Triển khai thực hiện bảo hiểm y tế cho người cận nghèo

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ Y TẾ ROCKEFELLER FOUNDATION  BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƢỜI CẬN NGHÈO HÀ NỘI, THÁNG 01 - 2011 BỘ Y TẾ VỤ KẾ HOẠCH – TÀI CHÍNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 13 tháng 01 năm 2010 BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƢỜI CẬN NGHÈO I. Đặt vấn đề: Phát triển nhanh và bền vững đang là mục tiêu quan trọng trong cải cách kinh tế - xã hội của đất nước ta. Bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công tác giảm đói nghèo được Nhà nước coi là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển. Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhờ đó trong giai đoạn từ 2001 đến 2010, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 18,2% năm 2006 và đến nay còn khoảng 13% (mục tiêu đặt ra đến năm 2010 còn 10 – 11% hộ nghèo). Chính vì vậy Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước đạt thành tựu giảm tỷ lệ nghèo đói tốt nhất. Mặc dù có được tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng vẫn còn thiếu yếu tố bền vững, bởi vì trong số những người nghèo còn lại hiện nay thì phần lớn là những hộ gặp rất nhiều khó khăn để giảm nghèo và đồng thời những hộ thuộc diện cận nghèo cũng rất dễ bị tái nghèo khi gặp phải những rủi ro, nhất là khi gặp phải những vấn đề về sức khỏe và y tế. Nghèo đói phân bổ không đều giữa các vùng ở Việt Nam. Tỷ lệ hộ nghèo đói ở khu vực các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn cao. Tình trạng cơ sở hạ tầng của vùng nghèo chậm được cải thiện. Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản. Trước tình hình đó nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ xoá đói giảm nghèo và hỗ trợ người nghèo đã được đưa vào thực hiện, xong chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa rõ ràng minh bạch ở một số địa phương, chưa thích ứng với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng nhóm người nghèo, vì vậy hiệu quả thực hiện chưa cao, chưa tác động mạnh tới cộng đồng người nghèo. Mục tiêu cơ bản của công cuộc xóa đói giảm nghèo là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã 2 hội nhằm nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư; ưu tiên phát triển y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, kiềm chế lây nhiễm HIV/AIDS; hình thành, mở rộng mạng lưới bảo trợ và an sinh xã hội cho người nghèo, người cận nghèo, người bị rủi ro do thiên tai, giảm thiểu mức độ dễ tổn thương cho người dân, tăng cường vai trò của các hội và đoàn thể tham gia vào mạng lưới an sinh xã hội; thực hiện cải cách hành chính... Về y tế, cần phải tăng cường củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở, duy trì và phát triển các dịch vụ y tế cộng đồng, ưu tiên cho việc phòng chống các bệnh ảnh hưởng tới người nghèo (sức khoẻ sinh sản, các bệnh truyền nhiễm, HIV/AIDS, các bệnh của trẻ em và các bệnh xã hội khác); nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; đảm bảo người nghèo có thể tiếp cận được dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng; hỗ trợ người nghèo, cận nghèo trong việc chi trả các dịch vụ y tế. Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ công tác xoá đói giảm nghèo, xong trên thực tế các chính sách này chưa được triển khai một cách triệt để, đồng bộ, chưa xây dựng được một mô hình triển khai có hiệu quả, chẳng hạn: - Việc miễn phí cho người dân khi họ đến khám chữa bệnh tại các cở sở y tế công như trước đây đã làm mất đi khoản thu nhập từ nguồn thu viện phí để bù đắp các chi phí của các cơ sở y tế khi phục vụ người bệnh. Ở các tỉnh Tây Nguyên, miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long, ngoài việc bệnh viện thực hiện miễn phí cho bệnh nhân, còn phải lo ăn và chỗ ở cho bệnh nhân và cả người nhà bệnh nhân, đưa đón bệnh nhân từ những nơi xa xôi hẻo lánh xong không có thêm nguồn kinh phí bù đắp các chi phí đó. Số bệnh nhân càng nhiều, các cơ sở y tế càng khó có khả năng duy trì hoạt động do nguồn kinh phí hạn hẹp từ phía Chính phủ. Cán bộ y tế ở các vùng này không có khoản thu nhập thêm do đó cũng không khuyến khích người thầy thuốc tận tâm, tận tụy với công việc. - Người dân chưa hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi đến khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế công, do đó nhiều người bị bệnh nhưng không dám đến điều trị tại bệnh viện mà chỉ tự điều trị cho đến khi bệnh quá nặng cán bộ y tế mới biết và đưa họ vào điều trị tại bệnh viện. - Về chính sách bảo hiểm y tế: Cùng với chính sách thu một phần viện phí, bảo hiểm y tế đã được triển khai theo Luật Bảo hiểm y tế trong phạm vi cả 3 nước nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, hạn chế tình trạng thiếu công bằng, tăng nguồn lực về tài chính cho y tế ngoài nguồn ngân sách nhà nước. Hiện nay, BHYT không những chỉ tập trung vào các đối tượng hưởng lương Nhà nước mà đã dần dần mở rộng đến các doanh nghiệp vốn nước ngoài, bảo hiểm y tế học sinh và đã dùng ngân sách Nhà nước để hỗ trợ các vùng nghèo, người nghèo trong khám chữa bệnh dưới các hình thức như miễn giảm viện phí, cấp phát thẻ BHYT cho người nghèo... Xong đối với những người cận nghèo, đặc biệt là những người sống ở vùng nông thôn thì hầu như chưa được thụ hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ tài chính đã được ban hành để đảm bảo cho họ được công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế. - Để giải quyết được những bất cập trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho người nghèo, người có công và các đối tượng chính sách khác. