thì Phổ chiếm 17 ghế” [38, tr. 249]. Trong thời gian này, phong trào công nhân đã có bước phát triển mới. Để chống lại chính sách Phổ hóa nước Đức, đảng Trung tâm cơ đốc giáo (đảng này có ảnh hưởng ở miền Nam và Tây Nam nước Đức thu hút đông đảo nông dân, thợ thủ công và cả một bộ phận công nhân lạc hậu và những người theo đạo Giatô được Vaticăng ủng hộ) đã chống lại thủ tướng Bixmác. Để trấn áp sự phản kháng, Bixmác ban hành đạo luật năm 1872 cấm giáo sĩ tuyên truyền chính trị, tước sự kiểm soát của nhà thờ đối với trường học, nhà nước đào tạo và bổ nhiệm tăng lữ, hạn chế quyền lực của giáo sĩ cao cấp…các công việc khai sinh, khai tử…đều tách khỏi luật lệ của nhà thờ. Để đối phó với sự đấu tranh của giai cấp công nhân, Bixmác ban hành đạo luật đặc biệt (1878 – 1890) giải tán các tổ chức công nhân, đóng cửa các tòa báo và tạp chí công nhân, bắt bớ và truy nã các đảng viên đảng Xã hội dân chủ và ở một số nơi, tuyên bố tình trạng chiếm đóng quy mô nhỏ. Về chính sách đối ngoại, Bixmác ráo riết tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược. Nước Đức đã gây ra chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 – 1918, Bixmác đã thành lập một khối khối liên minh gồm Đức – Ý – Áo 15 Hung (1882) để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh chống Pháp và Nga sau này. Đức cũng là nước gây ra chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), Đức đã mở đầu chiến tranh thế giới thứ hai bằng cách không tuyên chiến: “ngày 1-91939, không tuyên chiến, quân Đức tràn vào Ba Lan. Để tấn công Ba Lan, Đức đã có sự chuẩn bị từ lâu và đưa vào Ba Lan một lực lượng to lớn: 70 sư đoàn (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng và 6 sư đoàn cơ giới, với hơn 3000 máy bay). Nước Đức có quá trình tư bản chủ nghĩa chậm hơn so với các nước khác ở châu Âu, đặc biệt là chậm hơn so với Anh và Pháp nên lượng thuộc địa ít hơn hai nước này. Nhằm chia lại thị trường thế giới, Đức đã phát động những cuộc chiến tranh. Ở hai cuộc chiến tranh thế giới Đức đều là nước thua trận. Các cuộc chiến tranh thế giới với số lượng người tham gia đông đảo, các quốc gia và các dân tộc bị lôi kéo lớn, sự tàn khốc của nó làm cho con người cảm thấy lo âu, hoảng sợ. Erich Fromm đã chỉ ra rằng: “nguy cơ của chiến tranh cũng gớp thêm vào tâm trạng bất lực của cá nhân. Thật vậy, có quá nhiều cuộc chiến trong thế kỷ XIX. Nhưng kể từ cuộc chiến cuối cùng, nguy cơ của sự hủy diệt đã lớn lên khủng khiếp – số người bị tác động bởi chiến tranh đã tăng đến mức hầu như không trừ một ai – đến nỗi nó đã trở thành một cơn ác mộng, phủ bóng đen lên toàn bộ cuộc sống của họ, làm gia tăng tâm trạng sợ hãi và bất lực trên mỗi cá nhân” [16, tr.148]. Tóm lại, kinh tế - chính trị châu Âu ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi. Sự khủng hoảng của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, với những mâu thuẫn sâu sắc diễn ra trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Erich Fromm sống ở Frankfurt, nước Đức nên không tránh khỏi sự ảnh hưởng của những biến đổi ấy. Đặc biệt, Erich Fromm đã chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh khi mới chỉ 14 tuổi. Chính điều đó đã tác động đến tâm lý của Erich Fromm, làm chất chứa trong ông những mâu thuẫn của sự thù hận và ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của ông sau này. 16 1.1.2. Điều kiện văn hóa – xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội cũng có sự thay đổi không ngừng. Sự phát triển của kinh tế làm cho các nước tư bản chủ nghĩa luôn đi tìm thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm. Với việc đầu tư tư bản vào các nước, văn hóa cũng đi theo sự đầu tư tư bản ấy xâm nhập vào các nước thuộc địa và phụ thuộc. Văn hóa của các nước có nền kinh tế phát triển ở châu Âu chiếm lĩnh không chỉ ở châu Âu mà trên toàn thế giới. Giáo dục ở các nước trên khắp châu Âu được đầu tư và mở rộng giúp cho tỷ lệ người dân biết đọc, biết viết ngày càng tăng lên. Xã hội xuất hiện những loại hình văn hóa mới, trong đó có “văn hóa đại chúng”. Thời kỳ này có nhiều khám phá mới về mặt khoa học kỹ thuật, kinh tế không ngừng tăng trưởng làm cho người châu Âu hào hứng với một giai đoạn thăng hoa của kinh tế lẫn xã hội. Giai đoạn này tạo thành một trào lưu thể hiện trong toàn bộ văn hóa châu Âu “Chủ nghĩa lãng mạn”. Người châu Âu không ngờ đằng sau sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế là mặt trái ghê gớm của nó. Norman Davies đã so sánh giai đoạn cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX với giai đoạn trước như sau: Những nguyên lý chính của phong trào lãng mạn trái hẳn với mọi điều mà Thời Đại Khai Sáng đã đại diện. Không giống như thời đại Khai Sáng nhấn mạnh đến sức mạnh của lý trí, những người lãng mạn chủ nghĩa bị cuốn hút bởi mọi điều không có sự dẫn dắt của lý trí trong trải nghiệm của con người: những đam mê, sự siêu nhiên, mê tín, đau khổ, điên khùng và cái chết. Trong khi thời đại Khai Sáng nhấn mạnh đến sự gia tăng sức mạnh làm chủ thiên nhiên của con người, những nhà lãng mạn cảm thấy thích thú đến run sợ khi không thể chế ngự của tự nhiên: trong cái hoang vắng của sa mạc, sự cô đơn của biển cả. Thời đại Khai Sáng tuân theo sở thích có tính cổ điển về hài hòa và kiềm chế, tuân thủ những nguyên tắc có tính nền tảng của quy ước văn minh, còn những nhà lãng 17 mạn theo đuổi mọi điều mang tính thách thức các quy ước đã thiết định: sự hoang dã, kỳ quặc hoặc cổ lỗ một cách hấp dẫn, có nguồn gốc xa xôi, đưa từ ngoài vào (ngoại lai), thuộc một thế giới khác, người bị loạn trí. Khi thời đại Khai Sáng hướng đến trình bày trật tự nằm dưới vẻ hỗn loạn của thế giới, những nhà lãng mạn lại bị lôi cuốn bởi “tâm linh” ẩn khuất bên trong vạn vật. Thời đại Khai Sáng tỏ ra bài tôn giáo hoặc không tôn giáo, trong khi đó, những nhà lãng mạn là những người rất sùng đạo, ngay cả khi họ khinh thường những lễ nghi có tính quy ước của Thiên Chúa Giáo [Xem 3, tr.717]. Chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực văn hóa như: văn học, triết học, tôn giáo,…Đối với văn học có hàng loạt những tác gia văn học nổi tiếng như: Alphonse de Lamartine (1790 – 1869) những sáng tác của ông là vẻ đẹp của hồ Bourget và những ý tưởng về vĩnh hằng; hay Giacomo Leopardi (1798 – 1837) với Dạ khúc người chăn cừu lang thang của châu Á;…đặc biệt là những tác phẩm của Alexander Pushkin (1799 – 1837), Adam Mickiewicz (1798 – 1855), và J.W.Goethe các tác phẩm của những tác gia này có sự kết hợp giữa cổ điển và lãng mạn thành một tổng thể khó có thể phân định để xếp vào cổ điển hay lãng mạn. Triết học trong thời kỳ này xuất hiện nhiều nhà triết học, đặc biệt là G.W.F.Hegel (1770 – 1831) và những người theo trường phái của ông đã tạo ra sự tranh luận rộng khắp ở châu Âu. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều triết gia đã dần nhận ra mặt trái của tiến bộ kỹ thuật, thông qua những tác phẩm khác nhau, với những khía cạnh khác nhau. Các đại biểu với quan điểm nhân văn đã bày tỏ sự quan tâm không những tới những vấn đề do tiến bộ khoa học – kỹ thuật sinh ra (như vấn đề hạt nhân và sinh thái) mà chủ yếu quan tâm tới một thực tế là con người có nguy cơ đánh mất bộ mặt của riêng mình khi đối diện với sức mạnh kỹ thuật. Nói cách khác, tin tưởng vào sức mạnh toàn năng của những thành tựu kỹ thuật, con người có thể vô tình đánh mất những giá trị nhân văn, như năng lực thấu 18 hiểu và đồng cảm với người thân, khái niệm về cái thiện và ác, điều này kéo theo sự phi nhân văn hóa quan hệ của xã hội và quan hệ của cá nhân với nhau. Nguy cơ như vậy là hoàn toàn hiện thực và có thể nhận thấy tính hiện thực của nó ở khắp nơi. Chúng ta nhận thấy đa số các nhà triết học phương Tây hiện đại đều bảo vệ và thực hiện cách tiếp cận nhân văn trong tác phẩm của mình [Xem 22, tr.21–22]. Ở giai đoạn này, tôn giáo sau một thời gian lắng xuống cũng bắt đầu có sự hồi sinh. Nhiều nước ở châu Âu ngoài đạo Công giáo vốn đã được thừa nhận, đạo Tin Lành, Do thái giáo sau một thời gian bị pháp luật cấm đoán cũng đã được chấp nhận ở nhiều nơi. Ở Đức, quê hương của Erich Fromm, giáo lý đạo Tin Lành của Luther và Calvin đã cho thấy sự nổi trội và dần cuốn hút được đông đảo các tầng lớp tin theo, đặc biệt là tầng lớp trung lưu. Khoa học công nghệ phát triển, dẫn đến quá trình tập trung hóa sản xuất, đại đa số quần chúng hoặc là tập hợp dưới sự chỉ đạo của một bộ phận nhỏ các nhà tư sản, sự khủng hoảng của kinh tế dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới; mà trong chiến tranh người lính phải luôn luôn tuân thủ tuyệt đối người chỉ huy ở chiến trường. Điều này càng thể hiện rõ nét hơn trong quá trình giáo dục: ngay từ lúc còn nhỏ, trẻ em luôn được dạy lặp đi lặp lại một vấn đề nào đó. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, công việc buôn bán hàng hóa cũng phát triển đến một mức độ nhất định. Những nhà Marketing bán hàng hóa của mình thông qua việc quảng cáo liên tục trên các kênh truyền thông và được lặp đi lặp lại hàng ngày làm cho con người trong xã hội hiện đại không kịp suy nghĩ theo cách nghĩ của mình. Con người trong xã hội hiện đại bị đánh mất mình không còn suy nghĩ theo cách riêng của mình mà theo những lối suy nghĩ vốn có ở bên ngoài. Con người không còn khẳng định được chính mình nữa và đã biến thành con người đại chúng. Theo Ortecga I Gasset: “Con người đại chúng là người không thể đánh giá mình từ mặt tốt cũng như từ mặt xấu, là người cảm thấy mình “như tất cả mọi người” và hoàn toàn không thấy đau khổ 19 vì điều đó. Con người đại chúng không tự đòi hởi nhiều ở mình. Không cố gắng tự hoàn thiện, không thích tự làm cho cuộc sống trở nên phức tạp. Nó thích sống kiểu nước chảy bèo trôi. Nó giải quyết khá tốt vấn đề vật chất của mình. Nó có thói quen không dựa vào một quyền uy tinh thần nào, ngoài quyền uy của bản thân. Xét từ góc độ trí tuệ, con người đại chúng là người khi giải quyết một vấn đề trí tuệ nào đó thì thỏa mãn với tư tưởng nảy sinh đầu tiên trong đầu” [Dẫn theo 22, tr.31]. Hàng loạt các nhà tư tưởng ở giai đoạn này đã phê phán xã hội hiện đại - xã hội công nghiệp làm cho con người tự đánh mất mình. Theo C.Mác, việc người công nhân không nhận được những giá trị trong những sản phẩm mà