Tổng quan về ngân hàng thương mại

  • Số trang: 11 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NHTM Đề tài : TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Giáo viên hướng dẫn : TS Lai Tiến Dĩnh Học viên thực hiện : Bùi hồng Huệ Lớp cao học Khóa 17 NH4 Ngay 1 TP. Hồ chí Minh 2009 MỤC LỤC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1/ Định nghĩa Ngân hàng thương mại 1.2/ Chức năng của NHTM 1.3/ Phân loại NHTM 1.4/ Các hoạt động chủ yếu của NHTM 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG : 2.1/ Phân tích thưc trạng hoạt động của hệ thống NHTM trong thời gian qua 2.2/ Những thành công trong hoạt động của hệ thống NHTM. 2.3/ Những nhược điểm cần khắc phục của một số NHTM. 3.GIẢI PHÁP : 3.1/ Giải pháp về hoàn thiện phát triển hệ thống NHVN. 3.2/ Giải pháp đối với từng hoạt động của ngân hàng. 3.3/ Giải pháp đối với chính phủ, ý kiến đối với NHNN. 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN : 1.1/ Định nghĩa Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương Mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt đông khác có liên quan. Vậy để nắm rõ NHTM thì phải rõ Tổ chức tín dụng được định nghĩa như thế nào. Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt đông kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Cần phân biệt tổ chức tín dụng Ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng, vì tổ chức tín dụng phi ngân hàng không hoạt đông như ngân hàng thương mại. 1.2/ Chức năng Ngân hàng thương mại : - Chức năng trung gian tài chính : Thực hiện chức năng này ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ bao gồm : nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt đông môi giới khác. Từ trung gian có thể hiểu theo 2 ý nghĩa : Trung gian giữa các khách hàng với nhau : Vi dụ NHTM làm trung gian giữa người vay tiền và người gửi tiền, hay trung gian giữa người trả tiền và người nhận tiền, trung gian giữa người mua và người bán ngoại tệ. Trung gian giữa ngân hàng Trung ương và công chúng, vì hiện nay tại Việt nam NH Trung ương không có giao dịch trực tiếp với công chúng mà chỉ giao dịch với NHTM, trong khi các NHTM vừa giao dịch với NH Trung ương vừa giao dịch với công chúng. - Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối lượng tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế. - Chức năng sản xuất của NHTM : Chức năng trung gian tài chính và chức năng tạo tiền là hai chức năng cơ bản của NHTM song gần nay nhiều nhà quản trị ngân hàng còn đề cập đến chức năng “ sản xuất “ của NHTM, bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra “ sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Trong kinh tế học sản xuất được định nghĩa như là quá trình sử dụng các yếu tố nhập lượng để tạo ra sản phẩm, song đối với NHTM thì các yếu tố nhập lượng có tính chất đặc biệt : Đất đai dùng thuê trụ sở, lao động của NHTM là lao động có kỹ năng, lao động được đào tạo ở một trình độ nhất định, Vốn sử dụng chính là nguồn vốn huy động của khách hàng, và đặc biệt chưa có loại hình doanh nghiệp nào có tỷ lệ nợ trên vốn cao như NHTM. Theo đó các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra để cung cấp cho khách hàng bao gồm: Các sản phẩm huy động vốn như tiền gửi và chứng từ có giá các loại. Các sản phẩm cấp tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân , cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, cho thuê tài chính. Các sản phẩm thẻ như thẻ tín dụng thẻ ghi nợ, thẻ ATM Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế. Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như các hợp đồng giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau, quyền chọn. 1.3/ Phân loại NHTM : -Dựa vào hình thức sở hữu có thể phân loại NHTM thành : * NHTM nhà nước : là NHTM do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của nhà nước. Trong hệ thống NHTM ở VN hiện nay có 6 ngân hàng được xếp vào loại NHTM nhà nước bao gồm : Ngân hàng Nông ngiệp và phát triển nông thôn VN, NH Công Thương VN, NH Đầu Tư và phát triển VN, NH Ngoại Thương VN, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cữu Long, Ngân hàng chính sách xã hội VN. * NHTM CP : Là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có các doanh nghiệp Nhà Nước, Tổ chức Tín Dụng, tổ chức khác và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của NHNN. Loại hình Ngân hàng này hiện tại nhỏ hơn ngân hàng thương mại nhà nước về quy mô nhưng về số lượng thì nhiều hơn và ngày càng tỏ ra năng động và nhanh chóng đổi mới công nghệ nhằm mục tiêu hội nhập. NHTMCP còn được chia thành NHTMCP đô thị có vốn pháp định lớn và hoạt đông chủ yếu ở thành thị và NHTMCP nông thôn có vốn pháp định nhỏ và chủ yếu hoạt đông ở nông thôn. * Ngân hàng liên doanh : là Ngân hàng thành lập bằng vốn góp của bên VN và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng liên doanh là một pháp nhân VN, có trụ sở chính tại VN, hoạt đông theo giấy phép thành lập và theo các quy định liên quan của pháp luật. * Chi nhánh Ngân hàng Nước Ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của NH Nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại VN. Chi nhánh Ngân Hàng Nước ngoài có quyền và nghĩa vụ do pháp luật VN quy định, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và các quy định liên quan của pháp luật VN.Loại hình này xuất hiện càng nhiều kể từ khi VN đổi mới và hội nhập kinh tế. - Dựa vào chiến lược kinh doanh : Dựa vào tiêu thức chiến lược kinh doanh và mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng có thể chia NHTM thành ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ và ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ. * Ngân hàng bán buôn : Là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng là công ty chứ khong giao dịch với khách hàng cá nhân. Đại đa số các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài hoạt động theo loại hình này. Nhưng hiện nay các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được phép giao dịch và cung ứng dịch vụ ngân hàng bán lẻ. * Ngân hàng bán lẻ : Là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng là cá nhân. Loại hình này thường thấy ở các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn. * Ngân hàng vừa bá buôn vừa bán lẻ : Là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả đối tượng khách hàng là công ty lẫn khách hàng cá nhân. Hầu hết các NHTMVN đều thuộc loại hình ngân hàng này. Gần nay các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng bắt đầu giới thiệu rông rãi các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho các khách hàng cá nhân. - Dựa vào quan hệ tổ chức : Dựa vào tiêu thức quan hệ tổ chức, có thể chia ngân hàng thong mại thành ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh (cấp 1 và cấp 2) và phòng giao dịch. Ngân hàng hội sở là nơi tập trung quyền lực cao nhất và là nơi cung cấp đầy đủ hơn các dịch vụ ngân hàng, trong khi ngân hàng chi nhánh và phòng giao dịch nhỏ hơn và cung cấp không đầy đủ tất cả các giao dịch mà chỉ tập trung vào các giao dịch cơ bản như huy động vốn, thanh toán và cho vay. 1.4/ Các hoạt động chủ yếu của NHTM : * Hoạt động huy động vốn * Hoạt động cấp tín dụng *Hoạt động dịch vụ thanh toán * Hoạt độngn ngân quỹ * Cá hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng. 