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-TTg về chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo và hỗ trợ một phần cho các đối tượng ngoài quy định của Quyết định 139 trong các trường hợp không đủ khả năng chi trả dịch vụ y tế khi mắc bệnh hiểm nghèo được điều trị tại bệnh viện công. Việc xác định đối tượng thụ hưởng theo Quyết định 139 và đối tượng cận nghèo được căn cứ theo tiêu chuẩn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, những đối tượng thuộc diện cận nghèo thì việc xác định của các địa phương vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ, do đó trong từng trường hợp cụ thể, giám đốc bệnh viện được quyền thực hiện miễn giảm viện phí cho bệnh nhân. Đây cũng là điều kiện bất cập đối với các cơ sở y tế. Bảng: Kết quả thực hiện bảo hiểm y tế năm 2008 Nội dung Tổng số Bắt buộc Người nghèo Tự nguyện Số người tham gia (triệu người) 37,70 Tỷ lệ (%) 43,76 Tổng số thu (tỷ đồng) 9.609 Tổng số chi (tỷ đồng) 10.114 TS lượt KCB có BHYT (x 1.000) 71.034 11,20 15,80 10,70 5.692 2.254 1.663 8.012 2.102 - Hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người cận nghèo: Người cận nghèo được tham gia Bảo hiểm y tế được quy định tại khoản 20 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế. Ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng bảo hiểm y 4 tế cho đối tượng cận nghèo, với mức đóng hàng tháng được quy định tối đa bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đối tượng tự đóng. - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Thông tư số 25/2008/TTBLĐTBXH ngày 21/10/2008 hướng dẫn quy trình xác định hộ gia đình cận nghèo theo quy định tại Quyết định 117/2008/QĐ-TTg: Hộ gia đình cận nghèo được quy định là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 130% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo quy định tại Quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng giai đoạn 2006 – 2010. Cụ thể: + Khu vực nông thôn: từ 201.000 đồng đến 260.000 đồng/ người/ tháng. + Khu vực thành thị: từ 261.000 đồng đến 338.000 đồng/ người/ tháng. - Với tiêu chí này thì hiện nay cả nước có khoảng 14 – 15 triệu người thuộc diện cận nghèo (khoảng 16% dân số) cần được Nhà nước hỗ trợ một phần mua thẻ bảo hiểm y tế. - Ở hầu hết các địa phương trong cả nước là chưa có cơ chế rõ ràng cho việc thanh toán, hỗ trợ cho đối tượng cận nghèo. Việc khó khăn triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ này được cho là bị vướng mắc ở cả khâu xác định đối tượng cũng như là việc huy động các nguồn lực tài chính. - Phần lớn các cán bộ y tế ở trạm y tế xã ngoài việc khám chữa bệnh tại trạm còn tổ chức khám chữa bệnh tại nhà dân, xong chưa có quy định của cơ quan BHYT cho thanh toán BHYT đối với các trường hợp khám ngoại trạm bởi lý do không có bằng chứng để chứng minh. Hơn nữa, danh mục thuốc khám BHYT đôi khi chưa phù hợp với thực trạng bệnh tật của người dân nên ngoài việc thanh toán BHYT theo khung giá trần (đối với các dịch vụ được cơ quan bảo hiểm quy định) người bệnh còn phải trả các khoản chi phí khác cho khám chữa bệnh của họ. Đó cũng là một trong những lý do người bệnh đến khám, chữa bệnh theo thẻ bảo hiểm y tế tại tuyến xã còn hạn chế. Với thực trạng và yêu cầu nêu trên, báo cáo này sẽ nghiên cứu đánh giá thực hiện phương thức bảo hiểm y tế cho người cận nghèo để tổng quan những mặt mạnh và hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp trong thời gian tới để cho những người thuộc diện này sẽ có cơ hội được tiếp cận với các chính sách về xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, vừa góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, vừa góp phần làm tốt hơn nữa công tác xóa đói giảm nghèo vào năm 2020. II. Mục tiêu nghiên cứu: 2.1. Mục tiêu chung 5 Tổng quan các kết quả triển khai thực hiện BHYT cho người cận nghèo, xác định những yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp phát triển BHYT cho người cận nghèo trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo. 2.2. Mục tiêu cụ thể  Tổng quan các chính sách và văn bản hướng dẫn liên quan đến thực hiện BHYT cho người cận nghèo.  Khảo sát tình hình tổ chức triển khai BHYT cho người cận nghèo ở các địa phương.  Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển BHYT cho người cận nghèo.  Đề xuất những giải pháp cụ thể để phát triển BHYT cho người cận nghèo trong thời gian tới. III. Phƣơng pháp nghiên cứu: Tổng hợp các phương pháp thu thập số liệu của nghiên cứu này như sau: - Nghiên cứu từ các tài liệu có sẵn: số liệu thứ cấp; - Thảo luận nhóm; - Phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia; - Điều tra hộ gia đình. 3.1. Tổng quan các văn bản, chính sách về hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo: Thu thập và tổng hợp văn bản quy định các cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến việc hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo. 3.2. Thu thập và phân tích số liệu tự báo cáo của các địa phương: Bộ Y tế đã xây dựng một mẫu phiếu và gửi đi để thu thập số liệu ở các địa phương để thu thập và tổng hợp số liệu và báo cáo liên quan đến triển khai Bảo hiểm cho đối tượng cận nghèo. Mẫu phiếu bao gồm các nhóm thông tin chính sau đây:  Thông tin chung: Dân số, điều kiện kinh tế - xã hội  Thông tin về các chủ trương, chính sách của địa phương liên quan đến hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo (nếu có, kèm bản sao)  Thông tin liên quan đến xác định đối tượng người cận nghèo: Hướng dẫn xác định như thế nào, tổ chức thực hiện ra sao, số huyện/xã đã xác định được đối tượng người cận nghèo, số lượng đối tượng đã được xác định...  