Trung tâm tài chính ngân hàng new york

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TR ƯỜN G ĐẠ I HỌC K IN H T Ế TH ÀN H PHỐ HỒ C HÍ MIN H KHOA N G N HÀ N G Đề tài: TRUNG T ÂM TÀI CHÍNH NG ÂN HÀNG NEW YORK GVHD SV TH : PGS TS. Trư ơn g Q uang Thông : V ũ D uy Chương Phan Thị Kiề u Diễ m L ê X uân Hùng Đ oàn D uy Kh án h Nguyễn Tr ọn g Nhâ n Tr ần Thị Hồng Thắm Phạm Đ ình Trung Lớ p : Nhóm 6 – Ngân hà ng Đêm 2 – K 22 Tp.Hồ Chí Mi nh, tháng 03 năm 2014 MỤC LỤC CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH .................................................................. 3 1.1. Khái niệm trung tâm tài chính ............................................................................................ 3 1.2. Đặc điểm của trung tâm tài chính....................................................................................... 3 1.3. Vai trò của trung tâm tài chính đối với nền kinh tế thế giới ............................................ 3 1.4. Điều kiện hình thành trung tâm tài chính.......................................................................... 3 CHƯƠNG 2: T RUNG T ÂM TÀI CHÍ NH NGÂN HÀNG NEW YORK ............................................... 5 2.1 LƯỢC SỬ VỀ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH NEW YORK ....................................................... 5 2.1.1 Lư ợc sử về thành phố New York ..................................................................................... 5 2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Trung tâm Tài chính – Ngân hàng New York... 6 2.2 VAI T RÒ T RUNG TÂM TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NEW YORK ...................................... 8 2.2.1 Vài nét về nền kinh tế Mỹ................................................................................................ 8 2.2.2 Vai trò trung tâm tài chính New York............................................................................ 9 a. Đối với Mỹ................................................................................................................................. 9 b. Đối với thị trường tài chính thế giới ..................................................................................... 11 2.3 ĐẶC ĐIỂM, QUY MÔ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG NEW YORK........................................................................................................................... 11 2.3.1 Đặc điểm ................................................................................................................................ 11 2.3.2 Q uy m ô hoạt động................................................................................................................ 14 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG T RÊN T HẾ GI ỚI VÀ ÁP LỰ C CẠNH TRANH VỚI T RUNG TÂM TÀI CHÍNH NEW YORK ................................................ 23 3.1 Một số trung tâm tài chính ngân hàng trên thế giới................................................................ 23 3.2 Áp lực cạnh tranh từ các trung tâm tài chính với Trung tâm Tài chính – Ngân hàng New Yo rk ........................................................................................................................................... 28 2 CHƯƠ NG 1: KH ÁI NIỆM VỀ TRUNG TÂM TÀI CH ÍNH 1.1. Khái niệm t run g tâm t ài chính Trung tâm tài chính là m ột phần của đô thị n ơi có các định chế tài chính tập trung thông thường, sự hình thành và phát triển của một trung tâm tài chính là m ột quá trình dần dần trong đó các hoạt độn g tài chính được mở rộn g do sự tăn g trưởn g của lĩnh vực k inh doanh và n gược lại. Các trung tâm tài chính quốc tế ph át triển là kết quả của việc m ở rộng các trung tâm tài chính quốc gia. Các trung tâm tài chính quốc gia này ch ính là các trun g tâm có ưu thế hơn trong cun g cấp các dịch v ụ tài chính có ch ất lượn g cao, có v ị trí địa lý t huận lợi, dịch v ụ v iễn thôn g quốc tế có nhiều tiện ích nh ất. 1.2. Đặc điểm c ủa trun g tâm tài chính o Là nơi tập trung m ột số lượng lớn các định chế tài chính, có các định chế tài chính phát triển trong đó có các ngân hàng mạnh về vốn, uy tí n cao. o Là nơi tập trung các chuyên gia tài chính giỏi, có trình độ để phát triển được những kỹ năng nghiệp vụ. o Là nơi có các thị trư ờng tài chính chính thức như thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu... o C ó khối lượng gi ao dịch tài chính chiếm tỷ trọng chi phối trong toàn hệ thống tài chính - ngân hàng. o C ác điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi, m ức độ phát triển về kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác. 1.3. Vai trò của tr ung tâm tài chính đối với n ền kinh tế thế giới Các n gân hàn g có t hể cung cấp dịch v ụ tới các khách hàng tại các quốc gia khác nhau và đáp ứn g nhu cầu của các nhà đầu tư quốc tế một cách hiệu quả. Một trung tâm tài chính quốc tế tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt độn g giao dịch thường x uyên giữa các n gân hàn g và cá c ch uyên gia tài chính khác để thực hiện m ục tiêu đồn g tài trợ vốn, chia sẻ r ủi ro và tạo điều kiện cho hoạt độn g đầ u tư và cấp vốn. Các trung tâm tài chính lớn ảnh hưởng và tác độn g tới các lĩnh vực chính trị, công nghiệp, tiền tệ và thương mại trên thế giới. 1.4. Điều kiện hình thành trun g tâm tài chính Trung tâm tài chính yêu cầu có một lượng vốn dư thừa (c ung) nhằm đáp ứng cho nhu cầu tài chính (cầu), các tr un g gian tài chính và các hoạt độn g dịch vụ. Các hoạt độn g môi giới tài ch ính cũn g là phát t riển mạnh. 3 Cần có sự hợp tác nh ịp nhàn g v à chặt chẽ giữa các n gân hàn g trong việc đồn g tài trợ cấp vốn và các giao dịch tín dụn g khác. Phải có nhữn g ch uyên gia có kinh n ghiệm (người tham gia và n gười môi giới) và các lãnh đạo n gân hàn g được tin cậy để điều h ành. Điều k iện về côn g n ghệ thông tin tốt là một yêu cầu tiên quyết. Các điều k iện về mặt pháp lý, cũng như yêu cầu về sự ổn định kinh tế chính trị trong nước là điều kiện cơ bản cần thiết. Trung tâm tài chính quốc tế c ũn g cần phải m ở, hội nhập về kh ía c ạnh văn hoá và cạnh tranh. 