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG : 2.1/ Sáu tháng đầu năm 2008 chúng ta đối mặt với lạm phát cao, khiến tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam xấu đi, thanh khoản của hầu hết các NHTM đều gặp khó khăn Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh yếu khi họ đối mặt với những yếu tố không thuận lợi từ nền kinh tế, bên cạnh những yếu kém về kỹ năng quản lý làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và doanh nghiệp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đồng vốn của ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Trong giai đoạn này để ngăn chặn lạm phát Chính phủ đã có những nổ lực hết mình cho việc chống lạm phát với một chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khống chế chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ngành ngân hàng trong năm 2008 không quá 30% chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẻ cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng, một loạt những biện pháp được thực hiện đã khiến hoạt động của các NHTM ảnh hưởng nặng nề, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong hoạt động cac NHTM đã thi nhau tăng lãi suất bằng mọi giá dưới nhiều hình thức và từ đó kéo theo hàng loạt những tình huống cạnh tranh không mang lại hiệu quả trong hệ thống NHTM . Nếu như những biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ liên tệ liên tiếp, lãi suất tăng nhanh hồi đầu năm khiến cả ngân hàng và doanh nghiệp lao đao thì tới nay việc nới lỏng liên tiếp dẫn đến lãi suất thị trường giảm nhanh, chỉ có ngân hàng chịu thiệt thòi. Tuy nhiên việc giảm lãi suất bằng lãi suất thị trường trong thời gian qua phần lớn là do bản thân các ngân hàng chủ động tiến hành do thừa vốn tạm thời và không cho vay được ở mức lãi suất cao. Đối với doanh nghiệp, việc ngân hàng nhà nước điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản đã khiến nhiều doanh nghiệp có tâm lý chờ đợi lãi suất vay sẽ còn xuống thấp hơn, do kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được nới lỏng. Cac động thái hổ trợ của ngân hàng nhà nước như giảm lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng, tỷ lệ dự trử bắt buộc sẽ tiết giảm chi phí đầu vào cho các ngân hàng. Tuy nhiên khoản chi phí đó là không đáng kể so với chi phí cho lượng vốn tồn đọng hiện nay do các ngân hàng đang ôm đồm do trước đó đã huy động với lãi suất quá cao, có nới trên 18% một năm. Vì vậy để đưa được lãi suất cho vay về mức thấp, các ngân hàng cần phải giảm mạnh lãi suất huy động. 2.2/ Vào đầu năm 2008 số vốn điều lệ của các NHTMVN đã được NHNN cấp phép tăng lên khoảng 30% so với năm 2007. Trong đó tổng vốn điều lệ của các NHTMQD đạt khoảng 25.000 tỷ đồng, khối các NHTMCP đạt 35.000 tỷ đồng. Về tài sản NHTMVN đã có những bước tiến đáng kể về việc tăng tài sản, tăng hơn gấp 2 lần so với năm 2.000, không chỉ tập trung tài sản chủ yếu của các NHTM Nhà Nước mà các NHTMCổ Phần đã dần chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng tải sản của toàn hệ thống ngân hàng. Theo thống kê của NHNN, đến năm 2008, sáu ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hiện nay theo thứ tự : Agribank, VCB, BIDV, Vietinbank, ACB, STB, điều này cho thấy sự vươn lên mạnh mẽ của từng NHTM trong quá trình hội nhập kinh tế. Về mạng lưới : các NHTMVN đã có sự phát triển nhanh về quy mô hoạt động. Năm NHTMNN chiếm thị phần khoản 56,9%, 1 ngân hàng phát triển, 1 ngân hàng chính sách chiếm khoản3,3% thị phần, 37 NHTMCP chiếm 26,5% thị phần, 31 ngân hàng nước ngoài, 6 ngân hàng liên doanh chiếm 9.4% thị phần, 10 công ty tài chính,12 công ty cho thuê tài chính các qũy TDND chiếm 3,9%, 46 văn phòng đại diện của các TCTD nước ngoài…và một hệ thống các phòng giao dịch góp phần triển khai rộng rãi các dịch vụ thuận tiện cho nhu cầu đa dạng của khách hàng. Về công nghệ: Công nghệ ngân hàng đã có những bước phát triển đáng kể trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các dịch vụ ngân hàng hiện đại như : có thể gửi tiền ở một nơi và rút tiền tại nhiều nơi bằng hệ thống mạng online