Tổng quan về ngân sách nhà nước

  • Số trang: 52 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24780 tài liệu

Mô tả:

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH  ĐỀ ÁN MÔN HỌC LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Đề tài: TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Giáo viên hướng dẫn : TS. CAO Ý NHI Sinh viên thực hiện : NGÔ BÁ QUÝ Mã sinh viên : CQ492296 Lớp : TTCK 49 HÀ NỘI - 2010 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................1 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC ........................................2 1.1. Vai trò của ngân sách nhà nƣớc............................................................................2 1.1.1. Kích thích sự tăng trƣởng kinh tế ..................................................................2 1.1.2. Giải quyết các vấn đề xã hội..........................................................................3 1.1.3. Góp phần ổn định thị trƣờng giá cả, chống lạm phát ....................................3 1.2. Thu và chi của ngân sách nhà nƣớc ......................................................................3 1.2.1. Thu của ngân sách nhà nƣớc .........................................................................4 1.2.1.1. Xét theo nguồn hình thành các khoản thu ..............................................4 1.2.1.2. Xét theo tác dụng của các khoản thu với quá trình cân đối ngân sách .6 1.2.2. Chi của ngân sách nhà nƣớc ........................................................................13 1.2.2.1. Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước ................................................13 1.2.2.2. Phân loại các khoản chi ngân sách nhà nước ......................................14 1.2.3. Thâm hụt ngân sách nhà nƣớc .....................................................................25 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN. ..............................................................................................................27 2.1. Cân đối ngân sách nhà nƣớc từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trƣờng đến nay ...................................................................................................................................27 2.1.1. Thực trạng cân đối ngân sách nhà nƣớc Việt Nam giai đoạn (1991-1996) trƣớc khi có Luật ngân sách nhà nƣớc...................................................................27 2.1.2. Thực trạng cân đối ngân sách nhà nƣớc Việt Nam giai đoạn từ khi có Luật ngân sách nhà nƣớc cho đến nay ...........................................................................32 2.2. Các giải pháp hoàn thiện cân đối ngân sách nhà nƣớc .......................................34 2.2.1. Tăng cƣờng kiểm soát bội chi ngân sách nhà nƣớc và biện pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nƣớc đảm bảo vấn đề cân đối ngân sách nhà nƣớc ..................34 2.2.1.1. Tăng cường công tác kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước ..............34 2.2.1.2. Hoàn thiện biện pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nước đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước.....................................................................................35 2.2.2. Hoàn thiện biện pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nƣớc đảm bảo cân đối ngân sách nhà nƣớc ............................................................................................... 36 KẾT LUẬN ...................................................................................................................39 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................40 PHỤ LỤC Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi LỜI MỞ ĐẦU Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007 - 2008 thế giới lại chứng kiến một cuộc khủng hoảng khác cũng có ảnh hƣởng không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu, đó là cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp và đang lan rộng sang các nƣớc thuộc khối đồng tiền chung Euro. Vấn đề nợ công chính là một biểu hiện của sự thâm hụt ngân sách nhà nƣớc nặng nề. Từ đó em thấy đƣợc tính cấp thiết của việc nghiên cứu về Ngân sách nhà nước của nƣớc ta hiện nay để thấy đƣợc bài học kinh nghiệm rút ra từ các nƣớc châu Âu. Bài viết đƣợc trình bày nhƣ sau: lời mở đầu, nội cung chính và kết luận. Trong đó phần nội dung chính gồm