Nguồn kinh phí để thực hiện hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo (2009): Số lượng kinh phí đã bố trí theo các nguồn 6  Cơ chế và định mức hỗ trợ: Tổ chức bán thẻ BHYT như thế nào? Định mức hỗ trợ, số kinh phí đã chi hỗ trợ BHYT cận nghèo, phương thức hỗ trợ cụ thể như thế nào?  KCB BHYT cho người cận nghèo: o Các quy định về dịch vụ BHYT cận nghèo được hưởng tại địa phương. o Số liệu sơ bộ về KCB BHYT cận nghèo ở một số bệnh viện (số lượt KCB, chi phí nếu có...).  Những khó khăn, vướng mắc của địa phương trong việc triển khai hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo: Văn bản pháp quy, tổ chức thực hiện, xác định đối tượng, bố trí kinh phí, tổ chức bán thẻ, tổ chức cung cấp dịch vụ...  Những đề xuất của địa phương để mở rộng BHYT cho người cận nghèo, góp phần tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân vào 2014. Mẫu phiếu này đã được xây dựng và gửi đến tất cả 63 tỉnh/ thành phố. Sở Y tế làm đầu mối có thể thu thập thông tin từ các nguồn: Sở Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội tỉnh, bệnh viện... Đến nay, đã thu nhận được 29 báo cáo. Còn lại các địa phương chưa có báo cáo gửi về là những nơi chưa triển khai nội dung này trên địa bàn. 3.3. Nghiên cứu thực địa: Do điều kiện kinh phí và thời gian có hạn, phần khảo sát thực địa sẽ được tiến hành tại 3 tỉnh ở 3 miền Bắc - Trung - Nam. 3 tỉnh này được chọn dựa vào các tiêu chí sau:  Đã triển khai xác định đối tượng người cận nghèo (để có thể tiến hành điều tra hộ gia đình người cận nghèo về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế).  Điều kiện kinh tế - xã hội tương đối khó khăn.  Nhất trí hợp tác triển khai nghiên cứu. Tại 3 tỉnh được chọn, sẽ tiến hành các nội dung khảo sát sau đây: 3.3.1. Thảo luận nhóm:  Tuyến tỉnh: Tổ chức tại Sở Y tế, với sự tham gia của các bên liên quan đến triển khai BHYT cho người cận nghèo, bao gồm: - Đại diện UBND tỉnh - Đại diện Sở Y tế - Đại diện Sở LĐTBXH - Đại diện Sở Tài chính - Đại diện cơ quan BHXH/BHYT tỉnh 7  Tuyến huyện: Tại mỗi huyện tổ chức 1 cuộc họp thảo luận nhóm với các thành phân liên quan đến triển khai BHYT cho người cận nghèo, bao gồm: - Đại diện UBND huyện - Phòng Y tế - Đại diện một số UBND xã - Đại diện một số TYT xã - Một số trưởng thôn 3.3.2. Phỏng vấn sâu: Đối tượng phỏng vấn sâu ở mỗi tỉnh gồm có: - Đại diện UBND tỉnh - Đại diện Sở LĐTBXH - Đại diện cơ quan BHXH/ BHYT tỉnh 3.3.3. Điều tra hộ gia đình: Mục đích của điều tra hộ gia đình là để tìm hiểu sự hiểu biết, thái độ của người cận nghèo về chủ trương hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo, sự sẵn sàng tham gia, mức độ bao phủ BHYT cận nghèo, tình hình sử dụng dịch vụ CSSK... Đối tượng điều tra là những hộ cận nghèo đã được chính quyền địa phương xác nhận. Nội dung điều tra: - Thông tin chung về hộ gia đình, thông tin về điều kiện KT-XH của hộ gia đình. - Hiểu biết của HGĐ về BHYT nói chung và BHYT cận nghèo. - Thẻ BHYT và BHYT cận nghèo: Số người có thẻ, loại thẻ, nơi mua/ nơi cấp... Nếu không có thẻ: Lý do không có thẻ, kiến nghị gì để có thẻ? - Tình hình ốm đau và sử dụng thẻ BHYT khi đi Khám, chữa bệnh. - Hỏi về quan niệm chung của người dân địa phương, đặc biệt là người cận nghèo: Tại sao không tham gia BHYT, cần hỗ trợ gì để tham gia BHYT. 3.4. Phỏng vấ n sâu và tham vấ n ở tuyế n TW:  Báo cáo nghiên cứu sẽ được gửi đến các chuyên gia có kinh nghiệm để xin ý kiến góp ý. 8  Tổ chức một số hội thảo nhóm để xin ý kiến các cơ quan, tổ chức liên quan và các Nhà tài trợ. 3.5. Hội thảo góp ý: Sau khi thu thập, phân tích và viết báo cáo về tình hình triển khai thực hiện Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo, một hội thảo được tổ chức để trình bày kết quả và xin góp ý của các bên liên quan. 9 IV. Kết quả nghiên cứu: 4.1. Tổng quan các chính sách và văn bản hướng dẫn liên quan đến thực hiện BHYT cho người cận nghèo:  Chính sách, quy định chung, quy định về đối tượng thụ hưởng, mức thụ hưởng: Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh mức đóng Bảo hiểm y tế đối với các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội.  Cách xác định đối tượng: Thông tư số 25/2008/TT-BLĐTBXH ngày 21 tháng 10 năm 2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình xác định hộ gia đình cận nghèo theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ.  Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo: Thông tư số 10/2008/TTLT-BYT-BTC ngày 24 tháng 9 năm 2008 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế. 4.2. Kết quả triển khai thực hiện Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo: Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, sau hơn một năm thực hiện Luật Bảo hiểm y tế (từ tháng 7/ 2009), cả nước mới chỉ có khoảng hơn 1 triệu người cận nghèo tham gia Bảo hiểm y tế (chiếm chưa tới 10% đối tượng cận nghèo). Tại nhiều địa phương, tỷ lệ người cận nghèo tham gia Bảo hiểm y tế chỉ đạt 1,2 - 1,5%. Ngay tại Hà Nội, với gần 400.000 đối tượng thuộc hộ cận nghèo nhưng đến nay mới chỉ có hơn 500 người tham gia Bảo hiểm y tế. Tại Lạng Sơn, con số đó cũng mới chỉ là gần 700 người. Tại Yên Bái, cuối năm 2009 có khoảng 39.000 đối tượng cận nghèo, nhưng đến hết tháng 6 2010 cũng mới chỉ có 3.000 đối tượng tham gia. Bắc Ninh, một trong những địa phương đầu tiên dành ngân sách địa phương hỗ trợ tới 70% cho đối tượng cận nghèo trước khi thực thi Luật Bảo hiểm y tế. Song tới thời điểm này, tỉnh cũng mới chỉ có khoảng 3.500 đối tượng tham gia, chiếm gần 12% tổng số đối tượng cận nghèo. Bảng 1 Thông tin chung về các hộ gia đình đƣợc phỏng vấn (Q1e) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=361) Làm ruộng % Ninh Bình (n=140) % Nghệ An (n=139) Tây Ninh % (n=82) % 225 62.3 133 95.0 80 57.6 12 14.6 Cán bộ Nhà nước 3 0.8 0 0.0 2 1.4 1 1.2 Công nhân 4 1.1 0 0.0 1 0.7 3 3.7 Buôn bán 11 3.0 0 0.0 5 3.6 6 7.3 10 Lao động tự do 57 15.8 2 1.4 32 23.0 23 28.0 Hưu trí, mất sức 9 2.5 1 0.7 2 1.4 6 7.3 Thủ công, nội trợ 18 5.0 1 0.7 13 9.4 4 4.9 Già yếu, không có việc làm 34 9.4 3 2.1 4 2.9 27 32.9 Tổng cộng 361 100.0 140 100.0 139 100.0 82 100.0 Các hộ cận nghèo chủ yếu là các gia đình làm ruộng và lao động tự do. Thu nhập rất không ổn định do đó việc tính toán cho các khoản chi tiêu của họ cũng khó xác định được. Việc bỏ ra một khoản tiền để chi cho một phần mua thẻ Bảo hiểm y tế dù không nhiều đối với những hộ có thu nhập trung bình, nhưng đối với những hộ cận nghèo thì đó cũng là một điều cần suy nghĩ và cân nhắc trước khi ra quyết định có tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế hay không. Bảng 2 Hiểu iết của ngƣời dân về tiêu chuẩn của hộ cận nghèo (Q12) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=361) Hiểu đúng Hiểu sai Không biết Tổng cộng % Ninh Bình (n=140) % Nghệ An (n=139) Tây Ninh % (n=82) % 151 41.8 67 47.9 65 46.8 19 23.2 41 11.4 27 19.3 7 5.0 7 8.5 169 46.8 46 32.9 67 48.2 56 68.3 361 100.0 140 100.0 139 100.0 82 100.0 Công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối và các chính sách hỗ trợ cho các đối tượng đích chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Tỷ lệ người dân hiểu biết về các chính sách này chưa cao, chính vì vậy mà việc xác định các đối tượng là hộ cận nghèo cũng không được chính xác. Mặc dù ở các địa phương, người dân đã được mời tham dự họp để bình bầu các hộ là cận nghèo để đưa vào danh sách nhưng vì hiểu biết và nhận thức còn hạn chế do đó việc đưa ra các chính kiến tại cuộc họp cũng còn rất hạn chế. Một người dân ở Tây Ninh cho biết: “Gia đình tôi rất nghèo, tuy nhiên chúng tôi cũng không hề biết gia đình mình thuộc diện được Nhà nước hỗ trợ để mua thẻ Bảo hiểm y tế”. Bảng 3. Hiểu biết của ngƣời dân về cách làm của địa phƣơng để xác định hộ cận nghèo (Q13) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=361) Biết rõ cách xác định % Ninh Bình (n=140) % Nghệ An (n=139) % Tây Ninh (n=82) % 95 26.3 46 32.9 32 23.0 17 20.7 Biết không rõ 132 36.6 45 32.1 75 54.0 12 14.6 Không biết 134 37.1 49 35.0 32 23.0 53 64.6 Tổng cộng 361 100.0 140 100.0 139 100.0 82 100.0 11 Quy trình xác định hộ nghèo cũng như hộ cận nghèo của các địa phương được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Theo thông tư hướng dẫn số 25/ 2008/ TT-BLĐTBXH thì việc xác định hộ cận nghèo được tiến hành thông qua điều tra thu nhập của các hộ gia đình. Sau khi đã có danh sách này thì từng thôn, bản sẽ tổ chức họp người dân để bình bầu trực tiếp trên cơ sở kết quả điều tra. Sau khi kết quả điều tra phù hợp với nhận xét bình bầu của nhân dân thì danh sách này sẽ được các thôn tổng hợp gửi lên Uỷ ban nhân dân xã xác nhận, sau đó lần lượt được gửi lên phòng Lao động – Thương binh Xã hội huyện và cuối cùng là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh để tổng hợp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Mặc dù vậy thì người dân khi được hỏi vẫn trả lời phần lớn là không biết rõ (chiếm hơn 70%), điều này có thể được lý giải là họ đã không nhớ hoặc không quan tâm đến việc làm của các cơ quan chức năng tại địa phương. Bảng 4 Hiểu iết của ngƣời dân về mức h trợ của Nhà nƣớc để mua th (Q15) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=361) Biết được hỗ trợ 50% Biết không rõ bao nhiêu % Không biết Tổng cộng Ninh Bình (n=140) % Nghệ An % (n=139) % Tây Ninh (n=82) % 165 45.7 88 62.9 68 48.9 9 11.0 83 23.0 19 13.6 40 28.8 24 29.3 113 31.3 33 23.6 31 22.3 49 59.8 361 100.0 140 100.0 139 100.0 82 100.0 Việc người dân không hiểu rõ về chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng là một rào cản làm hạn chế đến quyết định của họ khi mua thẻ Bảo hiểm y tế. Quá trình triển khai thực hiện, các cơ quan chức năng đã không kết hợp với tuyên truyền phổ biến cụ thể về chủ trương hỗ trợ của Nhà nước. Việc người cận nghèo chủ yếu là những hộ gia đình có trình độ hiểu biết kém, họ đã đi tìm kiếm sự hỗ trợ một cách rất thụ động, thậm chí chỉ có thể là qua sự giới thiệu của hàng xóm, hoặc từ những người đã mua thẻ trước đó, hoặc đôi khi chỉ là vô tình được thông tin. Bảng 5. Mức h trợ mà ngƣời dân đã đƣợc nhận thông qua câu hỏi những ngƣời đã tham gia mua th (Q19) Tỉnh Nhận hỗ trợ ít nhất 50% Biết không rõ bao nhiêu % Tổng cộng Chung 3 tỉnh (n=208) % Ninh Bình (n=81) % Nghệ An (n=80) % Tây Ninh (n=47) % 139 66.8 63 77.8 54 67.5 22 46.8 69 33.2 18 22.2 26 32.5 25 53.2 208 100.0 81 100.0 80 100.0 47 100.0 12 Trong tổng số 208 người có mua thẻ bảo hiểm y tế thì có 66,8% cho biết là đã được nhận hỗ trợ ít nhất là 50% mệnh giá của thẻ Bảo hiểm y tế. Tỷ lệ còn lại cho biết là không nhớ được hoặc cho biết là nhận được hỗ trợ dưới 50%. Điều này cho thấy việc thực thi hỗ trợ của các địa phương là thực hiện trên cơ sở hướng dẫn của các quy định của Nhà nước. Bảng 6 (Q20) do ch nh để ngƣời cận nghèo tham gia mua Bảo hiểm y tế Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=208) % Ninh Bình (n=81) Nghệ An % (n=80) Tây Ninh % (n=47) % Gia đình có người thường xuyên đau ốm 115 55.3 33 40.7 52 65.0 30 63.8 Để phòng khi đau ốm, đỡ phải trả viện phí 111 53.4 40 49.4 49 61.3 22 46.8 Được con, cháu hoặc người khác mua cho 4 1.9 2 2.5 2 2.5 0 0.0 Mua vì thấy có Nhà nước hỗ trợ 31 14.9 17 21.0 1 1.3 13 27.7 Chia sẻ khó khăn với những người khác 11 5.3 5 6.2 6 7.5 0 0.0 Thấy mọi người mua thẻ BHYT thì mua 3 1.4 2 2.5 1 1.3 0 0.0 10 4.8 0 0.0 0 0.0 10 21.3 3 1.4 0 0.0 0 0.0 3 6.4 Được địa phương cấp nên có thẻ Lý do khác Khó khăn về kinh tế và hạn chế trong nhận thức được xem là trở ngại chính khiến những người cận nghèo không có điều kiện tận dụng được cơ hội tham gia mua Bảo hiểm y tế. Khi được phỏng vấn, cán bộ trong ngành Bảo hiểm xã hội nhận định: “những người được thụ hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước chỉ thực sự quan tâm đến Bảo hiểm y tế khi sức khỏe của họ có vấn đề. Một nguyên nhân nữa khiến những người cận nghèo chần chừ chưa mua thẻ Bảo hiểm y tế, đó là tâm lý trông chờ vào quyết định của địa phương nâng mức chuẩn nghèo để được trở thành hộ nghèo. Khi đó họ sẽ được nhà nước hỗ trợ 100% phí mua thẻ”. Bảng 7. Tình trạng không sử dụng th Bảo hiểm y tế khi đi khám, chữa bệnh (Q24) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=208) Đi KCB nhưng không sử dụng thẻ Đi KCB có sử dụng thẻ Tổng cộng % Ninh Bình (n=81) % Nghệ An (n=80) % Tây Ninh (n=47) % 56 26.9 16 19.8 24 30.0 16 34.0 152 73.1 65 80.2 56 70.0 31 66.0 208 100.0 81 100.0 80 100.0 47 100.0 Việc người dân có thẻ Bảo hiểm y tế nhưng khi đi khám, chữa bệnh vẫn không sử dụng đến chiếm một tỷ lệ khá nhiều (chiếm 26,9%) vì có nhiều lý do có thể là quên, có thể là đi khám chữa bệnh vượt tuyến hoặc là do thủ tục quá rườm rà với một mức chi không lớn nên người bệnh tự bỏ tiền túi chi trả mà không cần đến phải thanh toán bằng bảo hiểm y tế. 13 Bảng 8. Khả năng tiếp tục tham gia mua th Bảo hiểm y tế vào các năm sau (Q25) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=208) Có tiếp tục mua nữa Chưa biết, còn phải xem xét Tổng cộng Ninh Bình (n=81) % Nghệ An (n=80) % Tây Ninh % (n=47) % 185 88.9 69 85.2 72 90.0 44 93.6 23 11.1 12 14.8 8 10.0 3 6.4 208 100.0 81 100.0 80 100.0 47 100.0 Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề còn hạn chế, xong tỷ lệ người đã tham gia mua Bảo hiểm y tế có nguyện vọng tham gia tiếp vào những năm sau là tương đối lớn, chiếm 88,9%. Con số này đã phần nào thể hiện sự cần thiết của người dân khi tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế. Lý do nữa là những người có thẻ Bảo hiểm y tế thường là những người già, ốm yếu lâu dài nên việc có ý định tiếp tục mua nữa là cần thiết. Bảng 9. (Q26) do ch nh ngƣời cận nghèo không tham gia mua Bảo hiểm y tế Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=153) Nhà khó khăn, không có tiền mua thẻ BHYT % Ninh Bình (n=59) % Nghệ An (n=59) Tây Ninh % (n=35) % 152 99.3 59 100.0 59 100.0 34 97.1 Nhà toàn người khỏe, không cần mua 10 6.5 6 10.2 2 3.4 2 5.7 Chỉ mua cho người ốm, người khỏe thì không 26 17.0 11 18.6 13 22.0 2 5.7 Không biết mua ở đâu, lúc nào 13 8.5 4 6.8 8 13.6 1 2.9 2 1.3 0 0.0 1 1.7 1 2.9 23 15.0 3 5.1 17 28.8 3 8.6 Thủ tục phiền hà, chất lượng dịch vụ thấp 1 0.7 0 0.0 1 1.7 0 0.0 Có thẻ BHYT vẫn phải đồng chi trả 6 3.9 0 0.0 4 6.8 2 5.7 14 9.2 8 13.6 4 6.8 2 5.7 Không cần mua, sẵn sàng trả viện phí Không biết thông tin được Nhà nước hỗ trợ Lý do khác Trong số những người không tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế, hầu hết trong số họ cho là do hoàn cảnh gia đình có khó khăn, điều kiện kinh tế không cho phép tất cả thành viên của gia đình tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế. Một số cho rằng những người khỏe mạnh thì không cần mua mà chỉ mua cho những người ốm hoặc người già, người có bệnh kinh niên. Bên cạnh đó thì một lý do nữa được cho là từ phía những nhà quản lý đã không cung cấp đủ thông tin khiến cho người dân chưa hiểu được đầy đủ những thông tin về quyền và nghĩa vụ khi tham gia mua Bảo hiểm y tế. Bảng 10. Kiến nghị để ngƣời dân tham gia mua BHYT nhiều hơn (Q27) Tỉnh Chung 3 tỉnh (n=361) Tăng mức hỗ trợ của Nhà nước 299 % 82.8 Ninh Bình (n=140) 102 % 72.9 Nghệ An (n=139) 134 % 96.4 Tây Ninh (n=82) 63 % 76.8 14 Tối thiểu 50% 9 3.0 2 2.0 3 2.2 4 6.3 Từ 50 - 70% 31 10.4 22 21.6 3 2.2 6 9.5 Từ 70 - 80% 110 