Trang phục trong sinh hoạt văn hóa quan họ

  • Số trang: 183 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

-— J Đ ẠI HỌC QUỐC G IA HÀ NỘI ■ ■ ■ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC X Ã HỘI VÀ NHÂN V Ă N ĐINII THỊ TH ANH HUYEN ( LÀN G DIỀM - XÃ H Ò A LONG - HUYỆN YÊN PHONG - TỈNH BẮC NINH) L u ậ n văn Thạc s ỉ K hoa học Lịch sử C huyên ngành: D ãn tộc học M ã số: 50310 N gười hư ớ ng (làn K hoa học: PGS. TS H oàng Lưưniỉ ĐA HỌC QUỐC GIA HẢ NỘI TRUNG TÂM IHỎNS TIN THU VIỄN V-L?J (-rỉ1) I là Noi - 2005 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình Iriển khai và thực hiện luận vãn “Trang pliục trong sinh hoạt văn hoá Quan họ”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn chu dáo và sự quan tâm động viên, khích lệ của PGS.TS Hoàng Lương. Tỏi xin bay tó lòng biết ơn chân thành tới sự quan tâm, chí dạy đó. Tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sác lới các Tháy, c ỏ giáo tron2 Khoa Lịch sử đã giúp tôi có nhũng kiến thức cơ ban để hoàn thành luận văn này. Đặc biệt, trong quá trình điền dã đê thực hiện luận văn, lôi còn nhặn được sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quá của nhiều cơ quan han imành và bà con thuộc lỉnh Bác Ninh. Nhãn dây, tỏi xin tri ân và bày tỏ lòng biêt oil tơi: -Sở Vãn lioá Thông tin tỉnh Bắc Ninh. -Ông Lẽ Danh Khiêm, Trưởng ban nghiên cứu Quan họ, Truniỉ tăm văn hoá tỉnh Bác Ninh. -Gia đình nghệ nhân Quan họ Nguyễn Thị Bàn, làng Diem. -Ông Nguyễn Văn Thêu, Hiệu trưởng trường Trung học Vãn hoa nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh. Cuối cùng, tôi xin cam ơn gia dinh và bạn bè, những người đã gan gũi và giúp đỡ tói rất nhiều để tỏi có the hoàn thành được luận vãn nay. Hà Nội, m>ày... tliânạ... Iiăm 2005 Tác giá luận vãn Đinh Thị Thanh Huyèn ỵ7W/>/«/ phụt trrWij sỉnlt hitạt tuiit héưi Qfiun fart - 'íũình r7hì Tĩluiiih ~ 3(,infill MỤC LỤC Mục lục......................................................................................................................... ] Mỏ' đầu......................................................................................................................... 4 1.Tính cấp thiết của đề tài...................................................................................4 2. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................... 5 3. Mục đích nghiên cứu...................................................................................... 5 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.............................................................................. 5 5. Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.............................................. 8 6. Đóng góp của luận văn..................................................................................10 7. Bố cục của luận vãn.......................................................................................11 Chương 1:................................................................................................................. 12 Khái quát điều kiện tự nhiên và cư dân làng D iềm .............................................. 12 1.1. Điều kiện tự nhiên và dân cư...................................................................... 12 1.1.1. VỊ ữí địa lý và điều kiện tự nhiên.................................................... 12 1.1.2. Khái lược về lịch sử làng Diềm.......................................................16 1.1.3. Sinh hoạt kinh tế của cư dân làng Diềm.......................................... 17 1.2. Đời sống văn hóa - xã hội cư dán làng Diềm............................................. 20 1.2.1. TTn ngưỡng.................................................................................... 20 1.2.2. Lễ hội............................................................................................ 22 1.2.3. Các loại hình hoạt động vãn hóa truyền thống của làng Diềm.......23 1.3. Làng Diềm hôm nay.................................................................................. 26 Tiểu kết chương 1........................................................................................................28 Chương 2:....................................................................................................................29 Lễ hội và sinh hoạt văn hóa Quan họ - môi trường tổn tài và phát triển của trang phục Quan họ..............................................................................................................29 2.1. Vài nét sơ lược về các lẽ hội làng Diềm............................................. 30 2.1.1. Lễ hội chùa Hung Sơn.................................................................... 31 2.1.2. Lễ hội đền Vua Bà..........................................................................31 1 7t>ù Qlỉỷi, 12/2005 Qrantj phne h'tHtt; i'uth hrmf OÙH htuI Quan ho - 'í)ình \jhi 'ỹhuiih 'ZtiMjv" 2.1.3. Lẻ hội đền Cùng........................................................................... 32 2.1.4. Lễ hội đình Diềm..........................................................................34 