4 CHƯƠNG 2: T RUNG TÂM TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NEW YORK 2.1 LƯỢC SỬ VỀ T RUNG TÂM TÀI CHÍNH NEW YORK 2.1.1 Lược sử về thành phố New York Lịch sử của thành phố New York đã bắt đầu với ch uyến t hăm châu Âu đầu tiên đến khu vực của Giov anni da Verrazz ano , chỉ h uy của tàu Pháp La Dauphine , khi ông đến thăm khu vực năm 1524. Ông đặt tên cho khu vực ngày nay thành phố New York là Nouvelle-Angoulême. Sau khi người Hà Lan mua "New Amsterdam " từ người Mỹ bản địa, họ đưa nô lệ châu Phi để lao động, xây dựng các bứ c tường bảo vệ ở ranh giới phía bắc của thành phố. Các "bức tường" đầu tiên dọc theo đường phố là hàng rào những tấm ván, nhưng khi thời gian trôi qua và căng thẳng tăng lên, một bức tường cao m ạnh mẽ được xây dựng để bảo vệ các thuộc địa chống lại cả hai người Anh và các thổ dân bản địa vẫn còn thống trị khu vực. H iệp ước hòa bình trên ngày 29/08/1945 được ký kết sau m ột khoảng thời gian dài chiến tranh giữa người Hà Lan và cá c thổ dân bản địa. Khu vực này được cấp quyền tự trị năm 1652 và New Amsterdam chính thức được xem như một thành phố tháng 02/1953. Các thị trưởng đầu ti ên của New Amsterdam được bổ nhiệm trong năm đó. Năm 1664, người Anh chinh phục khu vực và đổi tên nó là "New York" theo tê n C ông tước x ứ York. Vào th ời điểm đó, nô lệ châu Phi bao gồm 40% dân số nhỏ của thành phố. C ác khoảng thời gi an Hà Lan chiếm lại thành phố vào năm 1673, đổi tên thành phố "New O range", trước khi vĩnh viễn sang nhượng cho Anh tháng 11/1674. New York trở thành m ột thành trì của Anh cho toàn bộ cuộc chiến tranh. 25/11/1983, G eorge Washington chiếm được thành phố và các lưc lượng của Anh rời khỏi thành phố. Năm 1796, W ashington nhậm chức tổng thốn g đầu tiền của nước Mỹ. Trong năm 1789, thành phố New York đã trở thành thủ đô của H oa Kỳ. New York đã tăng trưởng như là một trung tâm kinh tế, đầu tiên là kết quả của Alexander H amilton chính sách và thực tiễn là người đầu tiên Bộ trưởng Tài chính và sau đó, với sự mở cửa của kênh Erie vào năm 1825, trong đó kết nối các cảng Đại Tây Dư ơng đến thị trường nông nghiệp nội địa Bắc Mỹ. 5 Năm 1835, thành phố New York đã vư ợt qua Philadelphia là thành phố lớn nhất ở H oa Kỳ. Sau cuộc nội chiến, tỷ lệ người nhập cư từ châu Âu tăng cao, và New Yo rk đã trở thành điểm dừng chân đầu tiên cho hàng triệu tìm kiếm m ột cuộc sống m ới tốt đẹp hơn ở Hoa Kỳ. Trong suốt nửa đầu của thế kỷ 20, thành phố trở thành một trung tâm thế giới cho ngành công nghiệp, thương m ại và truyền thông. Inte rborough Rapid Transit (C ông ty tàu điện ngầm đầu tiên) bắt đầu hoạt động vào năm 1904. Năm 1925, thành phố New York trở thành thành phố đông dân nhất trên thế gi ới, bắt đầu từ năm 1925 và vư ợt qua London về quy mô thị trường tài chính. Sau chiến tranh thế gi ới II, người nhập cư từ châu Âu tạo ra m ột sự bùng nổ kinh tế sau chiến tranh. New York nổi lên từ sau chiến tranh là thành phố hàng đầu của thế gi ới, với Wall Street. Trong năm 1951, Liên Hiệp Q uốc chuyển từ trụ sở đến Manhattan. Sự chuyển đổi từ các cơ sở công nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Nhiều tập đoàn lớn chuyển trụ sở của họ để các vùng ngoại ô, hoặc các thành phố xa xôi . Tuy nhiên đã có sự tăng trưởng rất lớn trong các dịch vụ đặc biệt là tài chính, giáo dục, y tế, du lịch, truyền thông và pháp luật. New York vẫn là thành phố lớn nhất, và khu vực đô thị lớn nhất, tại Hoa Kỳ, và tiếp tục như Trung tâm tài chính, thương mại, thông tin, và văn hóa lớn nhất của Hoa Kỳ và thế giới Những năm 1980 chứng kiến một sự tái sinh của W all Street , và thành phố thu hồi vai trò của nó ở trung tâm của ngành tài chính trên toàn thế giới. Trong cuối những năm 1990, thành phố được hưởng lợi từ sự thành công của lĩnh vực tài chính, chẳng hạn như Silicon Alley , trong sự bùng nổ dot com , một trong những yếu tố trong một thập kỷ giá trị bất động sản đang bùng nổ. Dân số của New York đạt mức cao trong điều tra dân số năm 2000 ; theo ước tí nh của điều tra dân số từ năm 2000, thành phố đã ti ếp tục phát triển, trong đó có tăng trư ởng nhanh chóng tại các quận đô thị hoá nhất, Manhattan. 11/09/2001 gần 3.000 thiệt m ạng bởi m ột cuộc tấn công khủng bố vào Trung tâm Thương m ại Thế giới , một sự kiện đáng nhớ đầu thế kỷ 21 cho thành phố và thành phố nhanh chóng tái phát triển. 2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển T run g tâm T ài chính – Ngân hàng New York Kh ởi đầu, W all Street là tên một tuyến đường không rộng lắm ở khu doanh nghiệp Lo wer Manh attan, New York City. Nó trải dài từ Broadway ở phía Đông đến South Street chạy dọc con sông East River và đi qua trung tâm tài chính có bề dày lịch sử Financial 6 District. Đây là bản doanh thường trực đầu tiên của Thị trường Chứng khoán New York (NYS E). Wal l Street có từ thế kỷ 17, được xây dựng như biên giới phía Bắc khu định cư New Amste rdam của người Hà Lan. Nó đư ợc dùng như chiến luỹ để ngăn chặn ý đồ xâm lược của người Anh. Sau đó, nhân danh công ty Hà Lan Dutch West India Company, Peter Stuyvesant đã sử dụng các nô lệ châu Phi để củng cố “pháo đài ” vững chắc h ơn. Một bức tư ờng cao 4 mét được tăng cường để chống lại những cuộc tập kích của các bộ lạc bản xứ Da đỏ. Năm 1685, khu thương mại -tài chính Wall Street hình thành dọc theo bức tường này. Năm 1699, bức tường bị chính quyề n thực dân Anh phá dỡ. W all Street là thị trường chủ sở hữu có thể thuê ngoài nô lệ theo ngày hoặc tuần. Năm 1711, Hội đồng chung thành phố New York đã W all Street đầu tiên thị trường nô lệ chính thức của thành phố để bán và cho thuê châu Phi và Ấn Độ nô lệ. Trong cuối thế kỷ 18, thương nhân họp nhau ở khu vực tán cây Buttonwoo d đầu Wall Street, theo đó thương nhân sẽ trao đổi và giao dịch chứng khoán (chứng khoán thời điểm này là các gi ấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hoặc hùn vốn vào m ột công ty, con tàu hoặc một lô hàng nào đó). Trong năm 1792, 24 thương nhân chính thức họp nhau thống nhất Thỏa thuận Buttonwood. đó là nguồn gốc của các chứng khoán New York . H iệp định này thỏa thuận khi m ặt hàng Buttonwood chỉ được m ua bán với nhau và những người tham gia hiệp định sẽ m ua bán với nhau với giá khác biệt những người không tham gia hiệp định này. New York đã tăng trưởng như là một trung tâm kinh tế, đầu tiên là kết quả của Alexander H amilton chính sách và thực tiễn là người đầu tiên Bộ trưởng Tài chính và sau đó, với sự mở cửa của kênh Erie vào năm 1825, trong đó kết nối các cảng Đại Tây Dư ơng đến thị trường nông nghiệp nội địa Bắc Mỹ. Việc m ở kênh đào Erie vào đầu thế kỷ 19 có nghĩa là m ột sự bùng nổ lớn trong kinh doanh cho thành phố New York, vì nó là cảng biển phía đông lớn duy nhất mà có đi trực tiếp bằng đư ờng thủy nội địa đến các cảng t rên Great Lakes (Ngũ Đại hồ) ở phía Tây. Việc mở kênh đào này làm phát triển giao thông trong vùng, New York trở thành thành phố cảng lớn nhất của Mỹ, tiết kiệm thời gian di chuyển và tiết kiệm 