36.8 43 42.2 46 34.3 21 33.3 Từ 90 - 100% 124 41.5 21 20.6 81 60.4 22 34.9 154 42.7 52 37.1 68 48.9 34 41.5 Tăng quyền lợi khi tham gia BHYT 91 25.2 11 7.9 57 41.0 23 28.0 Nâng cao chất lượng dịch vụ KCB 49 13.6 10 7.1 35 25.2 4 4.9 Cải cách thủ tục thanh toán BHYT 26 7.2 3 2.1 22 15.8 1 1.2 Bỏ quy định đồng chi trả 21 5.8 2 1.4 14 10.1 5 6.1 Tăng cường tuyên truyền 29 8.0 14 10.0 15 10.8 0 0.0 Cải cách thủ tục bán thẻ BHYT 13 3.6 1 0.7 12 8.6 0 0.0 6 1.7 0 0.0 5 3.6 1 1.2 Giảm mức đóng BHYT Lý do khác Xuất phát từ những lý do ở trên khiến cho người dân không hoặc chưa muốn tham gia mua Bảo hiểm y tế thì những kiến nghị mà họ đưa ra là cần phải được tăng mức hỗ trợ từ phía Nhà nước, và mức hỗ trợ được đề nghị là trên 70%. Điều này hoàn toàn phù hợp với những kiến nghị mà các nhà quản lý đưa ra khi được phỏng vấn sâu. Bên cạnh đó thì một số những ý kiến đưa ra là mong muốn giảm tỷ lệ đồng chi trả, cải cách thủ tục thanh toán thẻ Bảo hiểm y tế, thủ tục bán thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân cũng như là nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh. Cũng qua báo cáo của các địa phương đã thu thập được, các tỉnh đều đề nghị được nâng mức hỗ trợ của Nhà nước cho người cận nghèo với mức tối thiểu là 70%. Thậm chí đối với một số tỉnh nghèo thì đề nghị nâng mức hỗ trợ lên 100% để người dân không phải đóng tiền mà được thụ hưởng như những đối tượng là người nghèo. Một trong những lý do mà họ đưa ra là ranh giới giữa những người nghèo và cận nghèo là hết sức mong manh, chỉ cần có một biến cố vừa phải thôi cũng sẽ đẩy những gia đình này vào tình trạng là hộ nghèo. Thêm vào đó, một số địa phương đề nghị được bỏ phần đồng chi trả hoặc chỉ phải chịu đồng chi trả 5% như người nghèo. Qua cuộc khảo sát ở các tỉnh chúng tôi được biết hành vi tìm kiếm dịch vụ khám, chữa bệnh của người có thu nhập thấp xu hướng tập trung vào trạm y tế xã, sau đó mới đến bệnh viện tuyến huyện. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ trạm y tế xã cung cấp vẫn còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ cán bộ trạm y tế xã ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Nhiều người dù không có tiền nhưng vẫn vay mượn để đến KCB tại bệnh viện huyện. Họ quan niệm ―của cho không bằng của mua‖, ―thuốc cấp là thuốc không tốt”, thuốc cấp cho trẻ em cũng giống như thuốc cấp cho người lớn. Khi được hỏi, cán bộ y tế tuyến tỉnh cho biết: ―Cán bộ y tế cơ sở thiếu cả về số lượng và chất lượng, biên chế CBYT cơ sở thấp, nhu cầu khám chữa 15 bệnh của người dân rất cao. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của người dân là do điều kiện kinh tế có khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu”. Sử dụng dịch vụ y tế của người dân: mặc dù có thu nhập cao hơn người nghèo không đáng là bao, xong người cận nghèo khi đi khám chữa bệnh còn phải chịu đồng chi trả 20%, các chi phí khác như chi phí đi lại, chi phí cho những người nhà đi cùng,… cũng là một gánh nặng cũng đã phần nào làm ảnh hưởng đến thái độ tìm kiếm dịch vụ y tế. Nhìn chung là không có sự phân biệt khi khám và chữa bệnh giữa đối tượng được hưởng chế độ chính sách và không được hưởng chế độ chính sách. Nhưng những hộ gia đình thuộc nhóm đối tượng này vẫn còn một số trường hợp mong chờ để địa phương có những thay đổi về chính sách để họ được xép vào nhóm đối tượng được hỗ trợ 100% như người nghèo. Chi phí chăm sóc sức khoẻ của người dân: Qua kết quả khảo sát cho thấy việc thanh toán khi sử dụng BHYT cũng còn khó khăn và gặp nhiều thủ tục phiền hà. Một số người dân khám chữa bệnh không đúng tuyến y tế đã đăng ký sử dụng thẻ gây khó khăn cho việc thanh toán. Tuy nhiên nếu họ đi đúng tuyến thì việc thanh toán không khó khăn gì. Thời hạn sử dụng của thẻ Bảo hiểm y tế cũng là một trở ngại khác. Việc làm thẻ chậm, thời hạn sử dụng quá ngắn đã làm cho hiệu quả sử dụng thẻ không cao. Một người dân cho biết: “Tôi có được nhận thẻ Bảo hiểm y tế vào tháng 4, nhưng thẻ chỉ có hạn sử dụng đến tháng 12, nghĩa là trước đó khi cần đi khám chữa bệnh mà không có thẻ bảo hiểm nên phải tự trả tiền khám chữa bệnh”. Lý giải về vấn đề này, một cán bộ xã cho biết: “Việc xác định đối tượng cần phải được tiến hành tuần tự qua từng bước và cuối cùng là phải có xác minh và được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh sách thì mới được cấp thẻ, vì vậy việc chậm phát thẻ là điều khó tránh khỏi”. Phản hồi và sự hài lòng của bệnh nhân với dịch vụ y tế được tiếp cận: Các ý kiến của người dân về việc hưởng lợi từ chăm sóc sức khỏe tập trung vào các vấn đề: Thời gian gần đây, Nhà nước đã hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và cung cấp trang thiết bị y tế cho các TYT xã. Hiện tại thì cơ sở nhà trạm đã có khang trang hơn, trang thiết bị y tế, năng lực cán bộ y tế xã đều được cải thiện so với thời điểm trước đây. Tuy nhiên thì hiệu suất sử dụng cơ sở y tế tuyến xã còn phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các dịch vụ được cung cấp cũng như là danh mục thuốc và các dịch vụ được bao phủ bởi hệ thống chi trả của Bảo hiểm y tế. Các ý kiến của các tỉnh đều cho rằng phạm vi và chất lượng các dịch vụ y tế ở cấp huyện, xã và bản đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương đến KCB tại TYT xã đông nhất sau đó đến BV huyện. Các dịch vụ y tế tuyến xã đã được cải thiện: Nhà trạm được sửa chữa khang trang hơn. CBYT cơ sở 16 có trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ ngày càng tốt hơn. Tỷ lệ người dân đến khám, điều trị và sử dụng dịch vụ y tế tăng lên. Ý kiến của đối tượng hưởng lợi về dịch vụ khám, chữa bệnh: “trình độ năng lực của cán bộ y tế xã đã được cải thiện rõ rệt. Người dân tin tưởng vào cán bộ y tế hơn. Thái độ phục vụ, chăm sóc sức khỏe của cán bộ y tế tuyến xã, huyện được người dân đánh giá tốt: nhiệt tình, không gây phiền hà cho người dân. Tuy nhiên thì việc phối hợp giữa cán bộ làm thẻ BHYT với CBYT và cán bộ xã chưa đồng bộ dẫn đến việc chậm trễ trong việc cấp, phát thẻ cho người dân”. Cải thiện chất lƣợng dịch vụ y tế: tổng hợp báo cáo của các địa phương cho thấy: 1. Nhận xét chung về chính sách hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo: Chính sách hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước cần được thực hiện tốt để góp phần thu hẹp khoảng cách về chăm sóc sức khỏe giữa người dân nông thôn và thành thị, giữa vùng giàu và vùng nghèo. 2. Những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai: - Số lượng bệnh nhân có thẻ BHYT ngày càng đông, kinh phí sử dụng hàng tháng cho bệnh nhân rất lớn (giá thuốc, vật tư y tế, hoá chất… biến động liên tục) nhưng việc quyết toán kinh phí một quý mới thực hiện một lần là không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nhìn chung các đơn vị không đủ kinh phí để thanh toán kịp thời cho các nhà cung cấp do kinh phí tạm ứng từ BHXH thấp và không phù hợp với thực tế (khoán kinh phí trên đầu thẻ BHYT là không phù hợp). - Chưa có danh mục phân biệt cụ thể vật tư tiêu hao thông thường, vật tư tiêu hao đặc biệt, vật tư thay thế gây ra tình trạng không thống nhất việc thanh quyết toán giữa BHXH và đơn vị khám chữa bệnh. - Theo báo cáo của các tỉnh cho thấy mặc dù một số các tỉnh đã có quyết định về việc ban hành danh mục thủ thuật, phẫu thuật (triển khai phần C2.7 trong Thông tư 03), nhưng đến nay BHXH vẫn không thanh toán một số hạng mục như: nẹp vít, đinh vít, dụng cụ hỗ trợ trong phẫu thuật kết hợp xương. Nẹp vít và đinh vít là những vật tư tiêu hao đặc biệt chi phí rất lớn đã được Bộ Y tế cho phép thanh toán ngoài chi phí phẫu thuật theo quy định nhưng BHXH vẫn không chấp nhận và chờ ý kiến hướng dẫn của BHXH Việt Nam. - Bảng giá thông tư 14 hiện nay vẫn còn áp dụng: Không còn phù hợp với tình hình thực tế do đã quá lạc hậu (từ năm 1995), một số giá trùng với Thông tư 03 vẫn không được áp dụng theo Thông tư 03 đặc biệt là một số thủ thuật có chi phí thuốc gây tê, vật tư y tế như trong thủ thuật chạy thận nhân tạo, cắt amidan… (giá thuốc, vật tư y tế và chủng loại thay đổi nhiều so với 17 Thông tư 14 rất lớn) nhưng chỉ được thanh toán tiền công thủ thuật theo Thông tư 14 rất thấp không đủ bù đắp chi phí thuốc và vật tư y tế bỏ ra để phục vụ thủ thuật. - Các văn bản quy định của BHXH về thực hiện BHYT vẫn còn chồng chéo. 3. Những kiến nghị để triển khai tốt BHYT cho người cận nghèo: Để có thể nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cho người nghèo và cận nghèo, các Sở, Ban, Ngành cần thực hiện chính sách hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo một cách đồng bộ và khẩn trương. - Cần phải thực hiện triệt để việc cấp thẻ BHYT cho họ; đồng thời các cơ quan hữu quan, đặc biệt là Sở Lao động – Thương binh – Xã hội cần theo dõi và phối hợp chặt chẽ với UBND các địa phương để xác định các hộ cận nghèo nhằm kịp thời đề xuất danh sách cấp thẻ BHYT cho những hộ này. Đây là công tác rất quan trọng, giúp cho những hộ cận nghèo giảm chi phí y tế, tức là trực tiếp giảm nguy cơ trở thành hộ nghèo. - Nhằm làm giảm gánh nặng chi phí cho Quỹ BHYT ngày càng khó khăn, đồng thời bù đắp khoản chi phí đồng chi trả, có thể tính đến giải pháp tăng mức đóng BHYT cho một số đối tượng có thu nhập ổn định và/ hoặc có thu nhập khá. Ví dụ, có thể dựa vào quy định thuế thu nhập để tăng chi phí đóng BHYT của những đối tượng có thu nhập cao phát sinh thuế thu nhập. - Cần phải sửa đổi chế độ thu viện phí hiện nay tại các bệnh viện để thu đúng, thu đủ chi phí khám chữa bệnh, tạo nguồn thu cho bệnh viện để phục vụ tốt hơn cho đối tượng BHYT mà quan trọng hơn hết là tạo một nguồn Quỹ dự phòng để điều trị cho những người gặp khó khăn đột xuất, khi bị hoạn nạn, thiên tai, hạn hán, mất mùa… Chính những đối tượng này là những đối tượng rất dễ bị tổn hại sức khỏe, nếu không được khám chữa bệnh miễn phí sẽ trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội và nguy cơ trở thành hộ nghèo là không tránh khỏi khi gặp ốm đau, bệnh tật. Chính từ giải pháp này mà cần phải có những quy định cụ thể về việc thành lập Quỹ dự phòng khám chữa bệnh tại các Bệnh viện để trợ giúp cho đối tượng này. - Cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào hệ thống y tế, cả hệ điều trị lẫn dự phòng, nhằm nâng cao chất lượng phòng bệnh, cải tiến công tác khám chữa bệnh, cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân và người sử dụng dịch vụ đối với hệ thống y tế hiện hành. Hiện nay, tình trạng quá tải của các bệnh viện vẫn chưa được giải quyết triệt để. Đề án 1816 của Bộ Y tế "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh", một chủ trương lớn của ngành y tế thể hiện quyết