2.1.5. Lễ hội cầu đảo.............................................................................. 34 2.2. Sinh hoạt vãn hoá Quan họ ở làng Diềm...................................................36 2.2.1. Nguồn gốc Quan họ......................................................................36 2.2.2. Đặc điểm chung của lối chơi Quan họ làng Diềm...................... 40 2.2.3. Một số tục lệ trong sinh hoạt văn hoá Quan họ trong các lễ hội làng Diềm...................................................................................46 2.2.4. Văn đề tạo nguồn Quan họ............................................................50 Tiểu kết chương 2 ..................................................................................................... 52 Chương 3....................................................................................................................53 Trang phục Quan h ọ .................................................................................................53 3.1. Quan niệm chung về trang phục................................................................53 3.2. Nguồn gốc của trang phục Quan họ..........................................................54 3.3. Quá trình tạo ra trang phục....................................................................... 57 3.3.1. Nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ ở Bắc Ninh..............................57 3.3.2. Quá trình dệt vải bằng sợi tơ tằm................................................... 59 3.3.3. Nhuộm và chuội vải......................................................................60 3.3.4. Các loại sản phẩm từ dệt tơ tầm..................................................... 61 3.4. Các thành tỏ' của trang phục Quan họ....................................................... 62 3.4.1. Về màu sắc của trang phục Quan họ............................................. 62 3.4.2. Trang phục nam Quan họ..............................................................64 3.4.3. Trang phục nữ Quan họ................................................................67 3.4.4 Trang phục Quan họ hiện nay........................................................ 79 Tiểu kết chương 3 ......................................................................................................81 Chương 4:................................................................................................................... 82 Giá trị văn hóa và việc bảo tồn trang phục Quan họ..................................................82 4.1. Những giá tiị cơ bản của trang phục Quan họ ở Bắc Ninh........................82 4.1.1. Trang phục Quan họ phản ánh môi trường sinh thái và đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng làng Diềm.............................................. 83 2 7(,a Qlội, 12/2005 'Jram j phụe trtmtj tình limit Mill him Qfiian lit) - fj)!nh /hi C/hutth '3f>nụỉn 4.1.2. Trang phục Quan họ làng Diềm góp phần thể hiện quan điểm thám mỹ dân gian................................................................................84 4.1.3. Trang phục Quan họ làng Diềm một sản phẩm của sinh hoạt văn hóa Quan họ trong các lễ hội truyền thống của địa phương......... 86 4.2. Thực trạng ữang phục Quan họ hiện nay.................................................88 4.3 Một sô' giải pháp bảo tồn trang phục truyền thống Quan họ.....................91 4.3.1 Bảo tổn phát hụy văn hoá Quan họ- môi trườns sống của trang phục Quan họ làng Diềm và Bắc Ninh.................................................91 4.3.2. Một sô' kiến nghị, giải pháp bảo tồn trang phục truyền thống Quan họ...............................................................................................93 4.3.2.1 Giải pháp về một trung tám bảo tồn bảo tàng đối với Quan họ... 97 4.3.2.2 Giải pháp về việc phát triển loại hình dịch vụ - du lịch văn hóa Quan họ....................................................................................................... 98 Tiểu kết chương 4 ................................................................................................. 100 Kết luận.................................................................................................................. 101 Chú thích:............................................................................................................... 105 Tài liệu tham khảo................................................................................................ 108 Phụ lụ c....................................................................................................................114 Phụ lục l:Bản đồ................................................................................................ 1 Phụ lục 2: Tư liệu chữ viết.................................................................................. 6 Phụ lục 3: Hình vẽ ............................................................................................. 27 Phụ lục 4: ảnh chụp ........................................................................................... 41 3 ir.a Qựtl, 12/2005 ffh n c trftruj t in h Iu u ị Ị ỊUÌii htíti QfMun h ọ - rt ììn U ~ h i ' j h a n h Jfiiit/vtt mở ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. Trang phục là một trong những thành tố vãn hoá vật chất đạc sắc của vãn hoá tộc người. Do diều kiện tự nhiên và xã hội cụ thể, từng vùng, từng nhóm địa phương của tộc người thường có những nét đạc điểm riêng. Trang phục của liền anh, liền chị các làng Quan họ Bắc Ninh là một trong những nét độc đáo đó. Tục ngữ người Việt có cáu “Cói răng cái tóc là góc con người" hay “Người đẹp vì lụa ” chứng tỏ ông cha ta từ xưa đã chú V đến vấn đề trang phục và V nghĩa của nó. Trang phục có ý nghĩa vừa làm đẹp cho con nguời, vừa thê hiện bản lĩnh, bản sắc văn hóa của dán tộc. Cho nên, từ xa xưa con người luôn tìm tòi và phát triển nhiều loại trang phục độc đáo, đồng thời cũng luôn đấu tranh bảo vệ những đặc điểm riêng của trang phục dán tộc mình. Vì thế, “Trang phục chính là một trong những sắc thái nổi bật nhất của văn hóa rộc người ”(84, 12). Trang phục của 54 dân tộc ở Việt Nam là 54 bông hoa rực rỡ. trong đó bộ trang phục của các liền anh liền chị xứ Kinh Bắc (người Việt) là một bông hoa đẹp trong vườn hoa muôn màu đó của các dân tộc anh em. Hơn nữa, hiện nay, Tỉnh uỷ Bắc Ninh và Bộ Văn hóa Thông tin đang đề nghị Uỷ ban UNESSCO công nhận dân ca Quan họ là một trong những di sản văn hóa phi vật thể của thê giới thì việc nghiên cứu về trang phục Quan họ thiết nghĩ càng cần thiết hơn. Việc nghiên cứu đó sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn về những giá trị độc đáo của di sản văn hóa quý giá trên của dán tộc ta. Qua đây cũng góp phần cung cấp thêm những tư liệu, ý kiến khoa học để chính quyền địa phương và các cơ quan vãn hóa có những biện pháp bảo tồn và phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa đặc sắc trên. Trên cơ sở ý nghĩa khoa học và thực tiên đó, chúng tôi đã chọn đề tài : “Trang phục trong sinh hoạt văn hoá Quan họ” của làng Diềm (Viêm Xá)-xã Hòa Long - huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh làm luận vãn Thạc sĩ của mình. 4 7(>ù Qựù, 12/2005 ^ĩrỉỉttíỊ Ịỉhuí- traitIf sinh hftạt oiitt ỉtmt Qt/a/t ho - 'ỉ)ìtiỉt ~ĩtũ ~httnii ~j(-utfỉtt 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u . Với đề tài luận vãn “Trang phục trong sinh hoạt vãn hoá Quan họ ' chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là bộ trang phục của các liền anh liền chị Quan họ. Điều lý thú là bộ trang phục đó được sử dụng trong một không gian và thời gian có ý nghĩa đặc biệt: các lễ hội có sinh hoạt hát (chơi) dán ca Quan họ. Do vậy, trang phục Quan họ ở đây được đật trong mỏi trường lễ hội của địa bàn nghiên cứu. Hay nói cách khác, các lễ hội mùa xuân, hội Quan họ tại địa bàn nghiên cứu cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn. Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chọn cụ thể một làng Quan họ gốclàng Diềm (Viêm Xá) - xã Hòa Long - huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh đê đặt trọng tám nghiên cứu, sau đó mỏ' rộng so sánh sang các làng khác ở Bắc Ninh như: Châm Khê, Lim, Y Na ... 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u . Qua việc nghiên cứu trang phục Quan họ ở làng Diềm, bước đầu hệ thống lại các nguồn tư liệu và công trình nghiên cún về trang phục Quan họ ở Bắc Ninh, các tài liệu về nguồn gốc, sự hình thành, phát triển của dân ca Quan họ. môi trường tồn tại khổng gian phát triển của trang phục Quan họ. - Tim hiểu nguồn gốc, quá trình tồn tại và biến đổi theo thờigiancủa bộ trang phục Quan họ. - Những giá trị quý báu của bộ trang phục Quan họ nói riêng trong sinh hoạt vãn hoá Quan họ nói chung ở Bắc Ninh. - Tìm ra nhũng giải pháp tối ưu để bảo lưu, kế thừa phát huy nét đẹp văn hoá Quan họ, trong đó có trang phục Quan họ. 4. LỊCH SỬ NGHIÊN c ứ u VẤN ĐỀ. Trang phục là một vấn đề không mới trong công tác nghiên cứu dân tộc học. 0 nhiều khía cạnh khác nhau, vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu. các học giả trong và ngoài nước quan tám nghiên cứu. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập đến vấn đề trang phục trong nhiều tác phẩm. Trong Phép biện chứng của tụ nhiên, F.Anghen đã nói đến nhu cầu về quần áo của con người trong quá trình di chuyển nơi ở đến những vùng có khí hậu khác nhau. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chê độ tư hữu và của nhà nước”. F.Anghen đã đề cập đến sự phán công lao 5 Itù Qự>!, 12/2005 ~ĩrỉtu(Ị ft/m e tromj sình htuit {HÍ11 htm Quan firi - Otn h \Jhi cThanh Jii/i/fn động có tính tự nhiên giữa nam và nữ, đến vai trò của đổ sắt thúc đẩy nghề dệt ngày càng phát triển (3,18). Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã quan tám nghiên cứu vế trang phục của các dân tộc. Các tài liệu đó đã được công bố trong các nguồn thư tịch sau: - Tài liệu thư tịch cổ ghi chép dưới các triều đình phone kiến, có đẽ cập đến vấn đề nếp sống, phong tục tập quán của người Việt trong trang phục. - Một số sách công bố kết quả nghiên cứu dưới góc độ dán tộc học, văn hóa học trong đó có phần nói về trang phục. - Các tài liệu dưới dạng các bài báo, các bài nghiên cứu đãng trên các báo và tạp chí chuyên ngành như: Văn hóa, Vãn nghệ, Dân tộc học. Vãn hóa dán gian, Vãn hóa nghệ thuật ... - Các tài liệu nghiên cứu dưới dạng những báo cáo của các Hội thảo khoa học. những khóa luận tốt nghiệp Đại học, luận vãn sau Đại học về trang phục. Trong số đó, trước hết phải kể đến các nguồn tài liệu thư tịch cổ. Các công trình của các học giả thời phong kiến ở nước ta như D ư địa chí của Nguyễn Trãi. Kiên văn tiểu lục, Phủ bién tạp lục của Lê Quý Đôn. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Khâm định Việt sử thông giám cưong mục của Quốc sử quán triều Nguyễn ... đã đề cập đến nội dưng của trang phục dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể, trong Kiến văn tiêu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã mô tả kỹ thuật nhuộm vải của nhân dán ta như sau: “Tục nước Nam ta, lấy chày đập rồi phoi khô đ ể nhuộm may áo, gọi lả thanh cát y, có 3 thứ: màu lửa sáng, màu hoi nhạt, màu hoa quỳ. Bất cứ quan, dân, sang hèn đều mặc như thé” (28, 80). Tác giả (LQĐ) còn chú dẫn thêm tài liệu của sứ nhà Nguyên trong tập ‘Sứ Gmo cháu thi tập” cửa Trần Cương Trung mô tả về cách ăn mặc của dán thường nước Nam một cách khách quan: "Người trong nước đều mặc áo lụa thâm, áo hoa, quán mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là, đàn bà cũng mặc áo thâm, nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để viền vào cổ áo, rộng bốn tấc, họ cho th ế là khác với áo dàn ông, các sắc xanh, hồng, vàng, tía, tuyệt nhiên không có” (28, 81) Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng đề cập đến vấn đề trang phục trong phần L ễ nghi chí, quyển XX với những ghi chép về quv định, quy chế về mũ áo đế vương, quan lại và dân thường (18, 103) 6 7ổò Qlội, 12/2005 ^ĩrtittt/ p h ạ c tro m j i i n h h t w t lUĨn h tía Q u a n h ạ - ' f ) ìn lỉ ^~ĩltì ~ lt(ittỉi ~ỉl ttỊỊtn Kế đến các học giả người Việt Nam và người Pháp thời Pháp thuộc cũng quan tám nhiều đến trang phục ở các khía cạnh: phong tục, văn hóa tộc người, đó là J.Cuisinier. M.Colani, ứng Hòe, Hoa Bằng, Biền Xa ... dưới dang các bài viết trên các tạp chí và công trình cá nhân. Các học giả miền Nam thời Mỹ - Nguy, tiêu biểu là Toan Ánh với cuốn Phong tục Việt Nam cũng đề cập đến nội dune và nói về những thông tin của trang phục (87,3). Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, ÚI sách với ý nghĩa là công trình chuyên khảo về trang phục cũng có và đề cập một phần về vấn đề trang phục cũng có. Học giả Đào Duy Anh trong tác phẩm ‘"'Nguồn gốc dân tộc Việt Nam ” đã khảo cứu về vấn đề trang phục và cách phục sức của người Việt cổ như sau: “Xét những đổ đồng tìm được ở Đông Sơn người ta thấy có một hình người đ ể tóc bối ở sau gáy có bịt một cái khăn ngang hai mối buộc với nhau và xõa xuống lưng, ơ mỏi lai có đeo một cái vanh lớn. Tuồng như có một cái dây lưng, ó' sau lưng có một cái tua bỏ thõng xuống. Lại có một cái hình người khác, mỗi tai đeo một cái vòng, phần thân dưới mang một cái váy như kiểu váy của người Mọi ngày nay, ở phía trước váy có thêm một miéhg lá phủ. Tóc thì một nửa bối ngược ở đỉnh đàu, một nửa tết thành bím bỏ xuống lưng, bối tóc có bịr một cái khâu. Xem hai hình người ấy, chúng ta có thể phỏng đoán được phục sức của người Lạc Việt như thế nào” (4, 62). Từ những năm 1970 trở lại đây xuất hiện những công trình của các nhà nghiên cứu về vãn hóa vật chất nói chung và y phục nói riêng của các dán tộc. Một số các công trình đề cập đến trang phục khi giới thiệu các dán tộc như: Các dân tộc ít người ỏ Việt Nam gồm 2 tập của Viện dân tộc (95-96). Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam của GS Nguyễn Vãn Huy (38),Vổ/Ỉ hoá các dán tộc thiểu số ở Việt Nam của Ngô Vãn Lệ - Nguyễn Vãn Tiệp..(49) đã nói sâu hơn về trang phục các dân tộc ở Việt Nam. Đặc biệt, các công trình chuyên khảo về trang phục gần đây của các nhà nghiên cún đã được công bô như: Tim hiểu trang phục Việt Nam của Đoàn Thị Tinh (83), Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (84), Hoa Vãn Thái của Hoàng Lương (60) ... Ngoài ra còn có các cốns trình 7 1C,ù Qĩộl, 12/2005 Cfrunti pliitf tro t!tị tình hnat iuin htut Lilian hit - Cjhi €/ltanh nghiên cứu chuyên khảo là các luận án Tiến sĩ như Trang phục có truyén của người Dao ỏ Việt Nam của Nguyễn Anh Cường (21), Trang phục cổ truyền của người Nùng ở Đông Bắc Việt Nam của Lê Văn Bé (7), Trang phục cô truyén của người Thái của Lê Ngọc Thắng ... Trong các công trình nghiên cứu về Quan họ đã cóng bố tiêu biểu nhu cuốn Nghệ nhân quan họ làng Viém Xá của tác giả Trần Chính (16. 97) có đề cập đến tran2 phục của các nghệ nhân Quan họ trong một mục nhỏ, cuốn Một sô vấn đề về vãn hóa Quan họ, có một bài của tác giả Lé Thị Chung viết về trang phục Quan họ (44, 144) Một số bài nghiên cứu khác như: “N ữ phục Kinh Bắc một vài nét lớn" của GS Trần Từ đăng trẽn tạp chí Dân tộc học (92). hay bài “Sắc xuán trong trang phục Quan họ" của Nhạc sĩ - họa sĩ Nguvễn Thuần đăng trên tạp chí người Bấc Ninh (86). Tất cả những công trình nghiên cứu về trang phục nói chung và chuyên khảo kể trên thực sự là một nguồn tư liệu quý giá góp phần đặt nền móng cho việc nghiên cứu trang phục chuyên khảo sau này. Nguồn tư liệu quý giá ấy cần gìn giữ và phát triển bởi nó là cả bề dày công sức nghiên cứu của nhiều thế hệ học giả. các nhà nghiên cứu. Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những giá trị của kho tư liệu đó, bản luận văn của chúng tôi hy vọng rằng sẽ góp thêm vào một chút tư liệu về trang phục Quan họ nói riêng. 5. CÁC NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u . 5.1. Các nguồn tài liệu. - Trướe hết là nguồn tài liệu chữ viết đã được công bố liên quan đến trang phục. - Nguồn tài liệu thứ hai và là nguồn tài liệu chính quan trọng nhất chúng tôi thu thập được trên địa bàn nghiên cứu: làng Diềm, làng Chấm Khẽ, làng Lim ... ở Bắc Ninh thời gian qua. - Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu thêm nguồn tư liệu hiện vật và ảnh có liên quan đến đề tài tại các bảo tàng như Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Dán tộc học. 5.2. Phương pháp nghiên cứu. 8 7C>à Qlộì, 12/2005 'Uramj pliiỉi' trtitHỊ tinh hunt tuìn háu Qfian fart - 'Oittil C/hi ~imnh ’JfimjrH Về Cơ SỞ lý luận, để hoàn thành luận văn chúng tôi vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác. chủ nghĩa Duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để xem xét đánh giá quá trình hình thành và phát triển cùa trang phục Quan họ. Trang phục nói chung là một hiện tượng văn hóa của cộng đổng. Cũng như các hiện tượng văn hóa khác, nó cũng phát sinh, phát triển và biến đổi theo thời gian. Luận vãn nhìn nhận trang phục Quan họ với ý nghĩa như vậy, tức là đật đối tượng nghiên cứu trong đời sống cộng đồng tộc người và sự vận hành của nó trong không gian và thời gian. Đồng thời luận văn cũng nhìn nhận đối tượng nghiên cứu trên nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa và chính sách dán tộc theo định hướng “Xá\ dựng và phát triển văn hóa Việt Nam rién tiến đậm đà bản sác dân tộc". Đây là những cơ sở định hướng và tiếp cận của luân vãn, đồng thời đề ra những biện pháp bảo tồn và phát triển vốn văn hóa đặc sắc của làng Quan họ làng Diềm nói riêng và vùng văn hóa Quan họ Kinh Bắc nói chung. Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành cho từng giai đoạn thu thập tư liệu trong các Thư viện, Bảo tàng, nghiên cứu điền dã, hệ thống phán tích, so sánh đối chiếu ..Trong đó, phương pháp điển dã Dân tộc học được sử dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu qua các hình thức: phỏng vận, quan sát, đo vẽ, chụp ảnh. phiếu hỏi, ghi âm, quay phim, mô tả ... Đáy là nguồn tư liệu chính để xử lý và trình bày luận vãn này. - Phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh cũng được thực hiện trên cơ sở lấy một địa bàn cụ thể để nghiên cứu điểm sau đó mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các khu vực lán cận có liên quan. Từ đó tiến hành cấu trúc về bố cuc và trình bày luận văn. Tuy nhiên, để đạt được kết quả nghiên cứu, chúng tôi gặp rất nhiều khó khãn. Trước hết, vấn đề nghiên cứu về trang phục Quan họ từ trước nay chưa có một sự nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc, toàn diện và liên tục. Các nhà nghiên cứu láu năm về văn hóa Quan họ như Hồng Thao, Trần Linh Quý, Đặng Vãn Lung, và sau này là Lẻ Danh Khiêm, Trần Chính ... là những tác giả đã có bề dày nghiên cứu về văn hóa Quan họ nhiều năm nhưng họ chủ yếu đi sáu về phần ám nhạc, lời ca. 9 ir,u Qtội, 12/200-, Ĩ7nmy Ịihue Iromj iình /irựif niiti htU! Qiiuti hít - rtìinh Ĩ77f/ ~lutiih JtiM/jtn các lề lối Quan họ... Một số các cổng bố về ván đề này là những bài viết trên các tạp chí. chưa đủ cứ liệu để có thẻ hình dung ra vấn đề trang phục Quan họ. Khó khăn, trở ngại thứ hai xuất phát từ thực tế, lớp nghệ nhân Quan ho được gọi là các anh Hai. chị Hai Quan họ vốn tham gia sinh hoạt Quan họ từ những năm đầu thế kỷ XX (trước cách mạng tháng Tám) nav đã già và trí nho' không còn minh mẫn như xưa. Qua cụ Nguyễn Vãn Thị 97 tuổi, cụ Ngô Thị Nhi 84 tuổi ở Diềm cho biết những bộ trang phục Quan họ ngày xưa của các thế hệ trước và ngay cả của các cụ trước đây hiện nay đều không còn do điều kiện thời tiết, chiến tranh loạn lạc. Do đó, chúng tôi bắt tay vào công việc nghiên cứu về trang phục Quan họ không có con đường nào khác ngoài cách tự mày mò khảo tả, tìm hiểu phục dựng qua ký ức hồi tưởng của các nghệ nhân Quan họ, qua các kênh thông tin của các nhà nghiên cứu đi trước, qua so sánh đối chiếu tư liệu sưu tầm và đặc biệt qua bộ trang phục Quan họ hiện nay. Trải qua qúa trình cải biến và dòng chảy của thời đại, bộ trang phục Quan họ đã có nhiều thay đổi, đó là một điéu không thê phủ nhận. Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng, bộ trang phục đó vẫn mang dáng dấp của bộ trang phục Quan họ ngày xưa. Vậy nén quan niệm thế nào về bộ trang phục Quan họ. ơ đáy tên gọi của nó cũng đã minh họa một phần cho bản chất của vấn đề đặt ra. Trang phục Quan họ là trang phục của người hát Quan họ, tức những người trực tiếp tham gia sinh hoạt văn hóa Quan họ, được sử dụng trong những ngày lễ hội và các dịp sinh hoạt vãn hóa Quan họ. Do đó, trang phục thường nhật của người Quan họ khống phải đối tượng nghiên cứu cụ thể. chi tiết của luận văn này. 6. ĐỎNG GÓP CỦA LUẬN VĂN. Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo về trang phục Quan họ đặt trong bối cảnh của một nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của vùng đất có bề dày văn hóa là Kinh Bắc xưa trong Bắc Ninh nay: là sinh hoạt dán ca Quan họ. Từ việc nghiên cứu về trang phục Quan họ, luận văn góp phần giới thiệu những nét đẹp của trang phục Quan họ nói riêng và văn hóa lâu đời của vùng Bắc Ninh là sinh hoạt dán ca Quan họ nói chung. Từ đó góp phần cung cấp thêm mót nguồn tư liệu cụ thể nữa vào kho tư liệu nghiên cứu về trang phục ở Việt Nam nói chung. 10 7t>ù Qlội, 12/2005 'J r a n t j fth u e h'fim j j i n k hfMff o à n htUt Q u a tt fin - rt ì i n h ^7h i ~ h t iiih 7fai/fw Cuối cùng qua nghiên cứu trang phục Quan họ, đặt ra một số ván để về việc bảo tồn những giá trị của bộ trang phục lễ hội này cũng nhu vấn đềbảo tồn. phát huy nét đẹp trong sinh hoạt vãn hóa Quan họ. 7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN. Luận vãn được bố cục như sau: ngoài phần mở đầu (8 trang), phán kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (7 trang), phục lục (63 trang), nội dung chính của luận văn gồm 4 chươne: Chưone 1 . Khái quát điểu kiện tự nhién và cư dán làng Diém Chương 2 : Lẻ hội và sinh hoạt văn hóa Quan họ - mỏi trườngtón tai và phát triển của trang phục Quan họ. Chươne 3: Trang phục Quan họ. Chươns 4 : Giá trị vãn hóa và việc bảo tồn trang phục Quan họ truyền thống. 11 7t>ù QW, 12/200 5 *Jranự phne tvtmtị íinh hoạt tùm hóa 0 ,11(111 hít - rOinh 'Jhi ^Thunh '3{>ut)ỉn CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN VÀ c ư DÂN LÀNG DIÊM 1.1. ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN VÀ DÂN c ư . 1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhién. Làng Diềm (tên chữ là Viêm Xá) là một làng cổ của mảnh đất vãn hiến nổi tiếng một thời, một trong những cái nôi vãn hóa của dân tộc, vùng đất Kinh Bắc xưa và Bắc Ninh ngày nay. Để có cái nhìn tổng quát về địa ]ý hành chính của làng phải đặt trong toàn bộ hệ thống phán cấp từ trên xuống. Như chúng ta đã biết, Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đổng bàng cháu thổ Sông Hồng, với diều kiện khí hậu sông ngòi thuận lợi, ở vào vị trí khí hậu có tính đa dạng của chế độ hoan lưu gió mùa nhiệt đới phức hợp. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50"c, cao nhất là 38,4tìc , thấp nhất là 4,80°c. Lượng mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng à Qlội, 12/2005 ~ĩt (t!UỊ p h ạ c 11'OHIỊ sin h ỈỊítat oùn h í‘íi Q (»w hi' - *O ìitíi ~ĩỉìi ~7luuili JfiuụỈM Sách Đại Nam nhất thông chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn cũng viết: Huyện Yên Phong thuộc Phủ Từ Sơn ở phía Bắc lệch về phía Đỏng phủ cách 15 dặm Đông Tây cách nhau 29 dặm. Nam Bắc cách nhau 24 dặm (97. 58) Học giả Nguyên Văn Huyên cũng có những nghiên cứu, ghi chép về địa lý vùng đất Bắc Ninh như sau: “Địa danh Bắc Ninh ngày nay là rỉnh Bắc Ninh của xứ Bắc Kỳ, có một diện tích 1.100 km2, ở phần giữa tỉnh có con sóng đào Thiên Đức (nay là sóng Đuống) cháy qua từ Tây sang Đông, phía Táy và Tây Nam có con sông Nhị Hà, rức sóng Hổng bao bọc, mặt Bắc có sống Cáu và mặt Đỏng có sóng Thái Bình” (39. 337) Thực tế. Bắc Ninh là vùng đất trung tám cháu thổ Bắc Bộ, giữa lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình “Đây là vùng đất màu mỡ, giàu nguồn nước, tiện lọi cho con người cư trú làm ăn, nhất là canh tác nông nghiệp” (21.10). Từ xưa, xứ Bắc đã là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ bộ. nhất là hệ thống giao thông đường thuỷ sông Hồng, sóng Cầu, sông Đuống, sông Dâu. sống Lục Đầu, sông Thái Bình ... tạo cho xứ Bắc trở thành trung tám giao thương, tiếp xúc kinh tế, văn hóa giữa nước ta với các nước trong khu vực Đóng Nam Á. với Trung Quốc, Ân Độ và các nước trong vùng Trung Á. Với vị trí và cảnh quan phong phú, đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho cư dán làm ăn, phát triển kinh tế văn hóa, tạo nên vị thế đặc biệt của Kinh Bắc Bắc Ninh trong lịch sử dán tộc và lịch sử văn hóa Việt Nam. Và Diềm là một làng quê cổ của vùng đất Kinh Bắc giàu đẹp. Làng Diềm nằm ở phía Đông Bấc huyện Yên Phong: phía Đống Bắc giáp làng Hữu Chấp, phía Tây Nam giáp làng Xuân Đồng (còn gọi là làng Đồng Mật) và làng Quả Cảm (còn gọi là làng Xuân Quả), phía Tây Bắc và Đổng Bắc là con sông Ngũ Huyện Khé chảy vòng như dải lụa rồi nhập vào với sông Cầu soi bóns núi Kim Sơn đầu làng tạo thành một thế đất vừa sơn thuỷ hữu tình, vừa êm đềm trù mật. Về mặt tự nhiên: làng Diềm (Viêm Xá) xưa là một vùng đồng bằng chiêm trũng chỉ canh tác nông nghiệp được vụ chiêm , còn vào hè - thu nước ngập trắng băng. Đó chính là điều kiện tự nhiên khách quan để xưa làng có hình thức sinh hoạt dân ca rất độc đáo: hát ghẹo dưới thuyền. 