Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật việt nam

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HƯỜNG TR¸CH NHIÖM D¢N Sù DO X¢M PH¹M QUYÒN T¸C GI¶ THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HƯỜNG TR¸CH NHIÖM D¢N Sù DO X¢M PH¹M QUYÒN T¸C GI¶ THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự Mã số: 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ QUẾ ANH HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Hường MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ .................................................................... 5 1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ ........... 5 1.1.1. Khái quát chung về quyền tác giả ...................................................... 5 1.1.2. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền tác giả....................................... 7 1.1.3. Đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả ........................................ 7 1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ ................................................................ 8 1.2.1. Khái niệm trách nhiệm dân sự............................................................ 8 1.2.2. Khái niệm trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả.............. 12 1.2.3. Đặc điểm trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả ............... 13 1.3. TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA............................. 15 1.3.1. Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Nhật Bản.......................................................................................... 15 1.3.2. Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ ............................................................................................ 19 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................. 25 Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ .................................................. 26 2.1. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ ................ 26 2.1.1. Chủ thể áp dụng trách nhiệm dân sự ................................................ 26 2.1.2. Điều kiện áp dụng trách nhiệm dân sự ............................................. 29 2.1.3. Các dạng hành vi xâm phạm quyền tác giả ...................................... 33 2.1.4. Các dạng chế tài ............................................................................... 42 2.2. ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ ................ 65 2.2.1. Những mặt tích cực.......................................................................... 65 2.2.2. Những mặt còn tồn tại...................................................................... 67 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................. 73 Chương 3: THỰC TIỄN XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ................... 74 3.1. THỰC TIỄN XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ Ở VIỆT NAM ....... 74 3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ...................................... 82 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện xây dựng quy định của pháp luật .................... 82 3.2.2. Giải pháp hoàn thiện áp dụng pháp luật ........................................... 84 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ............................................................................. 87 KẾT LUẬN ................................................................................................. 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 89 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự SHTT : Sở hữu trí tuệ TAND : Tòa án nhân dân TNDS : Trách nhiệm dân sự MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền này được Nhà nước bảo hộ; do đó, pháp luật đã quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền này khi có hành vi xâm phạm. Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có hành vi xâm phạm quyền tác giả đều phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do pháp luật quy định. Chủ thể xâm phạm có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm dân sự, thậm chí là trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc chủ thể xâm phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý nào còn tùy thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể quyền. Nếu chủ thể quyền có đơn khởi kiện chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả thì khi đó, Tòa án sẽ áp dụng các biện pháp dân sự để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả như: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại… Trên thế giới, hầu hết các nước khi phát hiện có các hành vi xâm phạm quyền tác giả, chủ thể quyền thông thường khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thực trạng xâm phạm quyền tác giả ngày càng có xu hướng gia tăng, tính chất vi phạm ngày càng tinh vi hơn, nhưng số vụ án về quyền tác giả được tòa án thụ lý và giải quyết còn rất khiêm tốn, mặc dù so với biện pháp hành chính và biện pháp hình sự thì biện pháp dân sự có ưu thế hơn. Tại sao vậy? Nguyên nhân là do tác giả, chủ sở hữu tác phẩm chưa coi việc