Trình bày lý luận nhận thức và thực tiễn

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
e-lyly

Đã đăng 5165 tài liệu

Mô tả:

Câu hỏi: TRÌNH BÀY LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN DÀN Ý: Lý luận nhận thức hay còn gọi là nhận thức luận nghiên cứu bản chất, những tính quy luật, những hình thức và phương pháp của nhận thức, vấn đề chân lý... từ đó giải đáp mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học. I) Bản chất của nhận thức Nhận thức là gì? Con người có thể nhận thức được thế giới hay không? Phủ nhận quan điểm duy vật cho rằng nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, một số nhà triết học duy tâm cho rằng.nhận thức là “sự hồi tưởng” của linh hồn bất tử về thế giới ý niệm mà nó đã trải qua (Pla-tôn), hay là sự tự nhận thức của “ý niệm tuyệt đối” (Hê-ghen). Một số khác thì coi nhận thức là quá trình tự sản sinh ra tri thức bởi chủ thể (Bec-cơ-li). Như vậy, theo họ nhận thức không phải là phản ánh thế giới mà chỉ là tự nhận thức, ý thức về bản thân mà thôi. Những nhà triết học theo chủ nghĩa hoài nghi lại nghi ngờ tính xác thực của tri thức, biến sự nghi ngờ thành nguyên tắc của nhận thức; từ đó, đi tới nghi ngờ cả sự tồn tại của thế giới bên ngoài nhận thức của con người. Sự phát triển của khuynh hướng triết học này dẫn tới sự ra đời thuyết “không thể biết” ở thế kỷ XVII - XVIII. Những người theo thuyết “không thể biết” cũng có những quan điểm lý luận khác nhau, song đều phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người. Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật cho rằng nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. Như vậy, chủ nghĩa duy vật thừa nhận thế giới tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào ý thức con người, là nguồn gốc duy nhất của nhận thức. Chính sự tác động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất ấy lên các giác quan của con người đã gây nên những cảm giác. 2 Trong lịch sử phát triển của mình, chủ nghĩa duy vật luôn luôn bảo vệ nguyên tắc nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người. Nhưng chủ nghĩa duy vật trước Mác có những hạn chế sau đây: - Do tính chất máy móc và siêu hình, chủ nghĩa duy vật trước Mác đã hiểu phản ánh là sự sao chép một cách giản đơn, chứ không như là quá trình vận động biến đổi, nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn, Sở dĩ có hạn chế trên, theo Lê-nin, là do chủ nghĩa duy vật trước Mác không biết áp dụng phép biện chứng vào lý luận về nhận thức. Do tính trực quan nên chủ nghĩa duy vật trước Mác hiểu phản ánh là kết quả của sự tiếp nhận một cách thụ động sự tác động trực tiếp của các sự vật lên các giác quan của con người, không thấy được vai trò tích cực của con người bằng hoạt động thực tiễn tác động biến đổi các sự vật và trên cơ sở đó phản ánh chúng. Mác đã viết: “Khuyết điểm chủ yếu của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách) là sự vật, hiện thực, cái có thể cảm giác được chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người là thực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ quan”. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục những hạn chế trên của chủ nghĩa duy vật trước Mác, lý giải một cách khoa học vấn đề bản chất của nhận thức. Lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây: 1) Thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất ở bên ngoài và độc lập với ý thức. Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người. 2) Thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, về nguyên tắc, không có cái gì là không thể biết mà chỉ là chưa biết được mà thôi. 3) Nhận thức không phải là hành động tức thời, thụ động mà là quá trình biện chứng. Nhận thức của con người cũng như của loài người là qua trình đi từ 3 chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều; đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn... 4) Nhận thức của con người có nguồn gốc ở thế giới vật chất; nhưng cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn. Con người là chủ thể của nhận thức trước hết vì nó đã là chủ thể trong hoạt động thực tiễn của mình. Con người cũng là sản vật của giới tự nhiên. Song, với hoạt động có ý thức, nó tự tách mình khỏi tự nhiên và coi thế giới bên ngoài là khách thể của nhận thức và thực tiễn. II) Thực tiễn đối với nhận thức Nếu như các nhà duy vật trước Mác, do thiếu quan điểm thực tiễn, đã chưa làm sáng tỏ được tính tích cực sáng tạo của nhận thức; thì ngược lại, chủ nghĩa duy tâm lại thổi phồng và thần thành hóa tính năng động sáng tạo của tư duy con người. Song, như Mác đã vạch ra, Chủ nghĩa duy tâm hiểu thực tiễn chỉ là hoạt động của tinh thần nên cũng không phát triển được mặt năng động sáng tạo trong hoạt động của con người. Với quan điểm duy vật biện chứng về thực tiễn và đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, Mác đã tạo nên bước chuyển biến cách mạng trong triết học nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng. Vậy thực tiễn là gì? Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. Khác với hoạt động tư duy, trong hoạt động thực tiễn con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất, làm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Những hoạt động như vậy được thực hiện một cách tất yếu khách quan. Thực tiễn là hoạt động đặc trưng bản chất của con người, không ngừng phát triển bởi các thế hệ loài người. Vì thế, thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động mang tính lịch sử - xã hội. 4 Hoạt động thực tiễn rất đa dạng với những hình thức ngày càng phong phú. Hình thức cơ bản đầu tiên của thực tiễn là sản xuất vật chất. Đây là hình thức cơ bản nhất, tạo thành cơ sở cho các hình thức hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động cải tạo xã hội là một hình thức cơ bản của thực tiễn, có tác dụng trực tiếp đối với sự phát triển xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng xã hội. Thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn. Hình thức cơ bản này của thực tiễn ngày càng có vai trò quan trọng trực tiếp đối với sự phát triển của nhận thức khoa học nói riêng, đối với sự phát triển của xã hội nói chung. Thực tiễn và nhận thức không ngừng phát triển trong sự tác động lẫn nhau, trong đó thực tiễn đóng vai trò là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức thể hiện ở chỗ nhận thức ngay từ đầu đều xuất phát từ thực tiễn và do thực tiễn quy định. Chính yêu cầu của thực tiễn sản xuất vật chất và thực tiễn cải biến xã hội đã buộc con người phải nhận thức thế giới. Nhờ có hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động, con người nhận thức được thế giới xung quanh. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã làm cho sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ; trên cơ sở đó con người nhận thức chúng. Như vậy thực tiễn đã đem lại những tài liệu cho quá trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Ngoài ra, thực tiễn còn làm cho các giác quan - các c ơ quan nhận biết của con người phát triển và hoàn thiện. Hoạt động thực tiễn còn tạo ra các 5 phương tiện, các dụng cụ tinh vi làm tăng thêm khả năng nhận biết của các giác quan: Không có các phương tiện, các dụng cụ như kính hiển vi điện tử, kính thiên văn, tàu vũ trụ, các máy tính điện tử v.v... do thực tiễn đem lại thì khoa học hiện đại không thể phát triển được. Thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Như vậy, thực tiễn là cơ sở hình thành và phát triển nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý. III) CON ĐƯỜNG BIỆN CHỨNG CỦA SỰ NHẬN THỨC CHÂ N LÝ Nhận thức dựa trên cơ sở thực tiễn nhưng nhận thức diễn ra như thế nào? Vấn đề này được Lê-nin diễn tả một cách khái quát như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Trực quan sinh động (giai đoạn nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức gắn liền với thực tiễn. Trực quan sinh động là phản ánh trực tiếp khách thể bằng các giác quan và diễn ra với các hình thức cơ bản kế tiếp nhau như: cảm giác, tri giác, và biểu tượng. Cảm giác là hình thức đầu tiên, đơn giản nhất của nhận thức cảm tính, phản ánh những mặt, những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Cảm giác có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức vì cảm giác đem lại những tài liệu đầu tiên cho quá trình nhận thức. Tất cả những hình thức tiếp theo của nhận thức đều dựa trên những tài liệu do cảm giác cung cấp. Từ những cảm giác, nhận thức cảm tính chuyển sang hình thức cao hơn đó là tri giác. Tri giác là hình thức cơ bản của nhận thức cảm tính, nó không phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của sự vật như cảm giác mà tri giác phản ánh đối tượng trong tính toàn vẹn trực tiếp, là sự tổng hợp nhiều thuộc tính khác nhau của sự 6 vật do những cảm giác đem lại. Từ những tri giác nhận thức cảm tính chuyển sang hình thức cao hơn đó là biểu tượng. Đây là hình thức cao nhất và phức tạp nhất của nhận thức cảm tính. Biểu tượng là hình ảnh về khách thể đã được tri giác lưu lại trong bộ óc con người và do một tác động nào đấy được tái hiện, nhớ lại. Là sản phẩm của những tri giác cảm tính trước đó, biểu tượng có vai trò là khâu trung gian giữa trực quan sinh động và tư duy trừu tượng. Như vậy, cảm giác, tri