liệt thực hiện chủ đề "Hướng về y tế cơ sở", đồng thời cũng là một trong những 18 giải pháp quan trọng đóng góp "giảm tải" các bệnh viện tuyến trên đã phần nào giải quyết tình trạng này nhưng chỉ ở một số cơ sở chứ chưa giải quyết triệt để vấn đề quá tải bệnh viện. Sự kết hợp đề án 1816 với việc nâng cấp cơ sở vật chất và cung cấp trang thiết bị cho các bệnh viện, tăng cường đào tạo cán bộ cả về chăm sóc sức khỏe ban đầu lẫn y tế chuyên sâu, cải tiến chế độ tiền lương, phụ cấp cho cán bộ y tế, có chế độ quy định bắt buộc, đồng thời thu hút cán bộ y tế đến công tác tại các vùng nông thôn, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Việc đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng là rất cần thiết nhằm giúp bảo vệ người dân nói chung và người nghèo, cận nghèo nói riêng tránh dịch bệnh từ ô nhiễm môi trường và các yếu tố gây bệnh khác. Muốn như vậy, ngoài việc đầu tư mạnh mẽ và đồng bộ vào hệ thống y tế dự phòng, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ và thực chất giữa ngành y tế với các ngành có liên quan như Tài nguyên môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương, Quản lý thị trường, Văn hoá - Thể thao và Du lịch,… nhằm tạo ra cho họ một môi trường sống trong lành, một hệ thống kiểm soát thực phẩm chặt chẽ, giàu dinh dưỡng và an toàn. - BHXH nên duyệt quyết toán kinh phí KCB một tháng một lần thay vì ba tháng một lần như hiện nay. - Sớm ban hành bảng giá viện phí thống nhất tránh chồng chéo và phù hợp với tình hình thực tế, có tính tới yếu tố trượt giá và sự phát triển của một số loại phẫu thuật, thủ thuật trong điều trị. - Thống nhất danh mục vật tư y tế thông thường, đặc biệt, thay thế. - Cho phép đơn vị được thu phí những loại thủ thuật, xét nghiệm… mà BHXH không đồng ý thanh toán với lý do không có trong danh mục của BHYT. - Đối tượng là người dân tộc trong và ngoài tỉnh đề nghị BHXH xem xét và quyết toán kinh phí cho cơ sở điều trị kể cả lúc bệnh nhân không mang thẻ BHYT. Cuối cùng, nhưng cũng là giải pháp quan trọng nhất, đó là tăng cường mạnh mẽ vai trò của cấp ủy và chính quyền địa phương trong công tác xoá đói, giảm nghèo, trong đó có việc xác định hộ nghèo và cận nghèo, kịp thời đề xuất việc cấp thẻ BHYT cho họ. Đồng thời, cần xác định vai trò của chính quyền cấp xã trong việc xác nhận những hộ khó khăn đột xuất (thiên tai, hạn hán, tai nạn thảm họa…) trong khi khám chữa bệnh tại các bệnh viện để được miễn, giảm viện phí trong quy định quỹ khám chữa bệnh dự phòng như đã nói trên. Theo ý kiến thảo luận tại tỉnh cho biết: “Thực trạng việc xác định hộ cận nghèo chưa đảm bảo công bằng và còn nhiều bất cập do trình độ cán bộ xã còn thấp, không nắm được tiêu chí, họ làm theo cảm tính và mang tính 19 chất gia đình, quen biết, nhiều hộ gia đình thực tế là rất khó khăn nhưng đã không được công nhận vào danh sách hộ cận nghèo. Việc cấp thẻ bảo hiểm cho người cận nghèo còn khó khăn do phân loại hộ cận nghèo không chính xác”. Tổ chức và quản lý về khám chữa bệnh cho người cận nghèo: ở cấp tỉnh bao gồm quản lý nguồn vốn do Nhà nước hỗ trợ 50%, quản lý danh sách, xây dựng kế hoạch nguồn vốn, quản lý giám sát, hướng dẫn tài chính và phương thức bán thẻ Bảo hiểm y tế. Qua kết qua thảo luận nhóm ở các tỉnh chúng tôi thu được các ý kiến đó là: Việc triển khai chương trình hỗ trợ bước đầu khó khăn vì các văn bản hướng dẫn chưa được cụ thể hóa, cơ chế hỗ trợ còn nhiều điểm chưa rõ, hướng dẫn cụ thể cách xác định và mức đóng còn chậm. Tăng cường công tác, truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân tại các cấp, các tỉnh đã có kế hoạch đặt các điểm truyền thông tại bệnh viện tuyến huyện, tỉnh để tuyền thông về hỗ trợ mua thẻ Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo và các đối tượng hưởng lợi. Các phương tiện tuyền thanh của xã, phường cũng đưa tin thường xuyên về chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho những hộ cận nghèo. Quy trình cấp thẻ Bảo hiểm y tế còn rất chậm và phức tạp. Người dân không được hưởng chế độ hỗ trợ một cách đầy đủ. Cần tuyên truyền sâu rộng về ý nghĩa của chương trình hỗ trợ đối với người dân và cán bộ lãnh đạo chính quyền các cấp để tăng cường nhận thức và có khả năng triển khai thực hiện được đầy đủ. 5 Các giải pháp tiếp tục triển khai h trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời cận nghèo: Từ những phân tích thực trạng nêu trên, để tiếp tục thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo, cần xem xét triển khai các giải pháp liên quan đến tài chính y tế như sau: 5.1. Ngân sách Nhà nước: Tăng nhanh tỷ lệ chi ngân sách Nhà nước cho y tế, ưu tiên kinh phí để thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo: Ngân sách Nhà nước là nguồn kinh phí quan trọng, ổn định và có cơ chế phân bổ lại từ vùng giàu sang vùng nghèo, phân bổ lại khi xảy ra các trường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh. Cho phép chia sẻ nguy cơ tốt nhất trong cộng đồng để thực hiện chiến lược công bằng trong công tác chăm sóc sức khỏe. Mặc dù ngân sách Nhà nước cho y tế của Việt Nam đã tăng trong thời gian gần đây, song vẫn còn nằm ở nhóm nước có mức chi NSNN thấp, chiếm 8,08% tổng chi ngân sách Nhà nước và 2,6% GDP (năm 2009) với mức chi ngân sách y tế bình quân đầu người là 500.400 đồng và thấp hơn 20
- Xem thêm -