hai phần: - Chƣơng 1: Khái quát về ngân sách nhà nƣớc - Chƣơng 2: Thực trạng cân đối ngân sách nhà nƣớc và hƣớng hoàn thiện Em xin chân thành cảm ơn những chỉ bảo tận tình và ý kiến đóng góp quý báu của TS. Cao Ý Nhi đã giúp em hoàn thành đề tài này. Do kiến thức và hiểu biết còn hạn chế nên em rất mong nhận đƣợc sự phản hồi từ phía cô giáo về bài viết này để em có thể hoàn thiện hơn đề tài của mình. Hà Nội, ngày 3 tháng 8 năm 2010 Ngô Bá Quý Sinh viên: Ngô Bá Quý 1 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Luật Ngân sách nhà nƣớc đã đƣợc Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kì họp thứ 9 thông qua ngày 20 - 3 - 1996 có ghi: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. 1.1. Vai trò của ngân sách nhà nƣớc Ngân sách nhà nƣớc có thể đƣợc xem nhƣ túi tiền của nhà nƣớc, đƣợc nhà nƣớc dùng cho chi tiêu, cho đầu tƣ của nhà nƣớc nhằm đáp ứng những mục tiêu đã đề ra của mình. Nhƣng không giống nhƣ những túi tiền bình thƣờng khác, ngân sách nhà nƣớc có quy mô rất lớn và đƣợc bổ sung thƣờng xuyên, liên tục; ngoài ra, nó không chỉ đƣợc sử dụng để phục vụ hoạt động của bộ máy nhà nƣớc mà còn là công cụ để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội mà nhà nƣớc đặt ra. 1.1.1. Kích thích sự tăng trưởng kinh tế Trƣớc hết là vai trò kích thích sự tăng trƣởng kinh tế. Ngân sách nhà nƣớc tác động đến chi tiêu chính phủ (G), và đầu tƣ (I), từ đó tác động đến tổng cầu: AD = C + G + I + NX Trong đó: AD là tổng cầu C là chi tiêu cá nhân G là tiêu dùng chính phủ I là đầu tƣ NX là xuất khẩu ròng. Sinh viên: Ngô Bá Quý 2 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi Nhà nƣớc có thể sử dụng ngân sách nhà nƣớc để tác động trực tiếp lên tổng cầu để kích thích nền kinh tế đang trì trệ hay làm giảm sức nóng của nền kinh tế, tùy theo mục tiêu của từng thời kỳ. 1.1.2. Giải quyết các vấn đề xã hội Bên cạnh đó, ngân sách nhà nƣớc còn đóng vai trò là một quỹ phúc lợi để giải quyết các vấn đề xã hội, giúp xóa đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giàu nghèo, tăng công bằng xã hội, bảo vệ môi trƣờng. Ngay trong khẩu hiệu thi đua của cả nƣớc: "Phấn đấu dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh" chúng ta đã thấy rõ tinh thần của Đảng và Nhà nƣớc, bên cạnh tăng trƣởng kinh tế thì Nhà nƣớc luôn quan tâm đến các vấn đề xã hội và môi trƣờng để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Và để làm đƣợc điều đó thì vấn đề phúc lợi xã hội ngày càng đƣợc xem trọng, Nhà nƣớc chi cho giáo dục, y tế, quốc phòng, dịch vụ công cộng ngày càng nhiều để từng bƣớc cải thiện nâng cao đời sống ngƣời dân. Nhƣ vậy có thể nói ngân sách nhà nƣớc cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc điều tiết các vấn đề xã hội. 1.1.3. Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát Ngoài ra thì ngân sách nhà nƣớc còn đƣợc sử dụng nhƣ là một công cụ để Nhà nƣớc can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế để bình ổn thị trƣờng, hƣớng đến phát triển bền vững. Trong cơ chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa nhƣ ở nƣớc ta hiện nay thì bàn tay hữu hình của Nhà nƣớc có vai trò hết sức quan trọng để góp phần điều chỉnh nền kinh tế đi đúng hƣớng, tránh việc tăng trƣởng quá nóng, ngoài tầm kiểm soát, tiềm ẩn nhiều rủi ro. 1.2. Thu và chi của ngân sách nhà nƣớc Sinh viên: Ngô Bá Quý 3 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi 1.2.1. Thu của ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nƣớc phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nƣớc sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dƣới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc. Nhƣ vậy, thu ngân sách nhà nƣớc bao gồm toàn bộ các khoản tiền đƣợc tập trung vào tay Nhà nƣớc để hình thành quỹ ngân sách nhà nƣớc đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc. Thu ngân sách nhà nƣớc bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách. Sau đây chúng ta sẽ xem xét các khoản thu trên các khía cạnh khác nhau: 1.2.1.1. Xét theo nguồn hình thành các khoản thu a) Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nƣớc là các nguồn tài chính có khả năng tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nƣớc do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nƣớc mang lại. Tùy theo đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn thu trong nƣớc có thể bao gồm: - Nguồn thu được hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất: Xét trên