13 7r>ỉi Qựù, 12/2005 ^Trỉint/ p l i n e trn n ụ i if th it fia t m m h ó it Q iia it far) - f ) ìn ỉì ~ ỉìí \ Jh a n h 'dtiuụỉn Về mặt giao thông: làng Diềm cách thị xã Bắc Ninh khoảng 3km theo đường bộ, nhưng đoạn đường đó thật quanh co khó đi. Sự bất thuận về giao thông này đồng thời lại là diều kiện đế làng Diềm còn lum giữ được ở dạng cổ kính các di sản văn hóa cổ truyền, kể cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vát thể. Điểm đạc biệt về địa lý cảnh quan của làng Diềm là tiếp giáp và tiếp cận với những dòng sông thiên cổ, những dòng sóng gắn với nhiều huyẻn tích về những mối tình thơ mộng. Phía Bắc làng Diềm là dòng sông Cầu (còn gọi là sông Nguyêt Đức), con sông ngãn cách một bên là làng Diềm và một bén là làng Thổ Hà - Bắc Giang cũng là một làng Quan họ. Sông Cấu, một dòng sông của những sự rích anh hùng, của những nương dâu bát ngát, của những lời hẹn ước nguyện thề (71, 15). Sông Cầu chảy qua địa phận Yên Phong từ Ngã Ba Xà thuộc Xã Tam Giang đến Đẩu Hàn thuộc xã Hòa Long dài 21km. Trên hành trình chảy qua Yên Phong, sông Cầu nhận được nước của hai chi lưu: chi lưu sông Cà Lồ ở xã Tam Giang, chi lun sông Ngũ Huyện Khê ở thôn Quả Cảm xã Hòa Long. Vào thời Lý, sông Cầu có tên là sông Như Nguyệt11'. Năm 981 Lé Hoàn đắp thành Bình Lỗ phá tan quân Tống xâm lược. Năm 1077 Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, đại phá 30 vạn quán Tó'ng(2) lần thứ 2. Cả hai người đều lấy sông Như Nguyệt làm “chiến hào" thiên nhiên để chống giặc Tống và đều đại thắng. Năm Thiệu Bảo thứ 7 triều Trần, đạo quán của Thoát Hoan sang xâm lược bị thua rút về đóng ở Ái Lãnh Kinh trên sóng Như Nguyệt bị quân Trần mai phục tiêu diệt, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát về nước. Từ đó bọn xám lược phong kiến Trung Quốc nghe đến tên sông Như Nguyệt là hồn xiêu phách lạc. Thế kỷ XV, dưới thời nhà Lê, sông Cầu có tên là sông Nguyệt Đức. được liệt vào hàng sông lớn quốc gia, nên chép vào điển thờ. Tên sông Cầu có từ đầu thế kỷ XX khi thực dán Pháp xây 3 cây cầu lớn trên sông: cầu Đáp Cầu trên quốc lộ 1 thuộc địa phận Thị Cầu - thị xã Bắc Ninh, cầu Đa Phúc trên quốc lộ 3 thuộc huyện Sóc Sơn - Hà Nội, cầu Gia Bẩy thuộc thị xã Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên. Ca dao về dòng sông này còn lưu giữ đến ngày nay: 14 7(,a Qựù, 12/2005 rutI(Ị Ịihụe trỉỉntỊ tinh hoot I)/Ìti ỊỊ(UI Qfian họ - oittỉi ~ĩỉn' ~ỈỊunih 'SCiiiịịỉii “ Sông Cầu nước chảy Iff thơ Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi." Phía Tây Nam làng Diềm là sông cổ Ngựa. Sông cổ Ngựa đổ ra sông Cẩu rồi thông sang sông Ngũ Huyện Khê. Sông Ngũ Huyện Khê là con sông lớn thứ hai của Yén Phong sau sông Cầu, còn có tên là Suối Thiếp, sông Tập chảy từ Tây sang Đông, bao bọc phía Nam huyện là ranh giới giữa Yên Phong với huyện Từ Sơn. Cách đáy 2000 năm, vào thời An Dương Vương xây thành ốc ỏ' Kinh đó cổ Loa. sông Ngũ Huyện Khê có tên là sông Hoàng Giang, là một chi lưu của sông Hồng chảy vào Sông Cầu. v ề sau, do sự bồi lắng của sông Hồng, cửa thượng nguồn Ngũ Huyện Khê bị vùi 'lấp tạo nên một hồ lớn gọi là Ao Cả vực đê ở huyện Đống Anh ngày nay. Sông Ngũ Huyện Khê vì thế mà trở thành con sông tiêu nội địa cho 5 huyện Yên Lãng. Đông Anh, Từ Sơn, Yên Phong, Tiên Du. (42, 25). Sông c ổ Ngựa cùng sông Ngũ Huyện Khê là nơi đầy ắp những huyền tích về mối duyên tình thắm thiết nhưng đấy bi kịch éo le giữa bà Chúa Sành (Chúa Quả Cảm) với vua c ổ Loa . Có lẽ chất trữ tình của các con sông thiên cổ đã là một trong những điều kiện để sản sinh ra sinh hoạt vãn hóa Quan họ thắm động lòng người, sáu sắc tình cảm, tình yêu lứa đôi. Đặc điểm nữa về mật địa hình của làng Diềm là giữa một vùng đổng bằng chiêm trũng mênh mang sông nước, làng Diềm lại có một quả núi sótí3,nhô lén, dân làng gọi là núi thấp, tên chữ là Kim Lĩnh (hay Kim Sơn). Đáy là quả núi cuối cùng của dãy núi Quả Cảm - dãy núi của nhũng truyền thuyết đậm tính chất phong thuỷ. Giữa một vùng đồng bằng thẳng cánh có bay, lại đột khởi một vài quả núi sót, nhất định ở đó có con người đến quần cư từ sớm. Như chúng ta đã biết tổ tiên của người Việt, những người Việt cổ buổi đầu lịch sử khi chưa có đắp đê, điều kiện tự nhiên còn khó khăn thì cách hiệu quả nhất để tồn tại là tụ cư trẽn những dãy đồi núi ven sông. Qua quá trình quần tụ, dần dần con người mới tiến xuống chinh phục vùng đồng bằng châu thổ thấp. Điếm tụ cư ban đầu ấy đương nhiên sẽ có lưu lại ít nhất là dấu ấn các hoạt động của con người, trong đó không loại trừ hoạt động văn hóa tinh thần. Tóm lại, có thể nói làng Diềm là nơi “Sơn thuỷ hữu tình” và đó cũng là một trong những điều kiện tiên quyết để nơi đây đã hình thành và phát triển cũng 15 7C>à Qlộì, 12/2005 ’Jrnm j plỉụe trong tinh hoạt Ịlủit lưitt Qiitin ho - fffinh c7/i/ /hanh 7ì()iitjỉn như bảo lưu phong phú đa dạng các hoạt động văn hóa. bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. 