trực tuyến, dịch vụ thanh toán điện tử, thông tin về tài khoản được gửi đến khách hàng qua dịch vụ trên internet, qua mobile, việc sữ dụng thanh toán thẻ tăng nhanh chóng, một số ngân hàng đã đẩy mạnh công nghệ theo chiều sâu, phù hợp với xu hướng phát triển của CNTT. Năm 2008 với 38% người dân có tài khoản ngân hàng, 87% trong số họ giao dịch thẻ ATM và 9% có thẻ creditcard Về phát triển sản phẩm mới: Nhiều ngân hàng đã chú trọng phát triển dịch vụ ngân hàng bán le tiện ích, hiện đại đặc biệt cho các khách hàng cá nhân: Tăng tiên ích của tài khoản cá nhân như có thể thấu chi trên tài khoản Đa dạng hóa các dịch vụ cá nhân như mua ô tô xe du lịch kinh doanh, dịch vụ mua nhà trả góp cũng đang phát triển mạnh ở các đô thị Gia tăng tính lợi ích về dịch vụ tài khoản cho khách hàng dựa trên công nghệ ngân hàng hiện đại: Internetbanking, Mobile Banking, dịch vụ bán lẻ và chuyển tiền kiều hối Về mô hình tổ chức của nhiều ngân hàng đang chuyển đổi theo hướng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế : VCB cơ cấu lại khối tín dụng hướng tới khách hàng và tập trung quản trị rủi ro và nhiều ngân hàng đang xây dựng lộ trình để chuyển đổi sanh tập đoàn tài chính đa năng hoạt động trên lĩnh vực đầu tư : NHTM, NHĐT,Bảo hiểm. 2.3/ Những điểm yếu ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bên vững của hệ thống ngân hàng Việt nam nói riêng cũng như nền tài chính quốc gia nói chung. Năng lực tài chính của hệ thống NHTMVN vẫn còn rất non yếu, vốn điều lệ của một số NHTMCP còn rất thấp. Vốn điều lệ thấp sẽ hạn chế khả năng của HTNHVN trong việc mở rộng quy mô hoạt đông và tăng trưởng dư nợ tín dụng. Số lượng sản phẩm dịch có tăng song chất lượng chưa cao. Tiền gửi của khách hàng vẫn chiếm tỷ trong chủ yếu trong tổng nguồn vốn huy đông, và đối với đầu ra thì tín dụng vẫn phổ biến và chiếm tỷ trọng cao nhât ở hầu hết các ngân hàng. Sự phát triển quá nhanh chóng trong hệ thống ngân hàng cũng tiềm ẫn nhiều hạn chế, cạnh tranh không thúc đẩy tăng hiệu quả cho hệ thống mà diễn ra manh mún, nguồn nhân lực phù hợp chưa đủ đáp ứng . Đặc biệt trong giai đoạn lạm phát vừa qua một phần không nhỏ do việc mở rộng quá mức và mỗi nơi đều thúc đẩy tăng trưởng tín dụng một cách tràn lan và kém hiệu quả. Gia nhập WTO cũng đặt các NHTMVN trước nguy cơ phải đối mặt với nhiều rủi ro thị trường (như rủi ro về lãi suất, rủi ro về tỷ gía) và cả rủi ro hệ thống. Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, trình độ quản trị rủi ro của các NHTMVN hiện rất sơ khai, nhiều nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro chưa được áp dụng, hệ thống quản trị rủi ro thị trường hoạt động còn yếu. 3. GIẢI PHÁP 3.1/ Nâng cao năng lực tài chính cho hệ thống NHTMVN, đối với các NHTM cần đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa, lựa chọn các đối tác chiến lược sớm đưa cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước và TTCK khu vực để tăng vốn tự có. Đối với các NHTMCP cần tiếp tục xem xét sắp xếp lại theo hướng tăng cường liên kết giữa các ngân hàng có quy mô nhỏ, những ngân hàng không đáp ứng đủ yêu cầu hội nhập cần xem xét cho giải thể hoặc sát nhập. Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm dịch vụ cung cấp đến khách hàng, tránh việc tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng mà xem nhẹ các sản phẩm dịch vụ. Nâng cao kỹ năng quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ có . Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, tăng cường khả năng bảo mật bằng cách lưa chọn và áp dụng những công nghệ tiên tiến phù hợp kịp thời, từ đó ngân hàng mới có thể đáp ứng được nhu cầu mở rộng sản phẩm dịch vụ đa dạng của mình đến với khách hàng. Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn, đó là gắn hoạt động của khách hàng với hoạt động của ngân hàng khi xây dựng chiến lược phát triển của ngân hàng. Tạo ra một hệ thống ngân hàng an toàn và đáng tin cậy Tiến hành mua ban một số sản phẩm có giá trị phải thông qua tài khoản ngân hàng, không sử dụng tiền mặt. Mở rông mạng lưới các ngân hàng đem lại sự tiện lợi và giới thiệu các kênh tiên tiến qua dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Ngành ngân hàng cũng như bất kỳ ngành sản xuất mà ở đó nếu có quá ít người tham gia sẽ không có đủ quy mô, chi phí và kỹ năng. Thêm vào đó ngân hàng phải có trách nhiệm bảo đảm tiền gửi và nếu nguồn tiền đó không mang lại hiệu quả sẽ gay mất niềm tin trong toàn hệ thống ngân hàng nói chung, do vậy cần có những ngân hàng vững mạnh về vốn , mạng lưới và con người, nghĩa là về chất chứ không phải về lượng. Đó cũng là hướng đi tích cực hơn cho sự phát triển của ngành ngân hàng VN. 3.2/Duy trì và giữ vững mối quan hệ lâu dài đối với khách hàng và luôn có những chính sách ưu đãi về lãi suất, tỷ giá, tín dụng , thanh toán quốc tế. Phát triển kỹ năng tiếp thị và chăm sóc khách hàng : Xây dựng và triển khai mô hình tổ chức kinh doanh theo định hướng khách hàng, tổ chức khảo sát thị trường, thị hiếu của khác hàng từ đó có chiến lược phát triển hoàn thiện nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vu, việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp sẽ mở ra cho các ngân hàng một thị trường cho vay tiềm năng bậc nhất. Hiện nay khối doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là đối tượng khách hàng trọng tâm được nhắm đến của nhiều ngân hàng trong và ngoài nước, và thực tế hàng loạt các ngân hàng đang muốn vươn lên vị trí hàng đầu trong sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách hàng vừa và nhỏ. Môt điều dễ nhận thấy đó là giờ nay không phải doanh nghiệp mà là ngân hàng chủ động tìm khách hàng và đầu ra cho đồng vốn của mình. Cần thực hiện tốt chức năng tư vấn tài chính cho doanh nghiệp, như phần lý luận trên ta đã nêu, chức năng này hếtt sức có lợi song ta chưa phát huy phổ biến ở các ngân hàng, theo nhận định chung của các doanh nghiệp, doanh nghiệp và ngân hàng luôn có mối quan hệ chặt chẻ gắn bó với nhau. Việc xác định một ngân hàng đối tác trong việc hổ trợ kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò và tầm quan trọng rất lớn. Nếu chọn được một ngân hàng thích hợp, am hiểu hoat động kinh doanh cũng như những nhu cầu thì đó sẽ là sự hỗ trợ rất lớn cho thành công của doanh nghiệp. Ngân hàng không chỉ đơn thuần cung cấp dịch vụ mà cần giúp doanh nghiệp xác định dịch vụ nào cần thiết cho họ. Ngân hàng có thể tư vấn giúp doanh nghiệp xác định đâu là giải pháp đúng đắn để có khả năng sinh lợi cao nhất, tìm hiểu rõ những khó khăn của doanh nghiệp trước khi giới thiệu các giải pháp xử lý. Quan tâm đào tạo và động viên nguồn nhân lực đóng góp hiệu quả cho hoạt đông ngân hàng qua cơ chế tiền lương tiền thưởng hợp lý. 3.3/ Với vai trò thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mọi mặt hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đồng thời thực hiện vai trò của ngân hàng trung ương trong điều hành chính sách của chính phủ và quốc hội đề ra Hoàn thiện hệ thống thể chế và pháp luật tránh sự chồng chéo giữa các luật các quy định về ngân hàng với các luật và quy định khác ở cấp quốc gia và quốc tế. Nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ trên cơ sở dự báo diễn biến của thị trường tiền tệ, hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính Rà soát hệ thống các cơ chế, chính sách trong hoạt động ngân hàng, hạn chế dần và tiến tới xóa bỏ tình trạng bảo hộ bao cấp của Nhà nước trong lãnh vực kinh doanh tiền tệ nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẵng. TÀI LIỆU THAM KHẢO : Nghiệp Vụ Ngân hàng Hiện Đại Thông Tin Thương Mại
- Xem thêm -