mọi góc độ, đây là nguồn thu quan trọng nhất. Về mặt tỷ trọng so với tổng số thu trong nƣớc, nguồn thu trong khâu sản xuất luôn chiếm một tỷ trọng lớn.Về ý nghĩa kinh tế, nguồn thu này là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự tăng trƣởng của nền kinh tế về quy mô hiệu quả. Mặt khác, sự tăng trƣởng của nguồn thu này còn có ảnh hƣởng to lớn đến nguồn thu của các khâu khác. Nguồn thu trong khâu sản xuất bao gồm: Nguồn thu từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản… Tùy theo từng giai đoạn lịch sử, tỷ trọng các Sinh viên: Ngô Bá Quý 4 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi khoản thu trong khâu sản xuất có thể thay đổi phụ thuộc vào định hƣớng phát triển các ngành kinh tế của đất nƣớc ở mỗi thời kì nhất định. - Nguồn thu được thực hiện trong khâu lưu thông phân phối Đặc điểm của nguồn thu này là chúng đƣợc tạo ra ở khâu sản xuất, song thực hiện một phần trong khâu lƣu thông phân phối. Nguồn thu này đƣợc thực hiện do kết quả của hoạt động giao lƣu hàng hóa trong và ngoài nƣớc, do việc mở rộng kinh doanh tiền tệ mang lại. Nguồn thu trong khâu lƣu thông phân phối tăng hay giảm phản ánh thực trạng giao lƣu hàng hóa trong và ngoài nƣớc, thực trạng hoạt động của ngành sản xuất và tình hình biến động của thị trƣờng tiền tệ. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nguồn thu trong khâu lƣu thông phân phối ngày càng trở nên quan trọng. Vì thế chúng ta cần biết quản lí và khai thác tốt nguồn thu này. - Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ. Nền kinh tế thị trƣờng ngày càng phát triển cao thì hoạt động dịch vụ cũng ngày càng phong phú và đa dạng. So với các hoạt động sản xuất, hoạt động dịch vụ thƣờng có chi phí thấp hơn, nhƣng mức doanh lợi thu đƣợc lại rất cao. Vì vậy các hình thức thu thích hợp với đặc điểm các hoạt động dịch vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không đơn thuần góp phần vào việc tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc mà còn góp phần quan trọng vào việc kiểm soát và hƣớng dẫn các hoạt động dịch vụ, đảm bảo phát triển cân đối giữa các ngành sản xuất với các hoạt động dịch vụ. b) Nguồn thu ngoài nƣớc Nguồn thu ngoài nƣớc bao gồm các khoản thu về vay nợ và viện trợ của nƣớc ngoài. Sinh viên: Ngô Bá Quý 5 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi Đặc điểm của nguồn thu này là gắn chặt với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và ngoại giao của đất nƣớc. Nguồn thu này thƣờng không ổn định và có tính chất bù đắp một phần trong quá trình cân đối ngân sách. 1.2.1.2. Xét theo tác dụng của các khoản thu với quá trình cân đối ngân sách a) Thu trong cân đối ngân sách nhà nƣớc Thu trong cân đối ngân sách nhà nƣớc bao gồm các khoản thu chủ yếu sau đây: - Thuế, phí và lệ phí. - Thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu nhà nƣớc. - Thu lợi tức cổ phần của nhà nƣớc. - Các khoản thu khác theo luật định.  Thu Thuế Khái niệm về thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nƣớc do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tƣợng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp. Do đó, tại thời điểm nộp thuế, ngƣời nộp thuế không đƣợc hƣởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem nhƣ đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nƣớc. Nhƣ vậy, thuế mang tính cƣỡng chế và đƣợc thiết lập theo nguyên tắc luật định. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nƣớc đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, các khoản thu này đƣợc bố trí sử dụng Sinh viên: Ngô Bá Quý 6 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi theo dự toán ngân sách nhà nƣớc đã đƣợc phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tƣ phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. Nhƣ vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc và các chủ thể khác trong xã hội. Phân loại thuế Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá phân tích quá trình vận dụng và quản lý các loại thuế đòi hỏi phải phân loại thuế.  