95% chi phí vận chuyển so với việc vận chuyển đư ờng bộ trước đây. W all Street đã trở thành "thủ đô tài chính của Mỹ". Nội chiến có tác dụng làm cho nền kinh tế miền Bắc bùng nổ, mang lại sự thịnh vượng hơn đến các thành phố như New York - trung tâm ngân hàng của quốc gia, kết nối thế giới cũ và thế giới m ới tham vọng. Giữa năm 1860 và năm 1920, nền kinh tế thay đổi từ "nông nghiệp cho công nghiệp tài chính" và New York duy trì vị trí dẫn đầu mặc dù những thay đổi này. New York chỉ là trung tâm tài chính lớn thứ hai sau London. Năm 1884, C harles H. Dow bắt đầu theo dõi cổ phiế u, ban đầu bắt đầu với 11 cổ phiếu, chủ yế u là đường sắt. Khi "đỉnh và đáy" tru ng bình tăng liên tục, ông cho rằng đó là một thị 7 trường con t râu, nếu trung bình giảm xuống, đó là m ột thị trường con gấu. Ô ng lấy giá và chia cho số lượng cổ phiếu để có được trung bình Dow Jones của mình. Số Dow là trở thành chuẩn cho việc phân tích thị trường và trở thành một cách để xem xét toàn bộ thị trường chứng khoán. Vào năm 1889, báo cáo cổ phiếu ban đầu, trở thành The Wall Street Journal . Nó đã trở thành một tờ báo kinh doanh xuất bản hàng ngày quốc tế có ảnh hưởng được công bố trong thành phố New York . Năm 1896, nó bắt đầu xuất bản danh sách m ở rộng của Dow cổ phiếu. Một thế kỷ sau, đã có 30 cổ phiếu trung bình. DJIA (Do w Jones Industrial Average) là chỉ số tính giá trị của 30 công ty cổ phần có giá cổ phần lớn nhất và có nhiều cổ đông nhất H oa Kỳ. G iai đoạn thế kỷ 20 đã được W all Street của thời kỳ hoà ng kim . Địa chỉ 23 Wall Street, nơi trụ sở của JP Morgan, được gọi là The Corner , là "trung tâm địa lý, tài chính của Mỹ và thậm chí của thế giới tài chính". Năm 1925, thành phố New York trở thành thành phố đông dân nhất trên thế gi ới, bắt đầu từ năm 1925 và vư ợt qua Lon don về quy mô thị trường tài chính. Trong tháng 9 năm 1929 là đỉnh cao của thị trường. Ngày 03 tháng 10 năm 1929 là khi thị trường bắt đầu trượt, và nó đã đi suốt tuần của ngày 14. Ngày 24 tháng 10, giá trị cổ phi ếu giảm mạnh. Cuộc Đại Suy Thoái năm 1929 dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp lên đến 25% và gi á giảm cổ phiếu sụt giảm mạnh. Trong thời kỳ này, sự phát triển của phố Wall trả một giá đắt. Trải qua nhiều thăng trầm, New York vẫn luôn giữ vững vị thế dẫn đầu như là trung tâm tài chính Ngân hàng hàng đầu của H oa Kỳ và thế giới. 2.2 VAI T RÒ TRUNG T ÂM TÀI CHÍ NH NGÂN HÀNG NEW YORK 2.2.1 Vài n ét về nền kinh tế Mỹ Năm 2012, GDP của Mỹ l à 15,6 nghìn tỷ USD, duy trì vị thế dẫn đầu c ủa mình trên bảng xếp hạng 10 nền ki nh tế mạnh nhất t hế giới kể từ năm 2000 đến nay. Trong khi đó, Trung Quốc đứng t hứ 2 với 8,2 nghì n tỷ USD, A nh đứng thứ 6 với 2 ,6 n ghìn tỷ USD. The o dự báo của CEBR, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục giữ vững vị trí này đến n ăm 2022, tức 8 - 1 0 n ăm nữa. H iện ở Mỹ, các ngành không trực tiếp sản xuất ra hàng hóa gồm thương m ại, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng đã tạo ra đến 70% GDP, trong khi tỷ trọng của các ngành như nông nghiệp còn khoảng 3%; các ngành công nghiệp chế tạo truyền thống như dệt may suy giảm từ những năm 1970. Đặc trưng của kinh tế Mỹ là có một thị trường vốn rất phát triển. Thị trường chứng khoán Mỹ có tổng giá trị lên đến 45,4 ngàn tỉ đô la, tức gấp gần ba lần G DP của một năm . 8 Riêng giá trị của thị trường chứng khoán New York đã là 20.000 tỉ đô la, với hơn 2.000 công ty niêm yết, giao dịch có ngày lên đến hơn 2,5 tỉ cổ phiếu. Hơn m ột nửa dân số Mỹ tham gia đầu tư tại các thị trường chứng khoán, trong khi đó sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài cũng ngày càng tăng. Tính đến tháng 4-2005, các nhà đầu tư ngoại quốc sở hữu 38% trái phiếu chính phủ Mỹ, 23% t rái phiếu của các công ty Mỹ và 11 % trái phiếu của các tổ chức, các quỹ của Mỹ. 2.2.2 Vai trò trung tâm tài chính New York a. Đối với Mỹ New York là nền kinh tế vùng lớn nhất Hoa Kỳ. Trong đó, trung tâm tài chính – Ngân hàng New York với nhiều cô ng t y đặt trụ sở c hính tại đây t rong đó có khoảng 43 công t y được xếp t rong Fortune 500, đây cũng l à một nơi đặc biệt trong các thành p hố Mỹ vì có số l ượng lớn c ác đại công t y ngoại quốc. K hu vực tài chính Lower M anhattan là nơi hội tụ của các cơ quan quan trọng như ngân hàng Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, các công ty môi giới, tài chính, công ty bảo hiểm. New York là một trung tâm toàn cầu về thương mại và giao dịch quốc tế, cũng là một trong ba "trung tâm tập quyền" ki nh tế thế giới cùng với London và Tokyo. Theo Cinco Di as, New York kiểm soát 40% t ài chính thế giới tí nh đến năm 2008, khiến nó trở thành trung tâm tài c hính l ớn nhất thế giới. Sàn giao dịch chứng khoán Ne w York là nơi niêm yết và huy động vốn c ủa các công t y hàng đầu c ủa M ỹ và c ác công ty ngoại q uốc cũng nhưng chính phủ của m ột số quốc gia. Sàn gi ao dịc h chứng khoán Ne w York l à nơi giao dịc h của c ác sản phẩm, c ông cụ tài chính phái sinh hiện đại. Thị trường chứng khoán New York – nơi phản ánh tình hình kinh tế Mỹ nằm trên phố Wall và NASDAQ. Hai trung tâm thị trường chứng khoán này đại diện cho thị trường ch ứng khoán lớn thứ nhất và thứ hai thế giới theo thứ tự vừa kể khi được tính theo số lần gi ao dịch trung bình hàn g ngày và tổng giá trị tư bản. Có Wall Street, New York Cit y đã c ạnh tranh với thành p hố Luân Đôn để trở thành trung tâm tài chính lớn nh ất thế gi ới. V à n ay NYSE đã làm được điều n ày khi trở thành t hị trường chứng khoán lớn nh ất thế gi ới nếu tính the o gi á trị vốn hoá của các công ty niêm yết. Nhiều giao dịch chứng khoán và t ài c hính quan trọng của M ỹ vẫn tập trung t ại Wall Street nói riêng và Financi al Di strict nói c hung. Trung tâm tài chính ngân hàng Ne w York được xem là thước đo cho sức mạnh và khả năng c ạnh tranh c ủa nền kinh tế M ỹ (Global Financi al Ce nter s Index). Trung tâm tài chính ngân hàng Ne w York l à nơi đi đầu trong việc áp dụng c ác quy định, c ác chuẩn mực, các tiê u chuẩn tài chính ngân h àng nghiêm khắc, chặt c hẽ. 9 Trung tâm tài chính – Ngân hàng New York tạo điều kiện lưu thông nguồn vốn trong nước và cá c nước trê n thế giới; phục vụ nhu cầu cho vay nước ngoài và trung tâm giao dịch ngoại tệ. Trung tâm tài chính – Ngân hàng New York đóng vai trò thúc đẩy kinh tế thông qua các hoạt động đầu tư, cung cấ p cơ sở hạ tầng tài chính để thực hiện các giao dịch tài chính, trong đó nổi trội hơn cả chính là W all Streets. Phố Wall đóng vai trò như m ột công cụ kinh tế và là một điểm đến du lịch