giác và biểu tượng là những hình thức khác nhau của giai đoạn đầu tiên trong quá trình nhận thức. Mọi sự nhận thức đều bắt đầu từ giai đoạn này. Song chỉ bằng trực quan sinh động, con người không thể nhận thức được những mối liên hệ bản chất và các quy luật chi phối sự vận động phát triển của các khách thể. Để nắm bất được bản chất và quy luật của khách thể, nhận thức phải chuyển sang giai đoạn cao hơn, đó là tư duy trừu tượng. Tư duy trừu tượng (giai đoạn nhận thức lý tính) là giai đoạn tiếp theo cao hơn của quá trình nhận thức dựa trên cơ sở những tài liệu do trực quan sinh động đem lại. Tư duy trừu tượng cũng phản ánh hiện thực, nhưng là sự phản ánh gián tiếp và khái quát và do vậy “sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn” với các hình thức cơ bản như: khái niệm, phán đoán, suy luận. Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng. Nó bao quát cả một lớp sự vật, những thuộc tính cơ bản có tính bản chất. Khái niệm là kết quả của sự tổng hợp, khái quát những tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại. Các khái niệm được hình thành không phải trong sự tách rời, cô lập mà giữa chúng có sự liên hệ chuyển hóa, biến đổi và phát triển. Mỗi khái niệm đều nằm trong mối liên hệ với các khái niệm khác trong quá trình nhận thức tiếp theo về thế giới dẫn đến hình thành những khái niệm mới phản ánh sâu sắc hơn bản chất của sự vật. 7 Phán đoán là hình thức liên hệ giữa các khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong ý thức của con người. Phán đoán có thể phản ánh sự có mặt hay không một thuộc tính nào đấy của sự vật trong sự liên hệ với các sự vật khác. Khác với khái niệm phản ánh những thuộc tính chung bản chất của các sự vật, hiện tượng, phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và các mặt trong chúng. Cho nên phán đoán là hình thức biểu đạt các quy luật khách quan. Suy luận là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng. Suy luận là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phán đoán tiền đề. Suy luận là một phương tiện hùng mạnh của tư duy trừu tượng thể hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. Có thể nói toàn bộ các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy luận và nhờ có suy luận mà con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan. Như vậy, trực quan sinh động và tư duy trừu tượng là hai giai đoạn của một quá trình nhận thức, tuy có những khác biệt về vị trí và mức độ phản ánh, nhưng giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại. Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là một vòng khâu của quá trình nhận thức; trong đó, thực tiễn là điểm bắt đầu và là điểm kết thúc của một vòng khâu đó. Nhưng sự kết thúc này lại là bắt đầu của vòng khâu khác mới hơn, cao hơn và cứ như thế vận động mãi mãi, làm cho nhận thức của con người ngày càng đi sâu, nắm được bản chất và các quy luật của thế giới khách quan, phục vụ cho hoạt động biến đổi thế giới. IV) Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: 8 Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất biện chứng. Thực tiễn là hoạt động vật chất, còn lý luận là hoạt động tinh thần; thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý luận. Lý luận và kinh nghiệm là hai trình độ khác nhau của nhận thức. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Tri thức kinh nghiệm là tri thức chủ yếu thu được nuột cách trực tiếp từ thực tiễn - từ lao động sản xuất, đấu tranh xã hội hoặc thí nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm thông thường (trên khoa học) thu được từ thực tiễn hàng ngày trong cuộc sống và lao động sản xuất; còn tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con người. Nhưng tri thức kinh nghiệm lại có hạn chế bởi trình độ tri thức kinh nghiệm chưa thể nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng. Lý luận là một trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật của lý luận. “Lý luận là sự tổng kết nhưng kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” (Hồ chí Minh). Lý luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết, kinh nghiệm, nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm và không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Lý luận còn được hình thành từ sự kế thừa những thành quả của lý luận ở trước đó. Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao; nhờ đó, nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan. Như vậy, lý luận là sản phẩm cao của nhận 9 thức, là những tri thức về bản chất, quy luật của hiện thực; đồng thời là sản phẩm của quá trình nhận thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nhờ có những ưu điểm trên đây mà lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn. Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lê-nin viết: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”. Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất. Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn. Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Tuy nhiên mặt khác cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực nên lý luận lại có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng, giáo điều. Vì vậy phải coi trọng lý luận, nhưng không cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn, tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng có ý nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giúp ta tránh khỏi bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều. Chúng ta cần coi trọng những kinh nghiệm do thực tiễn của bản thân đưa lại. Song nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân, tuyệt đối hóa kinh nghiện, coi thường lý luận thì sẽ mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Đối với người mắc 10 bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũnh như một mắt sáng một mắt mờ”. Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải chống chủ nghĩa giáo điều. Nếu tuyệt đối hóa lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung trừu tượng không xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử - cụ thể để vận dụng lý luận thì mắc bệnh giáo điều. Bệnh kinh nghiệm và giáo điều là sai lầm không đảm bảo thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. (Phần tham khảo thêm) Các khái niệm 1) Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất.lịch sử - xã hội của con người làln biến đổi tự nhiên và .xã hội. Bản chất của hoạt động thực tiễn đó là sự tác động qua lại cửa chủ thể và khách thể. Hoạt động thực tiễn đa dạng, song có thể chia thành ba hình thức cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động biến đổi chính tri - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động c,ó ý nghĩa quyết định các hình thức khác, hoạt động biến đổi chính trị - xã hội hình thức cao nhất và hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt - nhằm thu nhận nhang tri thức về hiện thực khách quan. 11 2) Lý luận với nghĩa chung nhất là sự khái. quát những kinh nghiệm thực tiễn, là tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội đã đ.ước tích lũy trong quá trình lịch sử của con người. - Như vậy lý luận là sản phẩm cao của nhân .thức, là những tri thức về bản chất, quy luật của hiện thực. - Là sản phẩm : của quá trình nhận thức nên' bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan cửa thế giới khách quan. Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận 1) Trong quan hệ với lý luận, thực tiễn có vai trò quyết định, vì thực tiễn là hoạt động vật chất, còn lý luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần. Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận thể hiện ở chỗ:  Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức (lý luận). Thực tiễn còn là tiêu chuẩn của lý luận.  Thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo hiện thực. 2) Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận, song theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận có sự tác động trở lại đối với thực tiễn.  Lý luận có vai trò trong việc xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn, vì thế, có thể nói, lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn.  Lý luận có vai trò điều chỉnh hoạt động thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn.  Lý luận cách mạng có vai trò to lớn trong thực tiễn cách mạng. Lê nin viết “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” 12 3) Giữa lý luận và thực tiễn có sự liên hệ, tác động qua lại tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Bởi vậy, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên lý cao nhất và căn bản nhất của triết học Mác - Lê nin. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN Không được đề cao thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận để rơi vào chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm. Và ngược lại, không được đề cao lý luận đến mức xa rời thực tiễn, rơi vào bệnh chủ quan duy, ý chí. Đổi mới tư duy trong sự gắn liền với hoạt động thực tiễn là một trong những chủ trương lớn hiện nay của Đảng ta. Chỉ có đổi mới tư duy lý luận, gắn lý luận với thực tiễn thì mới có thể nhận thức được các quy luật khách quan và trên cơ sở đó, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
- Xem thêm -