Phân loại thuế theo tính chất: Với cách phân loại này thuế đƣợc chia thành hai nhóm lớn: - Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà nƣớc thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập đƣợc qui định nộp thuế. Đây là loại thuế mà ngƣời nộp thuế chính là ngƣời chịu thuế và họ không có khả năng thu hồi lại tiền thuế bằng cách chuyển gánh nặng thuế sang một ngƣời khác. Ví dụ nhƣ: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất … - Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lƣu chuyển trên thị trƣờng, là loại thuế mà ngƣời trực tiếp nộp thuế không phải là ngƣời chịu thuế, nó đƣợc cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ và ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế. Ngƣời nộp thuế gián thu chẳng qua là nộp hộ ngƣời tiêu dùng. Ví dụ nhƣ: V.A.T, thuế tiêu thụ đặc biệt…  Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: theo cách phân lọai này hệ thống thuế đƣợc chia thành: - Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Ví dụ: thuế giá trị gia tăng (V.A.T) Sinh viên: Ngô Bá Quý 7 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi - Thuế đánh vào sản phẩm. Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. - Thuế đánh vào thu nhập. Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. - Thuế đánh vào tài sản. Ví dụ: thuế nhà đất, thuế trƣớc bạ. - Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Ví dụ: thuế tài nguyên. Vai trò của thuế Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trƣởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và ngân sách nhà nƣớc, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, kích thích tăng trƣởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập.  Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi một loại thuế mà nhà nƣớc ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Trong nền kinh tế thị trƣờng vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc. Tuy nhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng trƣởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bởi vì chính sự tăng trƣởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế.  Vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế: là vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tƣ và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế. Sinh viên: Ngô Bá Quý 8 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi  Vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thị trƣờng, nếu không có sự can thiệp của nhà nƣớc, để thị trƣờng tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số ngƣời sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp. Thực tế, sự phát triển của một đất nƣớc là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọi ngƣời. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nƣớc vào qúa trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế. Sinh viên: Ngô Bá Quý 9 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi  Thu lệ phí và phí Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của ngân sách nhà nƣớc nhƣng có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Lệ phí: là khoản thu mang tính chất thuế vì nó vừa mang tính cƣỡng bách đƣợc qui định trong những văn bản pháp luật của nhà nƣớc nhƣng đồng thời nó lại mang tính chất phục vụ cho ngƣời nộp lệ phí về việc nhà nƣớc thực hiện một số thủ tục hành chính nào đó. Ví dụ: lệ phí trƣớc bạ, lệ phí tòa án, lệ phí cấp giấy phép xây dựng, lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng… Phí: là khoản thu mang tính chất thuế, là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi phí thƣờng xuyên và không thƣờng xuyên về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho ngƣời nộp phí. Phí có hai loại: thứ nhất, các loại phí mang tính phổ biến do chính phủ qui định; thứ hai, các loại phí mang tính địa phƣơng, ví dụ: học phí, viện phí, phí giao thông, phí cầu đƣờng….  Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước Trong nền kinh tế thị trƣờng nhà nƣớc tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc đầu tƣ vốn vào sản xuất kinh doanh dƣới hình thức góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần. Số vốn đầu tƣ của nhà nƣớc vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nói trên sẽ sinh lời và lợi tức thu đƣợc sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà nƣớc, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Các khoản thu này phản ảnh hoạt động kinh tế đa dạng của nhà nƣớc, bao gồm: Sinh viên: Ngô Bá Quý 10 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi - Thu từ việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nƣớc trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh. - Thu từ việc bán tài sản của nhà nƣớc đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trƣớc đây. - Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách nhà nƣớc. - Thu từ việc bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nƣớc cho các thành phần kinh tế khác. - Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên. b) Thu để bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách nhà nƣớc Trong quá trình điều hành ngân sách, các chính phủ thƣờng có nhu cầu chi nhiều hơn số tiền thu đƣợc và việc cắt giảm các khoản chi rất là khó khăn vì liên quan đến các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội …. Do đó, bắt buộc chính phủ phải tính tới các giải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nƣớc. Giải pháp thƣờng đƣợc chính phủ sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nƣớc và vay nƣớc ngoài:  Vay trong nước Vay nợ trong nƣớc đƣợc chính phủ thực hiện dƣới hình thức phát hành công trái. Công trái là chứng chỉ nhận nợ của nhà nƣớc, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nƣớc phát hành để vay dân cƣ, các tổ chức kinh tế xã hội và ngân hàng. Ở Việt Nam chính phủ thƣờng ủy nhiệm cho Kho Bạc nhà nƣớc phát hành trái phiếu chính phủ dƣới các hình thức: Sinh viên: Ngô Bá Quý 11 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi - Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dƣới một năm, đƣơc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách nhà nƣớc trong năm tài chính. - Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm đƣợc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nƣớc xuất phát từ yêu cầu đầu tƣ phát triển kinh tế. - Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm và đƣợc phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã đƣợc ghi trong kế hoạch đầu tƣ của nhà nƣớc. Đối với Việt Nam, công trái là hình thức huy động vốn có hiệu quả, qua các đợt phát hành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trả hợp lý đã huy động đƣợc nguồn vốn to lớn vào ngân sách nhà nƣớc đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc góp phần chống lạm phát và ổn định nền kinh tế xã hội.  Viện trợ và vay nợ nƣớc ngoài - Viện trợ nước ngoài: bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trƣờng quốc tế. Viện trợ nƣớc ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nƣớc nhằm thực hiện các chƣơng trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA). Nguồn viện trợ này đƣợc các tổ chức quốc tế chủ động phân bổ theo những tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các Sinh viên: Ngô Bá Quý 12 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi loại quỹ chung hoặc do các tổ chức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ ủy thác trên cơ sở các dự án xây dựng trƣớc của nƣớc nhận viện trợ. Nhìn chung, viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụt trong nƣớc, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây là các nƣớc nhận viện trợ cần có phƣơng án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả. - Vay nợ nước ngoài: là những khoản cho vay của nƣớc ngoài theo điều kiện thƣơng mại và lãi suất thị trƣờng. Vay nƣớc ngoài có thể thực hiện dƣới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nƣớc ngoài, vay bằng hình thức tín dụng xuất khẩu (khi nhà nƣớc mua hàng của nƣớc ngoài nhƣng đƣợc hoãn trả nợ trong một thời gian nhƣng phải chịu lãi suất trên khoản nợ đó) và vay từ các ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài. Cũng giống nhƣ nguồn vốn viện trợ, vay nợ nƣớc ngoài là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Điểm khác nhau là do vay theo điều kiện thƣơng mại phải chịu lãi suất tƣơng đối cao, vì vậy việc tính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, khoản vay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách. 1.2.2. Chi của ngân sách nhà nước 1.2.2.1. Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước Chi của ngân sách nhà nƣớc là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nƣớc theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Sinh viên: Ngô Bá Quý 13 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi Thực hiện việc chi ngân sách nhà nƣớc là việc cung cấp các phƣơng tiện tài chính cho các nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Song việc cung cấp này có những đặc thù riêng: - Thứ nhất, chi ngân sách nhà nƣớc luôn gắn chặt với nhiệm vụ kinh tế, chính trị xã hội mà Chính phủ phải đảm nhận trƣớc mỗi quốc gia. Mức độ, phạm vi chi tiêu của ngân sách nhà nƣớc phụ thuộc vào tính chất, nhiệm vụ của chính phủ trong mỗi thời kỳ. - Thứ hai, tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nƣớc