nổi tiếng mang lại nguồn thu đáng kể cho thành phố New York và nước Mỹ. Wall St reet như m ột công cụ kinh tế đối với nền kinh tế New Yo rk W all Street là m ột phần quan trọng của Trung tâm tài chính – Ngân hàng New York . W all Street đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong doanh thu thuế của thành phố New York. W all Street cung cấp nhiều cơ hội làm việc cho lao động tại thành phố New York và cho cả nước Mỹ. Có nhiều nghiên cứu đã thống kê số liệu cho thấy sự phát triển đáng kinh ngạc và những đóng góp đáng kể của Wall Street. Từ năm 1995 đến 2005, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ tài chính khoản 6,6%/năm . Năm 2006, lực lượng lao động làm việc tại Wall Street chiếm 9% lực lượng lao động của thành phố và chiếm 31% nguồn thu thuế của thành phố. Năm 2007, ngành công nghiệp dịch vụ tài chính trong đó có m ột lợi nhuận 70 tỷ USD tư ơng đương 22% doanh thu của thành phố. Năm 2008, nguồn thu nhập các nhân từ Wall Street chiếm 25% nguồn thu nhập của thành phố và chiếm 10% doanh thu thế của thành phố. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2008-2010, suy thoái kinh tế xảy ra đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cá c công ty ở Wall Street. Trong đó có 07 công ty lớn nhất ở Wall Street trong những năm 2000 là Bear Stearns , JPMorgan C hase , Citigroup Incorporated , G oldman Sachs, Morgan Stanley , Merrill Lynch và Lehman Brothers , một số những công ty lớn này đã bị mua lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Những thất bại này đã đánh dấu một bước thu hẹp của Wall Street. Ngành công nghiệp tài chính của New York cung cấ p gần 25 % thu nhập sản xuất trong thành phố, chiếm 10% doanh thu thuế của thành phố và 20 % doanh thu thuế của nhà nước nên sự suy thoái đã ảnh hưởng rất l ớn đến thu ngân sách của thành phố. Wall Street đó ng vai trò như một điểm đến du lịch W all Street là m ột địa điểm du lịch chính của thành phố New York . Vào cuối năm 1990 - thời điểm phát triển hưng thịnh của Trung tâm tài chính – Ngân hàng New York , nhờ có W all Street mà thị trường chứng khoán New York và thị trường chứng 10 khoán Mỹ cũng đã có được nguồn thu đáng kể trong việc cung cập cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch cho du khách. b. Đối với t hị trường tài chí nh thế giới Trung tâm tài chính – Ngân hàng New York l à một trung tâm toàn c ầu về thương mại và gi ao dịch quốc tế, theo bảng xếp hạng 10 trung tâm tài chính hấp dẫn n hất thế giới m à Price waterhouseCoopers công bố 2012 cho thấy mặc dù ki nh tế toàn c ầu suy giảm c ùng c uộc khủng hoảng n ợ c ông châu  u khiến nhiều trung tâm tài chính thế giới lao đao nhưng một lần nữa nước Mỹ vẫn chứng tỏ được vai trò đầu tàu kinh tế và New York vẫn là trung tâm tài c hính số 1 thế giới. 2.3 ĐẶC ĐI ỂM, QUY MÔ HOẠT ĐỘNG CỦA T RUNG TÂM TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG NEW YORK 2.3.1 Đặc điểm Ngày n ay, mới chỉ có dịch v ụ tài chính thực sự mang tính toàn cầu. Các thị trườn g tài chính chuyển dịch nhanh chóng được hỗ trợ đắc lực từ công ngh ệ tiến bộ với tốc độ ánh sán g khiến giao dịch tài ch ính vượt khỏi biên giới các quốc gia và làm cho hoạt động đầu tư quốc tế t rở nên dễ dàn g hơn bao giờ hết. Các quy định hạn chế của chính phủ đã được dỡ bỏ tại hầu hết các trung tâm tài chính lớn và người nước ngoài được kh uy ến khích đầu tư. Điều này đã tạo ra một bức tranh toàn cảnh năn g độn g với hàng loạt cơ hội đầu tư. Hiện tượn g này thực ra khôn g p hải là m ột hiện tượng m ới. Từ Chiến tranh Thế giới Thứ hai, nhiều chính p hủ đã nới lỏng hạn ch ế với đồng tiền c ủa họ v à ngà y nay thị trường ngoại hối là thị trường tài chính có tính thanh khoản cao nhất, có quy mô lớn nhất thế giới và có thể hoạt động liên tục vượt khỏi những hạn ch ế về thời gian. Và cũn g không có sự phân biệt trong thị t rường này vì nhữn g khác biệt và hạn chế giữa các đồng tiền đã bị loại bỏ. Nếu các chính phủ cho ph ép đồng tiền của họ được buôn bán m ột cách tự do như h ầu hết các nước ph át triển thì đồn g đô-la hay đồng e uro có thể được buôn bán ở Hồn g Kông hay Tokyo cũn g dễ dàng như ở Dubai hay ở New York. a. Trao đổi xuyên b iên giới Các thị trườn g tài chính khác cũn g nhanh chón g đi theo tiền lệ này. Các thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phi ếu đều bắt đầu xây dựng các đườn g dẫn dựa trên côn g ngh ệ m ới có t ốc độ nhanh h ơn. Bốn mươi năm t rước đây, Gor don Moore, m ột t rong những người sán g lập người khổng lồ sản xuất phần m ềm Intel, đã trình bày luận điểm của m ình (Định luật Moore) cho rằn g tốc độ xử lý vi m ạch có thể tăng lên gấp đô i sau m ỗi hai năm . Các bộ xử lý vi m ạch m ới có t ốc độ nhanh hơn có khả năng làm gia tăng nhanh chóng những giao dịch tài chính. Từ rất sớm, các nhà buôn có kh ả năng thực hiện giao dịch xuyên thị t rường và v ượt qua đườn g biên giới của các quốc gia, từ đó, họ trở thành những ngườ i ủn g hộ nhiệt thành cho toàn cầu hóa trong nh ững lĩnh vực kh ác c ủa nền kinh tế. Cũn g trong thờ i kỳ này, c ác nhà sản x uất đã ủng hộ ý tưởng về m ột chiếc xe hơi toàn cầu nhưng ý tưởn g này khôn g thành công rực rỡ như ý tưởng toàn cầu hóa t ài chính . 11 W all Street v à các tr ung tâm tài ch ính lớn khác đã trở nên thịnh vượn g. Khách hàn g có khả năng thực hiện buôn bán ch ứn g khoán với tốc độ nh anh không thể tưởng tượng được vào giữa nhữn g năm 1990. NYSE (Sở giao dịch Ch ứng khoán New York) và NASDAQ (Hiệp hộ i Quốc gia về Niêm yết Giao dịch Chứng khoán Tự độn g) đã từ bỏ ph ươn g thức niêm yết giá ch ứn g khoán dưới h ình thức phân số và áp dụn g hệ thống số thập phân. Máy tính khôn g thích phân số, do đó phươn g thức cũ không tạo điều kiện t huận lợi cho việc giao dịch với tốc độ cao. Ngày nay, khách hàng có thể giao dịch thông qua máy tính tại nhiều thị trườn g lớn với tốc độ nh anh chóng như tại thị trường nội địa. Giao dịch x uyên biên giới thực sự đã ra đời, khiến cho dịch vụ tài chính trở thành nỗi thèm muốn của các n gành công n ghi ệp khác vốn từ lâu đã n uôi dưỡng giấc m ơ toàn cầu hoá. Thành quả thật vô cùng kinh n gạc. Khố i lượn g giao dịch NYSE đã tăn g từ 2 tỷ năm 2001 lên 8 tỷ năm 2008. Khối lượng các thị trường ngo ại hối đạt tỷ đô-la mỗi ngày. Các thị trường trái phiếu khác nhau phát hành hơn một tỷ trái phiếu m ới mỗi năm so với m ột tỷ trái phiếu mới những năm trước đây. Giá trị sáp nhập và thôn tính cũn g đạt hàng tỷ đô-la m ỗi năm. Khối lượn g và sự ham m uốn giao dịch dườn g như là bất tận. b. Chu k ỳ truyền thống Theo truyền thống, n ền