khởi kiện ra tòa là chuyện bình thường; cộng với năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức ngành Tòa án còn yếu, hiểu biết chưa sâu về lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng; do cơ chế giải quyết tranh chấp tại tòa án còn nhiều bất cập… 1 Bên cạnh đó, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hiện nay Việt Nam đã tham gia công ước Berne (24/10/2006) và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới –WTO (11/01/2007) thì vấn đề bảo vệ quyền tác giả phải được quan tâm thực hiện hơn nữa. Với mong muốn cung cấp cho chủ thể quyền thêm một tài liệu tham khảo trước khi lựa chọn phương thức bảo vệ quyền tác giả của mình; đồng thời mong muốn hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả, để việc bảo vệ quyền tác giả bằng biện pháp dân sự trở thành cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phổ biến và hữu hiệu nhất, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam” làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Cho đến thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam”, đã có một số bài nghiên cứu về vấn đề này như “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Hoàng Minh Thái, luận văn thạc sĩ luật học năm 2001; “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của tác giả Ngô Văn Giang, luận văn thạc sĩ luật học năm 2007; “Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” của tác giả Đinh Thị Thúy Vân, khóa luận tốt nghiệp năm 2011; “Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Ngô Thị Thu Huyền, khóa luận tốt nghiệp năm 2012; “Nội dung quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Lam, khóa luận tốt nghiệp năm 2012; “Xâm phạm quyền tác giả ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hồng Oanh, khóa luận tốt nghiệp năm 2012… và một số bài báo, tạp chí như “Thực trạng giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 và một số đề 2 xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ” của nhóm tác giả TS. Nguyễn Hợp Toàn, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, PGS.TS. Trần Văn Nam; “Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự tại Việt Nam – Thực tiễn pháp luật và đề xuất hoàn thiện” của tác giả Phạm Văn Toàn (nguyên Phó Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ) đăng trên trang web của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 15/10/2013… Tuy nhiên, các công trình này chỉ đề cập tới một số khía cạnh về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung; chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tập trung phân tích một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu những vấn đề về lý luận và thực tiễn về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả ở Việt Nam. 3. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sỹ, Luận văn này chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của cá nhân, tổ chức đã có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của Luận văn này là dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Đồng thời, Luận văn sử dụng thêm một số phương pháp khác như phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp. 5. Mục đích nghiên cứu Xác định rõ các hành vi xâm phạm quyền tác giả; xem xét thực trạng xâm phạm quyền tác giả ở Việt Nam; tìm hiểu và nghiên cứu các quy định về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam; qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả, để việc bảo vệ quyền tác giả 3 bằng biện pháp dân sự trở thành cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phổ biến và hữu hiệu nhất. 6. Những kết quả nghiên cứu mới Phân tích một số vấn đề lý luận về trách nhiệm dân sự và các hành vi xâm phạm quyền tác giả, làm rõ các quy định về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam. Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, những mặt tích cực và những mặt còn tồn tại, từ đó tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục theo 3 chương trong phần nội dung, như sau: Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xâm phạm quyền tác giả và TNDS do xâm phạm quyền tác giả. Chương 2: Các quy định pháp luật và đánh giá việc áp dụng pháp luật về TNDS do xâm phạm quyền tác giả. Chương 3: Thực tiễn xâm phạm quyền tác giả và những giải pháp hoàn thiện pháp luật. 4 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 1.1.1. Khái quát chung về quyền tác giả * Khái niệm quyền tác giả: Theo nghĩa rộng, quyền tác giả là một chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, xác định và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quy định việc bảo vệ, khôi phục các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. Còn theo nghĩa hẹp, quyền tác giả bao gồm tổng thể các quyền của tác giả đối với tác phẩm mà mình sáng tạo ra; quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm [37, tr.34]. * Đặc điểm quyền tác giả: Giống như các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ khác (quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng), quyền tác giả cũng có tính vô hình và chỉ được bảo hộ trong một thời hạn nhất định. Ngoài ra, quyền tác giả còn có các đặc điểm riêng như sau [37, tr.35]: + Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật: Tác phẩm phải là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Tuy nhiên, những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược lại lợi ích dân tộc, bôi nhọ vĩ nhân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được bảo hộ. + Thứ hai, quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm: Pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam chỉ bảo hộ hình thức chứa 5 đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm. Vì vậy, trên thực tế có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có cùng nội dung, nhưng có sự sáng tạo trong hình thức thể hiện đều được pháp luật công nhận và bảo vệ. + Thứ ba, quyền tác giả được bảo hộ tự động: Đặc điểm này của quyền tác giả khác hoàn toàn so với quyền sở hữu công nghiệp. Nếu như quyền tác giả được bảo hộ tự động kể từ thời điểm tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì quyền sở hữu công nghiệp được xác lập dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua việc xét và cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp. Pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam không quy định bắt buộc nghĩa vụ đăng ký và nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, hay nói cách khác, việc đăng ký quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh cho chủ thể quyền khi phát sinh tranh chấp. + Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối: Đối với các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp thì trong một số trường hợp, cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và một số trường hợp không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. * Nội dung quyền tác giả: Cũng giống như các quyền dân sự khác, khái niệm nội dung quyền tác giả có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm quyền tác giả. Nội dung quyền tác giả chỉ nhằm xác định các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm, thông thường, về bản chất, các quyền nhân thân luôn gắn liền với chủ thể nhất định và không thể chuyển dịch được (trừ quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm). Quyền tài sản của chủ thể quyền đối với tác phẩm là các lợi ích vật 6 chất có được từ tác phẩm mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền được hưởng, như: được hưởng nhuận bút, thù lao hoặc hưởng các lợi ích vật chất khác khi tác phẩm được sử dụng (làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm, sao chép tác phẩm…). Các quyền nhân thân và quyền tài sản này được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. 1.1.2. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền tác giả Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có khái niệm chung để chỉ các hành vi xâm phạm quyền tác giả mà các hành vi này được liệt kê tại Điều 28 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả được Nhà nước và pháp luật bảo hộ; vì vậy, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có hành vi vi phạm bất cứ một quyền nào thuộc quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả khi không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đều phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định (xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại, thậm chí là bị xử lý hình sự). Như vậy, cũng giống như các hành vi xâm phạm quyền khác, các hành vi xâm phạm quyền tác giả được hiểu là những hành vi cố ý hoặc vô ý của các cá nhân, tổ chức vi phạm bất kỳ một quyền nào thuộc quyền tác giả đang được pháp luật bảo hộ và phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi. 1.1.3. Đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và hành vi xâm phạm quyền tác giả nói riêng là một loại của hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi xâm phạm quyền tác giả mang các đặc điểm chung của hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời mang những đặc điểm riêng có. Chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm của mình, trừ trường hợp chủ thể này không có năng lực trách nhiệm pháp lý (người bị mất năng lực hành vi dân 7 sự). Đây là đặc điểm của tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung; cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm quyền tác giả phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, thậm chí là trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm của mình. Hành vi xâm phạm quyền tác giả phải là xử sự thực tế (cố ý hoặc vô ý) của các cá nhân, tổ chức xâm phạm các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả. Các hành vi này là xử sự thực tế, cụ thể của các cá nhân, tổ chức nhất định. Ví dụ cá nhân (hoặc tổ chức) sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu (trừ các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật SHTT). Một đặc điểm nữa của hành vi xâm phạm quyền tác giả là một hành vi xâm phạm quyền tác giả không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây tổn hại cho lợi ích của toàn xã hội. Hành vi xâm phạm quyền tác giả tác động tiêu cực tới các quyền của tác giả, làm suy giảm một phần hoặc hoàn toàn cơ hội của tác giả để khai thác tác phẩm nhằm mục đích kinh tế. Hơn nữa, các hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra không nằm trong sự kiểm soát của tác giả, dẫn đến triệt tiêu mục đích khuyến khích sáng tạo mà pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đặt ra. 1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 1.2.1. Khái niệm trách nhiệm dân sự * Khái niệm TNDS BLDS 2005 không có một điều khoản cụ thể nào quy định về khái niệm 8 TNDS mà chỉ quy định các loại TNDS được áp dụng trong những trường hợp cụ thể tại các Điều 303, Điều 304, Điều 305, Điều 306 và Điều 307. Hiện nay, một số học giả đưa ra khái niệm về TNDS như sau: Trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của BLDS”, TNDS được hiểu theo nghĩa rộng “ là các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm”; còn theo nghĩa hẹp, TNDS được hiểu: Là các biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình (trong đó có bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) [8, tr.168]. Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “TNDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại” [36, tr.128]. Nhìn chung, các khái niệm về TNDS mà các học giả đã xây dựng đều phản ánh được những đặc điểm cơ bản của TNDS như: Là một loại trách nhiệm pháp lý, được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự; nhằm mục đích bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trong các khái niệm này các học giả chưa làm rõ được đặc điểm quan trọng về mặt chủ thể của TNDS. Do vậy, theo quan điểm của tác giả luận văn, khái niệm về TNDS có thể được hiểu như sau: TNDS là trách nhiệm pháp lý do Tòa án hoặc chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm nghĩa vụ dân sự, buộc các chủ thể này phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại. 9 * Đặc điểm của TNDS TNDS cũng là một loại trách nhiệm pháp lý cho nên TNDS cũng mang các đặc điểm nói chung của trách nhiệm pháp lý; đồng thời TNDS cũng có các đặc điểm riêng có. Một số đặc điểm cơ bản của TNDS như [17]. Thứ nhất, TNDS là một biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các chủ thể khác áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật dân sự. Thứ hai, TNDS chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm. Hành vi vi phạm ở đây có thể là: Gây thiệt hại cho người khác bằng hành vi trái pháp luật; chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; hủy hoại tài sản của người khác; vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết và có hiệu lực pháp luật. Thứ ba, khi TNDS được áp dụng bao giờ nó cũng mang lại những hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm, đó là những hậu quả bất lợi về mặt tài sản đối với bên vi phạm. Bởi vì, khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, thiệt hại gây ra thường là những thiệt hại về tài sản. Ngay cả khi thiệt hại gây ra là thiệt hại về tinh thần thì để bù đắp cho những tổn thất tinh thần đó, cũng chỉ có thể được thực hiện bằng việc bù đắp về mặt tài sản. Việc áp dụng TNDS nhằm bù đắp những tổn thất mà người bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của người có hành vi vi phạm gây ra. Thứ tư, chủ thể chịu TNDS có thể là người thực hiện hành vi vi phạm hoặc không phải là người thực hiện hành vi vi phạm. Thông thường người thực hiện hành vi vi phạm sẽ phải tự mình gánh chịu TNDS. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt người gánh chịu TNDS lại không phải là người thực hiện hành vi vi phạm. Đó là một trong các trường hợp: Người của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân mà gây ra thiệt hại thì pháp nhân sẽ là người phải bồi thường; trường hợp người đại diện theo pháp luật của người 10 chưa thành niên phải bồi thường khi người chưa thành niên gây thiệt hại mà người đại diện theo pháp luật có lỗi trong việc quản lý. * Phân loại TNDS TNDS được chia thành hai loại, TNDS trong hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng. TNDS trong hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các bên có quan hệ hợp đồng và hành vi vi phạm, là hành vi không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng; còn TNDS ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các bên không có quan hệ hợp đồng và hành vi của chủ thể vi phạm là hành vi xâm phạm đến tài sản và các quyền nhân thân của chủ thể khác. Một số điểm khác nhau giữa TNDS trong hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng như [2]: - Về việc xác định thiệt hại: Thiệt hại xảy ra đối với TNDS trong hợp đồng chỉ có thể là thiệt hại về vật chất và chế tài áp dụng chủ yếu không chỉ có bồi thường thiệt hại mà còn có hình thức phạt do vi phạm hợp đồng. Riêng TNDS ngoài hợp đồng thì ngoài thiệt hại về vật chất còn có thiệt hại về tinh thần, chế tài thông thường áp dụng là bồi thường thiệt hại. - Về thời điểm xác định trách nhiệm bồi thường: Một trong những nội dung quan trọng để có thể xác định được đúng mức bồi thường thiệt hại của bên vi phạm là xác định thời điểm chịu TNDS, TNDS sẽ phát sinh tại thời điểm xảy ra thiệt hại hay tại thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị vi phạm, điều này tùy thuộc vào tính chất của TNDS. Đối với TNDS trong hợp đồng, thời điểm TNDS phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; còn với TNDS ngoài hợp đồng, TNDS phát sinh kể từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại. - Căn cứ xác định TNDS: Đối với TNDS trong hợp đồng thì căn cứ làm phát sinh trách nhiệm không chỉ do pháp luật quy định mà các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng các căn cứ khác. Bởi vậy, chế tài bồi thường thiệt hại có 11 thể được áp dụng ngay cả khi chủ thể vi phạm không có lỗi, còn TNDS ngoài hợp đồng được dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu chủ thể vi phạm chứng minh được mình không có lỗi (trừ trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ; cha mẹ bồi thường thiệt hại cho con chưa thành niên và trường hợp ô nhiễm môi trường). - Các biện pháp bảo đảm: TNDS trong hợp đồng do phát sinh giữa các bên trong quan hệ trong hợp đồng nên trên thực tế, để đảm bảo thực hiện hợp đồng các bên thường có thỏa thuận các biện pháp bảo đảm kèm theo hợp đồng, còn đối với TNDS ngoài hợp đồng không áp dụng biện pháp bảo đảm. 1.2.2. Khái niệm trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả TNDS do xâm phạm quyền tác giả có thể phát sinh giữa các bên có quan hệ hợp đồng hoặc không có quan hệ hợp đồng, nhưng trên thực tế hầu hết các tranh chấp về quyền tác giả phát sinh giữa các bên không có quan hệ hợp đồng. Do đó, TNDS ngoài hợp đồng do xâm phạm quyền tác giả được áp dụng phổ biến hơn. Đây cũng chính là loại TNDS mà luận văn này tập trung nghiên cứu. Trường hợp bên vi phạm và bên bị vi phạm quyền tác giả đã ký hợp đồng liên quan đến quyền tác giả và hợp đồng này đã có hiệu lực pháp luật thì trách nhiệm của bên vi phạm khi không thực hiện hợp đồng, hoặc có thực hiện nhưng không đúng, không đầy đủ là TNDS trong hợp đồng. Trường hợp hai bên, bên vi phạm và bên bị vi phạm không có quan hệ hợp đồng liên quan đến quyền tác giả thì TNDS mà bên vi phạm phải gánh chịu là TNDS ngoài hợp đồng; hoặc có thể các bên này có ký hợp đồng nhưng hành vi vi phạm không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng; hoặc nếu hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra tổn thất về tinh thần cho chủ thể quyền tác giả thì dù các bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng thì TNDS được áp dụng đối với bên vi phạm luôn là TNDS ngoài hợp đồng. 12 TNDS do xâm phạm quyền tác giả có thể là hành vi xâm phạm quyền tài sản, có thể là hành vi xâm phạm quyền nhân thân. Hành vi xâm phạm quyền tài sản sẽ làm cho chủ thể quyền bị mất đi những lợi ích vật chất đáng lẽ ra họ được hưởng (tiền nhuận bút, thù lao...), mất đi độc quyền sử dụng tác phẩm dưới những hình thức do pháp luật quy định và hành vi xâm phạm quyền nhân thân gây ra tổn thất về tinh thần cho tác giả (danh dự, uy tín, nhân phẩm...). Các hành vi xâm phạm này đều được Luật SHTT quy định tại Điều 28. Qua những phân tích trên, ta có thể hiểu rằng: TNDS do xâm phạm quyền tác giả là một loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án hoặc chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả, phát sinh giữa các bên có quan hệ hợp đồng hoặc không có quan hệ hợp đồng, trong đó chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi,buộc các chủ thể này phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và phải bù đắp những tổn thất về vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại. 1.2.3. Đặc điểm trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả TNDS do xâm phạm quyền tác giả là một trong những loại trách nhiệm pháp lý nói chung nên giống như loại trách nhiệm pháp lý khác, nó cũng có những đặc điểm chung sau đây: - Chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là hành vi xâm phạm quyền tác giả và chỉ được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó; - Là một hình thức cưỡng chế của Nhà nước và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, trong đó cơ quan quan trọng nhất có quyền áp dụng tất cả các biện pháp dân sự để xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả là Tòa án; - Luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm pháp luật. Đó là chủ thể có hành vi vi phạm sẽ bị Tòa án: Buộc chấm dứt hành vi 13 xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ [38, tr.45]. Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật đều mang tính độc lập tương đối, có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng. Do vậy, ngoài những đặc điểm nêu trên, TNDS do xâm phạm quyền tác giả còn có những đặc điểm riêng biệt như: - Chủ thể chịu TNDS luôn là người (cá nhân, tổ chức) thực hiện hành vi vi phạm mà không có ngoại lệ. Đối với TNDS nói chung, thông thường người thực hiện hành vi vi phạm sẽ phải tự mình gánh chịu TNDS, nhưng trong một số trường hợp người gánh chịu TNDS không phải là người thực hiện hành vi vi phạm như Luận văn đã trình bày tại phần b mục 1.2.1 (trường hợp người của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân gây ra, trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại mà người đại diện theo pháp luật có lỗi trong việc quản lý). - Hành vi xâm phạm của chủ thể chịu TNDS là hành vi xâm phạm đến đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả bao gồm: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc (Điều 14 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009). 14
- Xem thêm -