đƣợc thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội, chính trị và ngoại giao. Chính vì vậy, trong công tác quản lý tài chính, một yêu cầu đặt ra là cần sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lƣợng, đồng thời phải có quan điểm toàn diện và đánh giá tác dụng ảnh hƣởng của các khoản chi phí ở tầm vĩ mô. Thứ ba, xét về mặt tính chất thì phần lớn các khoản chi ngân sách nhà nƣớc đều là các khoản cấp phát, không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp. Chính vì vậy các nhà quản lý tài chính cần phải có sự phân tích, tính toán cẩn thận trên nhiều khía cạnh trƣớc khi đƣa ra quyết định chi tiêu để tránh đƣợc những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả của chi tiêu ngân sách nhà nƣớc. 1.2.2.2. Phân loại các khoản chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách, một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Chi ngân sách bao gồm chi cho đầu tƣ phát triển (tích lũy), chi tiêu dùng thƣờng xuyên và chi trả nợ gốc tiền chính phủ vay.  Chi đầu tư phát triển kinh tế Sinh viên: Ngô Bá Quý 14 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi Một trong các chức năng quan trọng của nhà nƣớc là chức năng tổ chức kinh tế. Chức năng này trong cơ chế thị trƣờng ở nƣớc ta hiện nay đƣợc thể hiện bằng vai trò của nhà nƣớc trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Ngân sách nhà nƣớc với các vai trò của nó đƣợc coi là một công cụ quan trọng trong việc thực hiện chức năng nói trên của nhà nƣớc. Chi đầu tƣ phát triển là những khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế. Chi đầu tƣ phát triển đƣợc cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ƣơng và một bộ phận đáng kể của ngân sách địa phƣơng và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây: - Chi đầu tư xây dựng cơ bản: là khoản chi tài chính nhà nƣớc đƣợc đầu tƣ cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lƣợng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lƣợc, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp và tƣ nhân nhằm mục đích tăng trƣởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời dân. - Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước: là khoản chi gắn liền với sự can thiệp của nhà nƣóc vào lĩnh vực kinh tế. Với khoản chi này một mặt nhà nƣớc bảo đảm đầu tƣ vào một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh cần thiết tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội, mặt khác nhằm hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý. Sinh viên: Ngô Bá Quý 15 Mã SV: CQ492296 Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: TS. Cao Ý Nhi - Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước: trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam các công ty cổ phần đƣợc hình thành thông qua quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp quốc doanh hoặc thành lập mới. Các doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau. Các doanh nghiệp này tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế kể cả ở những lĩnh vực có vị trí trọng yếu ảnh hƣởng lớn đến nền kinh tế. - Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển: Quỹ hỗ trợ đầu tƣ quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển quốc gia là những tổ chức tài chính có tƣ cách pháp nhân, thực hiện chức năng huy động vốn và tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nƣớc để cho vay đối với các chƣơng trình, dự án phát triển các ngành nghề thuộc diện ƣu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của chính phủ (chƣơng trình đánh bắt xa bờ, chƣơng trình phát triển kinh tế biển, phát triển rừng …). Trong quá trình hình thành và hoạt động của các quỹ này đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp vốn điều lệ ban đầu và bổ sung vốn hàng năm để thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao. - Chi dự trữ nhà nước: Dự trữ quốc gia cho phép duy trì sự cân đối và ổn định trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của nền kinh tế và trong những trƣờng hợp nhất định cho phép ngăn chặn, bù đắp các tổn thất bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động của các quy luật kinh tế có thể dẫn đến những biến động phức tạp không có lợi cho nền kinh tế hoặc xảy ra thiên tai đòi hỏi phải có một khoản dự trữ giúp nhà nƣớc điều tiết thị trƣờng, khắc phục hậu quả. Khoản dự trữ này đƣợc hình Sinh viên: Ngô Bá Quý 16 Mã SV: CQ492296
- Xem thêm -