kinh tế Mỹ đã từng trải qua nhiều thời kỳ dài ph át triển thịnh vượn g trước khi lâm vào kh ủn g hoảng có tính ch u kỳ. Nhữn g đợt suy thoái này t hườn g được ch âm ngòi bởi bong bón g tài sản nổ t ung. Tình huốn g n ày đã diễn ra nh iều lần kể từ n ăm 1973 – thời điểm cuộ c suy thoái kinh tế lớn đầu tiên nổ ra ở New York. T ình huốn g tương tự như vậy c ũng đã từng xảy ra ít nhất 8 lần tính đến năm 1929. Mỗi một đợt suy thoái đều bắt n guồn từ việc bong bón g tài sản nổ tun g, với mức độ ngh iêm trọng không giốn g nhau. Thời kỳ Đại suy thoái sau năm 1929 đã buộc n ước Mỹ phải tìm kiếm những biện pháp cải cách hệ thống n gân hàn g và các thị trườn g chứng khoán. Cho đến năm 1929, những đợt suy thoái này vẫn được gọ i là “cơn hoản g loạn”. Thuật ngữ “suy thoái” chỉ được sử dụn g m ột hoặc hai lần v ào đầu thế kỷ 20, nhưn g trong nh ững năm 1930, thuật ngữ này bắt đầu được sử dụn g liên tục trong suốt thập kỷ. Chu kỳ truyền thống vẫn tỏ ra không hề thay đổ i. Cuộc suy thoái năm 2001 là hậu quả của bon g bóng chứng khoán n ợ và nhiều người đã sử dụn g công n ghệ máy tính mới để giao dịch nhiều hơn ôn g cha họ đã làm trong thế kỷ 19. Cuộc khủn g hoản g sau đó đã tạm thời làm lắng dịu ham m uốn tìm kiếm lợi nh uận từ đầu cơ. Thế kỷ 19 và thế kỷ 20 có nhiều điểm chung h ơn là n gười ta có thể tưởng tượn g. Sau khi thoát khỏi sự ph ụ thuộc vào nước Anh, lần đầu tiên sau hơn 120 năm tồn tại, nước Mỹ đã trở thành m ột chủ thể hoàn t oàn độc lập về n guồn vốn nước n goài. Cho đến Chiến tranh thế giới Thứ nhất, nhiều ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng của Mỹ đã được cấp vốn từ nguồn vốn nước ngoài, chủ yếu dưới h ình thức m ua trái phi ếu. Người Mỹ sản x uất hầu hết các lo ại hàn g hóa và dịch v ụ m à họ cần nhưn g nguồn vốn ch ủ y ếu ch ỉ là nguồn cun g n gắn hạn cho đến kh i cuộc chiế n làm t hay đổi bức tranh địa chính tr ị thế giới. 12 Tình hình không thay đổi cho đến c uối những năm 1970, khi mà vị thế địa kinh tế c ủa n ước Mỹ m ột lần nữa bị đảo lộn. Hệ số tiết kiệm hộ gia đình của n ước Mỹ suy giảm và nguồn vốn bên ngoài ào ạt ch ảy vào đất nước này. Trái phiếu một lần nữa lại được y êu thích nhưn g các thị trường cổ phiế u c ũn g bắt đầu tỏ ra có m ức sinh lời cao. Người tiêu dùng, với lượn g tiền dành cho t iêu dùn g chiếm hai phần ba tổng sản phẩm quố c nội của Mỹ từ nhữn g năm 1920, m ua hàng hó a nội địa và hàng hóa nước n goài , t rong khi người nước n goài cun g cấp vốn cần t hiết để tran g trải cho nhiều ngành côn g n ghiệp Mỹ v à thậm chí cả cho các khoản mục chi tiêu của ch ính quyền liên ban g. T ình huống này tồn tại cho đến ngày nay, với khoản g m ột nửa trái phiếu kho bạc Mỹ đan g nằm t rong tay chính quyền T run g Quốc. c. Sự b ùng nổ tài sản cầm cố Sau v ụ vỡ bon g bon g trong n gành công nghệ thông tin và vụ t ai tiến g ở các t ập đoàn Enron and WorldCom, Wall Street dường như đan g trong thời kỳ xả hơi do thiếu ý tưởng mới nhằm tạo động lực cho một bong bón g m ới. Nhưng đây chính là sự phối hợp giữa các xu thế mang tính chu kỳ có khả năn g lại gây r a một sự bùn g nổ lớn hơn trong ngắn hạn. Toàn cầu hóa cùn g với dòng vốn bên ngoài đan g ồ ạt chảy vào nước Mỹ và nhữ ng phân tích tài chính không m ấy khả quan phối hợp với bong bó ng nhà ở đã tạo ra một chu kỳ bùng nổ ngu y hi ểm, có khả năng h ủy diệt chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ. Sự bùn g nổ thị trườn g m ới đây không phải là nguyên nhân gây ra cuộc kh ủng hoảng này. Trong đợt són g chứn g khoán n ợ và sau sự ki ện k inh hoàng ngày 11 thán g 9, tình thế đã bị đảo ngược. Nước Mỹ trở thành trung tâm chú ý của nhiều nhà đầu tư. Xuất hiện nh iều người m ua và nhiều người khác muốn m ua lại tài sản cầm cố hiện thời của họ. Hiện tượng mới này thực ra chỉ là phươn g thức cũ được khoác cho hình thức c ấp vốn hiện đại hơn m à thôi. Tình hình này khiến cho việc phát hiện ra các vết rạn nứt của hệ thống trong giai đoạn đầu là rất khó khăn. Tất cả các nh ân t ố liên quan đến sản xuất đều đã được quan sát thấy trước đó. Nhiều nhân tố đã được biết rõ v à đã từn g là ph ươn g thức vẫn được sử dụng tron g tài chính. Chứn g khoán hóa đã được sử dụng từ nhiều thập kỷ bởi các côn g ty tài chính nhà đất Hoa Kỳ nhằm biến tài sản nh à đất cầm cố thành chứng khoán để bán cho các nhà đầu tư. Ph ươn g thức này tạo ra nhiều vốn hơn cho thị trường nhà đất trong lúc nhu cầu về nhà đất đan g ở mức rất cao tính từ sau năm 2001. Ý tưởn g m ới ở Wall Street là cấp vốn cho “ Giấc mơ Mỹ” – ý tưởn g về việc t ất cả mọi n gười có thể sở h ữu một căn nhà của riêng mình. Nh u c ầu trái phiếu được chứn g khoán hóa tỏ ra rất mạnh mẽ đến mức ch ứn g khoán nhà đất ở Wall Street đồn g loạt tăng điểm với tốc độ chón g m ặt. Nhiều nhu cầu xuất hiện từ phía các nhà đầu tư nước n goài – các ngân h àng trun g ương, các n gân h àn g, c ác quỹ đầu t ư độc lập và các công ty bảo hiểm – tất cả đều bị thu hút bởi loại hình đầu tư này. Đồn g đô-la Mỹ được quay vòng một cách nhanh chón g bởi chính những nhà đầu tư, đặc biệt là các n gân hàng trun g ương và c ác q uỹ đầu tư độ c lập, x uất phát từ chính da nh mục tài khoản thanh toán v ãn g lai mà các quốc gia này tích lũy 13 được với nước Mỹ. Tiền bắt đầu rờ i khỏi n ước Mỹ vì ng ười dân Mỹ m ua hàn g hóa nhập khẩu t ừ các nhà sản x uất nước ngoài nhưng tiền lại nhanh chón g quay lại Mỹ dưới hình thức đầu tư. d. Nạn nhân của chính những thành cô ng của họ Bong bón g tài sản cầm cố bắt đầu được bơm căn g từ sau năm 2001 và chỉ tron g vòn g vài năm nó đã trở nên đáng lo n gại. Nh u cầu chứn g khoán cầm cố vẫn ở m ức cao nhưng việc thanh toán tài sản cầm cố trước hạn, v ỡ nợ v à nhữn g đổ v ỡ khá c liên quan đến các sản phẩm tài chính phái sinh đã khiến cho giá trị tài sản sụt giảm. Vào cuối m ùa hè năm 2007, lãi suất n gắn hạn bắt đầu tăng lên sau khi đạt mức thấp nh ất trong lịch sử, các dấu hiệu rạn nứt bắt đầu được nhận ra khi giá trị ký quỹ và giá trị tài sản bắt đầu lao x uốn g dốc, từ đó khiến kh ủng hoản g n gân hàn g và bảo h iểm bùng nổ chỉ trong v ài tháng. Trong quá khứ, nếu khôn g có sự có mặt của công nghệ, cả quá trình này thườn g phải diễn ra trong v ài năm. Sự bùn g nổ này là hậu quả của quyết định ph i điều tiết thị trường tài ch ính mà Chính ph ủ Hoa kỳ đã thực thi t ừ năm 1999 – m ột quy ết định chính thức ra đời sau h ai thập kỷ t ừn g bước giải phóng thị trường tài chính khỏi những quy định điều tiết vô cùng nghiêm khắc. Môi trườn g tài chính mới mà quy ết định này tạo ra đã cho phép các n gân hàn g và các ngân hàng đầu