1.1.2. Khái lược về lịch sử làng Điềm. Làng Diềm có tên chữ là Viêm Xá, nay thuộc xã Hòa Lone, huyện Yên Phong, tinh Bắc Ninh. Từ xa xưa, làng còn có tên là Viêm Ap. ấp Viêm Trang. Có thê đấy là dấu ấn ghi lại mộl thời nơi đây mới khai đất, lập làng trên chồn hoang sơn. Đây là một làng Việt cổ. Các dấu tích khảo cổ học và di tích lịch sử cho hay nơi đáy là điểm tụ cư hàng ngàn nãm của người Việt cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Các di vật khảo cổ như: nơi cư trú, mộ táng, đồ đồng, đồ gốm tìm thấy tại núi Quả Cảm là những minh chứng cho tính cổ kính của làng Diềm. Truyền thuyết tiêu biểu nhất của làng Diềm là truyện vế đức Vua Bà Thuỷ tổ Quan họ, cũng là minh chứng rõ nét cho tính cổ xưa của lịch sử làng Diềm. Bà là công chúa, con gái Vua Hùng (thứ 16) đã tới đây khai phá rừng cây nước, lau sậy um tùm, dạy dân làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm ... Truyền thuyết này đã trở thành ký ức dân gian và là một cơ sở đê định niên đại cho lịch sử của làng Diềm, nghĩa là với thời Vua Hùng làng Diềm có lịch sử ra đời cách ngày nay gần 3.000 năm. Ngoài ra chữ “Viêm" trong tên làng (Viêm Trang. Viêm Ap. Viêm Xá) khiến chúng ta liên tưởng đến chữ “Viêm" trong “Viêm Đ ế ” <4) ở trong truyền thuyết về nguồn gốc người Việt. Những tên địa danh các khu cánh đồng như: đồng Rừng, đồng Mật Gương, cổng Đầm, cổng Đò ... là dấu ấn còn lại của một vùng đất làng quê được lập nén từ một chốn rừng cây, đầm nước xa xưa. Truyền thuyết về Đức thánh Tam Giang được thờ ở đình làng Diềm cũng đê’ lại chứng tích cho thấy đáy là một vùng đất cổ. Đức Thánh Tam Giang có tén gọi là Trương Hống, Trương Hác có công giúp dán trong vùng đánh đuổi giặc Lương xãm lược. Khi đóng quán ở làng Diềm, một đêm hai người nằm nghi ở chùa, bỗng có một người con gái đi vào tự xưng là người giữ ngôi chùa ấy. Người con gái nói rằng: nếu nhị vị muốn diệt trừ giặc Lương thì chỉ có cách là kéo quân về vùng đầm Dạ Trạch mà dùng mai phục kế. Dứt lời thì biến mất. Trương Hống, Trương Hác giật mình tỉnh dậy nhận ra đó là một giấc chiêm bao. Hai người cho rằng đó là do lòng trời nên mới sai thần báo mộng, liền lập tức kéo quân về Dạ Trạch. Sau đó, quả nhiên giặc Lương bị đánh tan tành phải rút chạy về nước. 16 7ũù Qlỉù, 12/2005 'Jrunt! Ịthụe fi'imij tinh limit lùm háu Cjimii họ - rt)hth 'T/ll! 'Jliiiiih TfCimjin Thánh Tam Giang thực chất là thần thoại về một vị thần nước, ra đời từ tín ngưỡng tôn thờ thần nước cùa cư dán Lạc Việt trồng lúa nước. Trong quá trình lưu truyền, thần thoại này đã được lịch sử hóa. khiến cho các nhân vật trong truyện gắn với nhiều thời đại. Hùng Vương đánh Thục Phán, Triệu Quang Phục đánh giặc Lương. Lê Đại Hành rồi Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt. Bản thân việc làng Diềm thờ Thánh Tam Giang - Thán nước, đã chứng tỏ tính cổ kính, lịch sử lâu đời của làng qué này. Thời Lý (1010 - 1225) tỉnh Bắc Ninh nói chung bao gồm cả đất đai phũ Phú Lương. Thời nhà Trán (1225 - 1400). vùng Bắc Ninh này tươne ứng với đất các lộ Bắc Giang lộ và Như Nguyệt Giang lộ (39. 339) Theo sách “Dư địa c h í' của Nguyễn Trãi, thời đầu thế kỷ XV, xứ Kinh Bắc được chia làm 4 phủ và 21 huyện (39. 345). Trong đó, huyện Yên Phong là 1 trong 6 huyện của phủ Từ Sơn. Phủ Từ Sơn thời Lé là đất châu Vũ Ninh phủ Bắc Giang thời thuộc Minh. Thời Lê đổi làm phủ Từ Sơn. Theo danh sách các huyện ở sách Thién Nai?i du hạ tập thì phủ Từ Sơn thời Lê chỉ có 5 huyện, không có huyện Thanh Thuỷ. Thời Nguyễn vẫn gọi là Từ Sơn. Huyện Yên Phong, theo Phương đình địa chí là tên huyện thời Minh, thuộc cháu Vũ Ninh phủ Bắc Giang. Khoảng đời Lê Hồng Thuận (1509 - 1516) đổi làm Yên Phủ. Khoảng Lê Quang Thiệu (1516 - 1526) lại đổi làm Yên Phong. Hiện nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (98, 590 - 591) Làng Diềm (Viêm Xá) thuộc tổng Châm Khê huyện Yên Phong. Sau Cách mạng tháng Tám đến nay làng thuộc xã Hòa Long - huyện Yên Phong. Như vậy, gạt bỏ đi nhũng yếu tố huyền tích của các truyền thuyết liên quan đến các nhân vật lịch sử, cùng với các ghi chép có hệ thống của các tài liệu thư tịch phong kiến sau này có thể hình dung làng Diềm (Viêm Xá) là một làng quẽ có bề dày lịch sử hình thành và phát triển với những giá trị của m ột nền vãn hóa lâu đời đi lên. 1.1.3. Sinh hoạt kinh tê của cư dân làng Diềm. Xuất phát từ điểu kiện tự nhién là vùng đổng bầng chiêm trũng nên nghề chính của cư dân làng Diềm là canh tác nông nghiệp lúa nước. 17 Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I TRUNG TÂM THÒNG TIN THƯ VIÊN //"í: 7C>i, Qỉội, í 2/2005 'rĩr u n if p it n r frrun j s in h h u n t lù in h á u Of/an h o - i) in It ~ĩlù 'Tfltm ili Jfiiii/ rn Nghề trồng lúa ở làng Diém xuất hiện từ rất sớm và gán liền với truyền thuyết về đức Vua Bà. Truyện lưu truyền rằng, bà là Công chúa con Vua Hùng sau khi được trời giáng xuống Ap Viêm Trang cùng bảy người khác họ. đã lặp ra làng xóm giữa vùng cây nước um tùm, rậm rạp. rồi bà cho khai phá đất hoang, dạy dán cách làm ruộng, cấy lúa. Thưc chất, ngoài ý nghĩa là “Thuỷ tồ" Quan họ như truyền thuyết lưu truyền, cụng không loại trừ khả năng chữ “Thuỷ tổ" ở đáy còn có nghĩa sâu xa là người khai sinh ra làng Diềm, ra nghề nông làng Diềm. Truyện còn có tình tiết: Bà sáng tác ra các bài ca và dạy dán hát. Bấy giờ do mới lập làng, mà “ - Xem thêm -