mình làm ra mà bị nhà tư sản chiếm đoạt gọi đó là “tha hóa trong lao động” và C.Mác kêu gọi đại đa số quần chúng đoạt lại giá trị sản phẩm của mình bằng cách mạng. Trong khi đó, Freud lại xem xét tha hóa ở góc độ tâm thần. Freud khám phá ra cái vô thức và sự tương tác giữa cái vô thức với cái ý thức và cái siêu ý thức. Hiện tượng cái vô thức bị cái ý thức và cái siêu ý thức kìm hãm dẫn đến những bệnh tâm thần ở con người đã được Erich Fromm và những người thuộc trường phái Frankfurt kế thừa và phát triển. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho cách thức tổ chức sản xuất thay đổi, dẫn đến những biến đổi về cơ cấu giai cấp trong xã hội. Châu Âu lúc này xuất hiện những giai cấp mới bên cạnh những giai cấp vốn có là nông dân và địa chủ, trong số đó, nổi bật nhất là giai cấp tư sản và vô sản. Giai cấp tư sản là những người có tài sản họ tổ chức sản xuất theo cách tập trung những người vô sản lại và vận hành theo những dây chuyền máy móc nhất định. Giai cấp tư sản bắt những người vô sản làm việc nhiều tiếng đồng hồ trong một ngày dẫn đến người lao động không có thời gian để nghỉ ngơi tái sản xuất sức lao động. Mục đích của giai cấp tư sản là lợi nhuận, ngoài lợi nhuận ra họ không còn quan tâm đến những yếu tố khác trong xã hội: “ không giống như địa tô và tiền công, tỷ suất lợi nhuận không tăng lên cùng với sự phồn vinh 20 của xã hội và không hạ xuống cùng với sự suy sụp của xã hội” [35, tr.94]. Sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản đã làm cho phong trào đấu tranh của công nhân không những diễn ra ở Đức mà còn diễn ra ở khắp châu Âu trong thời gian cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Đồng thời, những cuộc khủng hoảng kinh tế và chiến tranh đã làm cho nước Đức cũng như châu Âu có rất nhiều xáo trộn. Tóm lại, cùng với sự phát triển của kinh tế - chính trị, lĩnh vực văn hóa – xã hội của châu Âu cũng có nhiều thay đổi. Hầu hết các lĩnh vực văn hóa của châu Âu trong giai đoạn này đều phát triển hơn giai đoạn trước, hoặc là ca ngợi cho việc thống trị của giai cấp tư sản, hoặc tìm ra những hạn chế của chủ nghĩa tư bản mà đặc biệt là văn hóa đại chúng. Về mặt xã hội, ở giai đoạn này do sự tập trung hóa sản xuất nên trong xã hội mâu thuẫn về mặt lợi ích, dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh đòi lại lợi ích mà đặc biệt là các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư sản. Giai đoạn này có rất nhiều xáo trộn nên có nhiều các nhà tư tưởng lớn, trong đó có Erich Fromm. 1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng tự do của Erich Fromm 1.2.1. Phân tâm học Freud Sigmund Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud; sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 – mất ngày 23 tháng 9 năm 1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý, Freud sinh ra trong một gia đình người Do Thái. Quê hương ông là thành phố Freiberg (sau đổi tên là Pribor), một thành phố nhỏ thuộc vùng Moravia nằm gần biên giới với Ba Lan, trước đây thuộc Áo, nay thuộc cộng hòa Séc. Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học. Cho đến ngày nay mặc dù lý thuyết về phân tâm học của ông còn gây nhiều tranh cãi và người ta còn đang so sánh hiệu quả của các phương pháp phân tâm học của ông với các phương pháp điều trị khác, nhưng cũng phải thừa nhận rằng ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX. 21
- Xem thêm -