tư cùn g ch un g sống – điều bị c ấm thực hiện từ năm 1933. Khi các ngân hàng này bắt đầu chia sẻ lợi nhuận t ừ quyết định phi điề u tiết thì nhữn g ý tưởn g cũ về quản lý r ủi ro bắt đầu bị bỏ quên trước sức hút tìm kiếm lợi nhuận. Thị trường tín dụng và khủn g hoảng tài sản cầm cố đã đặt dấu chấm hết cho gần 40 năm sun g túc của các côn g ty nh à đất trên kh ắp nước Mỹ và nhữn g lợi ích mà họ cun g cấp k ể từ kh i bộ luật xã hộ i được thông qua vào những năm 1960. W all Street, các thị trường tín dụn g và n gành công n ghi ệp bất độn g sản Hoa Kỳ đều trở thành nạn nhân của ch ính những thàn h công của họ khi thị trường bắt đầu sụp đổ vào n ăm 2008. Sự tham lam , thiếu tầm nhìn điều tiết và tính ngụy biện của nền tài chính bị cơ cấu đã tạo ra nh ững côn g c ụ tài chính kỳ c ục, t ất cả đều là n guyên nhân gây ra những đổ vỡ thị trườn g m ới đây v à ảnh h ưởn g xấ u tới toàn bộ nền k inh tế. Điều quan trọng nhất là c uộc kh ủng hoản g n ày đã chỉ ra nh ữn g cạm bẫy của phi điều tiết và toàn cầu hóa. Đáng tiếc là chúng ta đã quên mất rằn g ch ủ n ghĩa hoài ng hi thích hợp luôn ph ải đi kèm với bất kỳ sự bùng nổ nào. Toàn cầu hóa giúp tạo ra n ăn g lượng cho khủng hoảng và chắc chắn cũn g sẽ được sử dụng để giải quyết những vấn đề m à khủng hoản g đã đặt ra. Phi điều tiết sẽ được thay thế bằn g các biện pháp ki ểm soát thể chế nghiêm ngặt hơn đối với các thể chế tài chính để ngăn n gừa hành vi gian lận và các m ánh khóe. Phải cần tới 4 năm sau khi thị trường đổ vỡ năm 1929 để xây dựn g một cấu tr úc điều tiết nhằm phân biệt các loại n gân h àng khác nha u v à xây d ựn g bộ luật ch ứn g khoán liên ban g. Định luật Mo ore cho phép chúng ta dự đoán rằn g tiến trình này sẽ diễn ra nhanh hơn vào th ời điểm hiện tại. Các lực lượng của toàn cầu hóa sẽ đòi hỏi điều đó . 2.3.2 Q uy mô hoạt động a. Wall Street 14 Qua năm tháng, một số nhân vật ưu thế m à sự n ghiệp gắn liền với Wall Street đã trở nên quen thuộc với thế giới. Một số nổi tiến g nhờ chiến lược đầu tư khôn ngo an như Warren Buffet (kẻ biết cách lấy lòn g người nghèo) nhưng cũn g có người nổi tiếng nhờ lòng tham như Bernie Madoff (trùm lừa quĩ đầu tư đan g n gồi tù dài hạn), nhất là khi xảy ra cuộc khủn g hoản g tài chính 2008 và m ới đây là cuộc khủn g hoảng nợ công đe dọa sự ổn định của đồn g tiền chung châu Âu và bộ máy quyền lực của nước Mỹ. Một trong những biể u tượn g đáng nhớ nhất của Wall Street thời thịnh vượn g là tượn g con bò m ộng Char ging Bull của điêu khắc gia Art uro Di Mo dica. Đại diện cho nền kinh tế thị t rường, bức tượn g này đặt trước toà nhà NYSE rồi m ới di ch uyển đến Bowlin g Green như hiện nay. Có W all Street, New York City đã cạnh tranh với thành phố London để trở t hành trung tâm tài chính lớn nhất thế giới. Và nay NYSE đã làm được điều này khi trở thành thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới nếu tính theo giá trị vốn hoá của các côn g ty niêm yết. Nhiều giao dịch chứn g khoán và tài chính quan trọng của Mỹ vẫn tập trung tại Wall Street nói riên g và Finan cial District nói ch ung. Các định chế đan g hoạt độn g tại W all Street được gọi là “cá mập t ài chính” luôn chốn g lại sự giám sát và các luật lệ điề u tiết của chính ph ủ. Độ i ngũ vận động hậu trường đôn g đảo tại Wall Street vừa thành công trong ph a vận động ngo ạn mục sửa đổ i dự luật cải cách tài chính c ủa Tổng thống Mỹ Bar ack Obam a khi nó được đưa ra biểu quyết tại Thượn g Viện v à Hạ viện. Họ đã làm thay đổi điều khoản Volcker của dự luật, trong đó cấm các ngân hàn g và quĩ đầu tư rót tiền vào các giao dịch địa ốc và chứn g khoán có nguy cơ cao, nhằm ngăn ngừa tái diễn khủn g hoảng tài chính. Dự luật sửa đổ i cho phép các ngân hàn g và quĩ đầu tư dùn g 3% vốn hoạt độn g vào việc này thay vì cấm hoàn toàn. Sau đây là danh sách 12 côn g ty lớn nhất ở phố Wall h iện nay : • American Express • Ngân hàn g New York • Ngân hàn g Nova Scot ia • Cantor Fitzgerald • CI BC World Markets • Citigro up / Salomon Smith Barney (Mor gan St anley Sm ith Barn ey): Salomon Smith Barney, sau này trở thành m ột bộ phận của tập đoàn Citigroup • Deutsche Bank • Fidelity Investments • Goldm an Sach s • Merrill Lynch • Morgan Stan ley • Quỹ Opp enheimer b. Sở giao dịch chứ ng khoá n New Yo rk (biệt da nh là Big Board) 15 Khi nói đến TT CK New York, n gười ta thường hình dung trụ sở của New York Stock Excgange (NYSE-Sở giao dịch chứng khoán New York). Ở đó có 3 sàn giao dịch mà cái sàn lớn nhất du khách thườn g được dẫn đến xem là một khu gần như vuông khoảng 40m m ỗi chiều và cao khoảng 25m, trong đó có 14 quầy hình móng ngựa (t rading posts) bán các loại ch ứng khoán khác nhau t ùy theo côn g ty và lo ại hàng. NYSE là một trong những nhơi mua bán chứn g khoán nhiều nhất thế giới. Năm 1990, khi trụ sở hiện thời được xây xong, t hì ở vĩ r uồi nằm trên 6 cột trụ kiểu Corin (Corinthian) m ặt trước trụ sở (phần tam giác giống đầu hồi căn nhà), n gười ta đắp m ột bức phù điêu trong đó có các mô hình tuợng trưng cho nôn g n ghi ệp, hầm mỏ, khoa họ c, công nghiệp và phát m inh là nhữn g n guồn gố c tạo nên sự giàu có của n ước Mỹ. Điều đán g ch ú ý là tượn g cao nhất đứn g ở giữa bức ph ù điêu là tượn g c ủa m ột người đàn bà tượn g trưng cho sự liêm chính, bên cạnh là 2 người đàn ôn g nhỏ hơn, một người nhận và một người ghi sổ c ủa n gười khác đưa cho bà ta. Sự liêm chính là luật pháp chi phối các quy định c ủa TTCK New York làm cho những điều tốt đẹp sẽ đến với thị t rường này. Đó là quan niệm của nhữn g n gười ch ủ xướn g bức ph ù điêu. TT CK và Sở giao dịch CK NY có m ột lịch sử trãi qua những thời kỳ chính nh ư sau: Sau khi n gười Anh thua trong cuộc ch iến tranh giành thuộc địa, New York trở thành trung tâm m ua bán thương mại quốc tế. Nhiều n gân hàn g và côn g ty bảo hiểm được lập ở đó nên TT CK ngày càn g nhộn nhịp. Nhi ều loại ch ứng khoán được 2-3 tổ chứ c khác nhan bán. Đến ngày 8-3-1817, các n gười môi giới họp nhau lại và định ra kỳ hạn gặp nhau và lập nên Sở Chứng Khoán và Giao Dịch New York ( New York Sto ck Exchan ge Boar d-NYS&E B), đặt ở 40 phố Wall Street và hoạt động theo những tập tục nh ư ở Paris, Lon don và Amsterdam . NYS& EB là một hội tư nhân, cung cấp các ph ươn g tiện và đặt ra nội quy cho việc m ua, bán ch ứng khoán. Hộ i đề ra những quy định chi tiết về việc m ua bán, mức ho a hồng và sự cam kết giao hàng. Hội cấm ký kết các h ợp đồng ma để không làm thương tổn sự liêm chính của mình và của thị trườn g. M uốn thành hộ i viên, ứng viên phải được hội viên cũ giới thiệu và phải qua bỏ phiếu ch ấp nhận. Để giữ gìn uy tín, hoạt động của hội viên, t ừ lời nói đến trang phục đề u được quy định chặt chẽ và có hình phạt. Thuở ban đầu (1790 - 1792) Từ năm 1790, chính quyền liên bang Mỹ đã phát hành trái phiếu chính ph ủ (công trái public stock) lên đến 80 triệu USD để tài trợ cho các dự án của nhà nước. Côn g trái khi bán cho nhữn g người mua đầu tiên đã tạo n ên thị trườn g sơ cấp (pr imary market); lúc người này bán lại cho nhiều người khác thì sự mua bán này tạo nên thị trường thứ cấp (secondary market). Cùng lúc với chính phủ bán côn g trái, c ác côn g ty bảo hiểm và n gân hàn g cũng bán cổ phiếu. Việc buôn bán diễn ra ở nhiều nơi nh ưn g ở New York là nhộn nhịp nhất. Vì bên bán không ra mặt nên việc bán cho công chúng do các nhà m ôi giới (broker) thực h iện. Từ 'broker' được dùn g từ kho ản g năm 1622, lúc đầu nó chỉ những người bán r ượu nho lẻ, n gười phải ph á cái thùng gỗ để chiết rượu. Đi vào tổ chức (1792-1817) 16 Khi công trái được m ua bán trên đườn g phố thì có nhiều n gười, nhiều giới tham gia nhưng m ỗi giới làm một cách khác nhau theo sáng kiến của họ nên r ất lộn xộn. Vì thế, n gày 17-5-1792, 24 người môi giới mua bán nhiều nhất ở New York cùng nhau ký một hợp đồn g cam kết n găn chặn sự độc quyền mua bán công trái của những người bán đấu giá. Họ đồng ý không tranh nhau để đấu giá, lấy ít hoa hồn g khi m ua bán, và tôn trọng quyền lợi của nha u. Phát triển hoạ t động (1817-1884) Sau c uộc nội ch iến, cuộ c ch iến tranh với Meh ico, việc tìm thấy vàng ở California và phát m inh ra điện tín trong nh ữn g năm t ừ 1842-1853, hoạt độn g thươn g mại ở New York ngày càng phát triển. TT CK c ũn g mở rộn g theo. NYS& EB chính thức hóa việc niêm yết (listing) ch ứn g khoán như là một thủ tục để các công ty chứn g tỏ cổ phi ếu của họ có đủ điều kiện m ua bán. Trước kh i có nhữn g thủ tục này, nh ữn g công ty nào có sổ ch uyển nhượn g chứn g khoán để ở New York thì chứn g khoán của họ có thể được hộ i viên của NYS& EB đặt m ua hay bán tùy theo ý thích c ủa nhữn g n gười này. T hư ký giữ sổ sẽ gh i vi ệc chuyển nhượng của người cũ và vi ết cổ phiế u cho n gười mớ i.. Năm 1853, NYS& EB buộc các công ty muốn cho cổ phiếu được niêm yết phải côn g bố số vốn, số cổ phiếu và n gân quỹ đã được xác nhận. Nước Mỹ tiếp tục phát triển, đường xe lửa được nối từ đông san g tây. TTCK New York là nơi làm t rung gian c ung cấp tài chính cho nhữn g công trình ấy, v à bản t hân nó cũn g mở rộn g theo. Số hội viên từ 533 tăng lên 1060 vào năm 1868. ít lâu sau, N YS&E B nhập chung với m ột tổ chức khác chuyên bán côn g trái, nó đổi tên thành New York Stock Exchan ge (NYSE), là cái tên tồn tại cho đến n gày nay. Việc điều h ành NYSE do một ủy ban ph ụ trách. Nh iều tập tục, t iếng lón g sử dụng giữa các hội viên ở sàn bán ch ứn g khoán trở t hành tr uyền thống. Ví dụ, đơn vị lẻ của một đô la được chia l àm 8 khấc hay phân, t hay vì 10 đơn v ị, m ỗi khấc là 0.125 thay vì 0.1; c ách phân chia này là do tập tục tron g việc chia cắt bạc mà ra. Trong T iến g Anh, người ta vi ết là 1/8 ; thí dụ, 301/8, tức là 30,125 (ở đây, để cho gọn, ch úng ta dùn g 2 số lẻ cho nên số trên là 30,12). Hay từ 'ball' để chỉ giá cả lên, từ 'bear' để ch ỉ giá cả xuống. Văn phòng c ủa các n gười m ôi giới tuy mở rộng cho côn g chúng, nh ưn g họ chỉ nhận lệnh đặt mua bán chứn g khoán của nhữn g ai quen t huộc, hay được giới thiệu cẩn thận, và được biết chắc về tài khoản ở ngân hàn g cùng tinh thần trách nhiệm đối với tiền bạc của nhữn g n gười này. Vào thời đó, ch ính uy tín của những n gười m ua bán quyết định việc họ được tham gia TTCK hay không. Mãi sau này khi dân ch úng có trình độ học vấn cao, lợi tức nhiều và biết nhiều hơn về chứn g kho án, việc mua bán ch ứn g khoán mới trở nên rộn g rãi. Phát triển luật lệ (1844-1934) NYSE càn g có nhiều người tham dự hơn khi điện tín do Morse ph át m inh được đưa vào sàn giao dịch năm 1844, liên lạc liên lục địa được nối n ăm 1866, điện thoại được đặt năm 1878 và băng báo giá cả chứng kho án (stock ticker) được phát m inh vào năm 1867. Dù vậy, cho đến năm 1890, hoạt độn g c ủa thị trườn g vẫn chỉ do m ột nhóm nhỏ tài phiệt chi phối. Họ làm mưa làm gió trên thị trường. Luật côn g ty lúc đó chưa ch ặt chẽ lắm nên đã xảy ra nhữn g ch uyện l ừa đảo, như tài sản côn g ty chẳng có bao nhiêu m à bán cổ phiếu với giá cao. Vào 17 năm 1867, có vài tay nổi t iến g như James Fisk Jr., Jay Go uld đã làm việc này. Để ngăn chặn, NYSE buộc các chứn g khoán đã được niêm yết phải được đăng ký ở m ột cơ quan như ngân hàn g. T rách nhiệm của n gười đăn g ký là bảo đảm chứng khoán đã chuyển nhượng ghi vào sổ, và số chứng khoán giao cho n gười mua phải ngan g với số bị hủy v ì đã bán, và số chứn g khoán lần đầu phải nằm trong phạm vi số ốn côn g ty được phép gọi (authorized capital). Ngoài ra, đơn xin niêm yết cũng được một ủy ban r iên g kiểm t ra chặt chẽ trước khi ủy ban điều hành chấp nhận. Hoàn chỉnh (từ 1934 trở đi) Với nh ữn g quy định nội bộ như thế nhằm bảo đảm uy tín của mình, NYSE đã trãi qua nhữn g giai đo ạn thăn g trầm của ch ủ nghĩa t ư bản nói chung và của nước Mỹ nó i riên g vào c uối thế kỷ 19 san g đầu thế kỷ 20, rồi chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cuộc kh ủng hoảng kinh tế từ năm 1929-1933 và thế chiến thứ 2. Từ từ, hoạt động của NYSE được chính quy ền hỗ trợ và được củn g cố. Hệ thống ngân hàng dự trữ liên ban g được lập năm 1914, rồi ủy ban giao dịch chứn g khoán ra đời năm 1934 ph ụ trách đăn g ký chứn g khoán. Đồn g thời NYSE từ m ột 'hội tư nhân mang trên m ình quá nhi ều lợi ích chung' trở thành m ột tổ chức hoạt động quy củ, có chủ tịch h ưởn g lương, m ột hội đồng điều hành bao gồm nhiều đại diện nhữn g n gười môi giới, và một bộ phận nhân viên hành chánh hưởn g lương quản lý hoạt động của sàn giao dịch như thấy ngày nay. Tại New York và Pari s, ngày 1 tháng 6 năm 2006 trong buổi họp báo NYSE và Euronext thông báo với toàn thế giới đã hoàn th ành văn bản kí kết sáp nhập theo thỏa thuận ngang bằng. Nếu được cổ đông hai bên đồng ý và hoàn thành các thủ tục pháp lý, tập đoàn m ới với tên gọi NYS E Euronext sẽ ra đời, là tập đoàn toàn cầu cung cấp cá c dịch vụ giao dịch chứng khoán, tiề n tệ, dịch vụ hàng hóa tài chính phái sinh,...mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư, cổ đông và các công ty phát hành. Là sự hợp nhất gi ữa hai nhà khổng lồ, NYSE Euronext sẽ là thị trường tài chính toàn cầu đích thực và có tính thanh khoản cao nhất thế gi ới, nơi mang lại lợi ích tuyệt vời đồng th ời cho cả các nhà đầu tư l ẫn các nhà phát hành chứng khoán ở Mỹ, châu Âu và trên toàn cầu. Theo John A. Thain, Giám đốc của NYS E, đây là bước tiến quan trọng trong lịch sử của NYS E, Euronext cũng như thị trường tư bản toàn cầu. Việc đồng hành với Euronext giúp NYS E hoàn thiện hơn quan niệm rằng một thị trường toàn cầu thực sự hội tụ đầy đủ các yếu tố về sản phẩm và m ôi trường địa lý sẽ m ang lại lợi nhuận cho tất cả các nhà đầu t ư, các công ty phát hành cổ phi ếu, người nắm giữ cổ phiếu, và cổ đông. Còn theo bình luận của Jean-Françoi s Théodore, G iám đốc của Euronext, việc kết hợp NYS E- sàn giao dịch chứng khoán đi đầu trong giao dịch tiền tệ, chứng khoán nổi tiếng toàn cầu với Eu ronext- sàn giao dịch quốc tế, không có biên giới, kĩ thuật và công nghệ cao với nhiều sản phẩm đa dạng nên NYSE Euronext sẽ đóng vai trò là đầu tàu có tính toàn cầu cho sự phát triển sau này. Ngày nay NYSE- Euronext chiếm vị trí độ c tôn lớn nhất thế gi ới với khoảng 3269 công ty vốn hóa thị trường là 15.970 tỷ USD ,gi á trị giao dịch l à 19.813 tỷ USD số liệu ngày 31 tháng 12 năm 2010. C ùng với đó là sự ảnh hưởng m ạnh mẽ của nó tới thị trường chứng 18 khoán thế gi ới. Nhịp thở NYSE có ảnh hưởng dây chuyền. G iới mua bán chứng khoán London vẫn có thói quen “chờ New York mở cửa” trước khi họ tiến hành giao dịch. Tầm quan trọng NYS E còn được m iêu tả trong nhiều quyển sách, như Bonfire of the vanities (Lửa phù hoa) hay Liars’ poker (Q uân bài của những kẻ dối trá); cũng như trong nhiều bộ phim. C ác vụ mua bán cổ phiếu mà gần 1/2 hộ dân Mỹ đầu tư đều tiến hành m ột phần qua NYS E. NYSE tê liệt cũng có nghĩa cái trục mà các thị trường tài chính toàn cầu quay quanh cũng bị gãy. Yo rk-Nyse Euronext cũng là thị trường có tính thanh khoản cao nhất vì ở thị trường này có nhiều người mua và bán với khối lượng lớn thêm vào đó là các lệnh gi ao dịch không làm ảnh hưởng nhiều đến giá trong thị trường này. c. Thị trường c hứ ng khoá n Nasdaq (Na sdaq) NASDAQ là chữ viết tắt của cụm từ National Association of Securities Dealers Automated Q uotations system , là sàn giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ, có giá trị vốn hoá thị trường đứng thứ 2 thế giới (sau NYSE ). Điểm khác biệt quan trọng giữa NASDAQ với các sàn giao dịch chứng khoán lớn khác là ở chỗ nó là một sàn giao dịch chứng khoán phi tập trung (O TC ). Nasda q được thành lập năm 1971 bởi H iệp hội những người buôn bán chứng khoán Q uốc gia (NASD), và hiện đang được điều hành bởi Nasdaq Stock Market, Inc. NASDAQ là sàn giao dịch chứng khoán điện tử lớn nhất nước Mỹ, với khoảng 2849 công ty niêm yết và số lượng cổ phiếu giao dịch bình quân nhiều hơn bất kỳ sàn giao dịch khác ở Mỹ, kể cả NYSE. Khi bắt đầu mở cửa giao dịch vào ngày 8/2/1971, NASDAQ là sàn thị trường chứng khoán điện tử tiên phong trên thế giới. Lúc đầu, nó chỉ đơn thuần là hệ thống bản điện tử niêm yết gi á chứ chưa thực sự kết nối giữa người mua với người bán. Tác dụng quan trọng nhất lúc đó là nó giúp làm giảm m ức chênh lệch giữa giá mua(bid price) và giá bán(ask price) cổ phi ếu, gây bất lợi cho những tay môi giới chứng khoán thường kiếm bộn nhờ chênh lệch này, song lại làm thị trường chứng khoán hoạt động nhộn nhịp hơn. Vài năm sau, NASDAQ tiến gần hơn đến một sàn giao dịch chứng khoán theo đúng nghĩa của nó, khi đưa vào hoạt động hệ thống báo cáo và gi ao dịch chứng khoán tự động. Cho đến năm 1987, hầu hết các gi ao dịch được tiến hành qua điện thoại, song trong suốt cuộc khủng hoảng của thị trường chứng khoán năm 1987, những người tạo lập thị trường hầu như không trả lời điện thoại. Để đối phó với vấn đề này, H ệ thống thực thi các lệnh nhỏ (SOES) đã ra đời, cung cấp cho những người mua bán chứng khoán một phương thức giao dịch điện tử hoàn toàn m ới, và để đảm bảo những gi ao dịch nhỏ không bị bỏ qua. NASDAQ cũng niêm yết cổ phiếu của chính họ trê n sàn dưới m ã hiệu NDAQ . C hỉ số chủ yếu trên NASDAQ là chỉ số tổng hợp NASDAQ ( The Nasdaq Composite), được xây dựng dựa trên giá cổ phiếu của toàn bộ các công ty niêm yết trên NASDAQ. C hỉ số này là chỉ số được theo dõi nhiều nhất đối với các công ty về công nghệ. 19 Một số m ốc chính với chỉ số tổ ng hợp NASDAQ: • 17/7/1995: lần đầu ti ên chỉ số tổng hợp NAS DAQ đóng cửa ở m ức giá trên 1000 điểm • 10/3/2005: chỉ số này đạt m ức giao dịch cao kỉ lục 5,132.52 điểm • 10/10/2002: chỉ số tổng hợp NASDAQ tụt xuống mức thấp nhất 1,108.49 điểm Các chỉ số chứng khoán: • Nasda q indices • NAS DAQ C omposite • NASDAQ -100 • Nasda q Financial 100 H iện nay có 2849 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh NASDAQ C omposite thì NASDAQ 100 và Nasdaq Financial 100 cũng là những chỉ số chứng khoán rất quan trọng. Nasda q 100 là chỉ số chứng khoán của 100 công ty phi tài chính lớn nhất được niêm yết trên NASDAQ , cả công ty trong nước và quốc tế , còn Nasdaq Financial 100 là của các công ty tài ch ính. Trong danh sách của NASDAQ 100 được công bố 1/2/2007 có nhiều cái tê n khá quen thuộc trong lĩnh vực IT như: Adobe Systems Incorporated ( ADB E), Amazon.com , Inc. (AMZN), Apple Inc. (AAPL), Cisco Systems, Inc. (CSCO), Dell Inc. (DELL), eBay Inc. ( EB AY). NASDAQ đã có n hững nỗ lực đáng kể nhằm thâu tóm London Stock Exchange. Hiện NASDAQ đã nắm được 28.75% cổ phần của London Stock Ex change và đưa ra mức giá £12.43, mức gi á cao nhất mà họ từng trả cho một cổ phần trên thị trường mở. d. Ngân hà ng Dự T rữ Ne w Yo rk: Ngân hàn g Dự trữ New York (Federal Reserve Bank of New York) là một trong 12 n gân hàng khu vực trực thuộ c Cục Dự trữ Liên ban g Mỹ. Ngân hàng Dự trữ New York có địa vị quan trọng nhất. Theo Mishkin (2004) có ba lý do giải thích vị t rí quan trọn g c ủa Ngân hàng Dự trữ New York. Trước tiên, ngân hàng này hoạt động tại khu vực có hội sở của các ngân hàng thương mại lớn nhất nước Mỹ: Phố Wall, New York. An toàn và sức m ạnh của các n gân hàn g thươn g mại này quyết định trạng thái của hệ thống tài chính Hoa Kỳ. Ngân hàng Dự trữ New York thực hiện chức năng giám sát hoạt động mọi tổ chức tài chính trong kh u v ực. Bộ phận giám sát tại New York có số lượng nh ân sự lớn nhất trong các bộ phận giám sát của h ệ thống FED . Ngân hàn g Dự trữ New York cũn g là tổ chức duy nhất trong hệ thống FED tham gia các giao dịch trái phiếu và n goại hối trên thị trường quốc tế. Ngân hàn g n ày c ũn g tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thị trườn g m ở (m ua và bán trái ph iếu) quyết định mức dự trữ c ủa hệ thống ngân hàng. e. Sở Dịch v ụ Doanh nghiệp nhỏ SBS 20
- Xem thêm -