Tồng quan về ngân hàng quốc tế

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 62 |
  • Lượt tải: 1
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ[ CHÍ MINH HỆ ĐÀOTẠO SAU ĐẠI HỌC ------------------------------------ Môn học: Ngân Hàng Quốc Tế Đề tài: TỒNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Trương Thị Hồng Khóa 22 – Lớp Đêm 1 – Nhóm 1 Danh sách nhóm 1. Nguyễn Thị Dung 2. Bùi Thị Thu Thủy 3. Nguyễn Thị Hoài Thương 4. Nguyễn Phạm Nhã Trúc 5. Lê Thị Kim Tuyên 6. Võ Thị Bích Trâm TP.HCM, Tháng 01 năm 2014 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ: ................................................. 3 1. Khái niệm: ...................................................................................................... 3 2. Phân loại: ........................................................................................................ 3 3. Lịch sử phát triển của dịch vụ ngân hàng quốc tế : ...................................... 3 4. Các dịch vụ Ngân hàng quốc tế: .................................................................... 5 5. Đặc điểm của các dịch vụ ngân hàng quốc tế:............................................... 5 II. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ NGÀY NAY: ................................. 6 1. Các hình thức tổ chức Ngân hàng quốc tế: ................................................... 6 2. Sự phát triển của các trung tâm tài chính quốc tế :...................................... 6 3. Vai trò của Ngân hàng Quốc tế hiện nay ..................................................... 16 III. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM: ............................................................ 17 1. Dịch vụ ngân hàng đại lý: ............................................................................ 17 2. Dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế: ....................................................................... 18 3. Dịch vụ thanh toán quốc tế: ......................................................................... 20 4. Các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác: .......................................................... 21 Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 2 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ: 1. Khái niệm: Có nhiều ý kiến khác nhau về việc hiểu thế nào là ngân hàng quốc tế. Có nguời hiểu là ngân hàng có các chi nhánh hoạt động ở nước ngoài. Một định nghĩa khác lại lấy đồng tiền sử dụng trong giao dịch làm cơ sở phân loại ngân hàng quốc tế với ngân hàng nội địa. Trong đó, một ngân hàng vẫn chỉ được coi là ngân hàng nội địa nếu tiền gửi cho dù của khách hàng nước ngoài gửi vào ngân hàng đó là đồng nội tệ. Định nghĩa thứ ba về ngân hàng quốc tế xuất phát từ quốc tịch của khách hàng và của ngân hàng. Nếu quốc tịch của khách hàng và ngân hàng khác nhau thì ngân hàng đó được coi là ngân hàng quốc tế. Tóm lại, yếu tố thực chất quyết định một ngân hàng là quốc tế hay không bao gồm: 1. Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng quốc tế. 2. Ngân hàng là một ngân hàng đa quốc gia. Vì thế, chúng ta có thể định nghĩa rằng: “ ngân hàng quốc tế là ngân hàng thực hiện các giao dịch đan chéo nhau giữa nhiều quốc gia hoặc ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ xuyên biên giới của các quốc qua” 2. Phân loại: Có hai loại chính của Ngân hàng quốc tế:  Foreign banking bao gồm các giao dịch với người không cư trú bằng đồng tiền nội tệ tạo điều kiện cho tài trợ thương mại.  Eurocurrency banking bao gồm các ngân hàng cung cấp các giao dịch ngoại hối (huy động và cho vay) với các khách hàng là người cư trú và người không cư trú. 3. Lịch sử phát triển của dịch vụ ngân hàng quốc tế : Hoạt động ngân hàng quốc tế có nguồn gốc từ thế kỷ 13, nhưng thực sự tăng trưởng từ giữa những năm 70 của thế kỷ 20 khi các ngân hàng phương Tây lớn đã thiết lập rất nhiều chi nhánh hoạt động tại các quốc gia khác. Vào thế kỷ 19, các nước thực dân đã mở rộng thuộc địa của mình, tìm kiếm thị trường ngoài lãnh thổ của mình. Các ngân hàng thương mại của Anh và Pháp đã thiết lập nhiều chi nhánh ở nước ngoài. Mạng lưới chi nhánh của họ bao trùm trên lãnh thổ Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 3 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Châu Âu và các vùng lãnh thổ thuộc địa. Ngân hàng Đông Phương của Anh thành lập tại Trung Quốc, ngân hàng Đông Dương của Pháp thành lập ở Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước Châu Âu rất cần tiền để tái thiết nền kinh tế bị hủy hoại nặng nề bởi chiến tranh và Mỹ là nhà tài trợ chính. Ngoài sự tăng trưởng chưa từng có về đầu tư và thương mại quốc tế trên thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2 đã dẫn đến sự phát triển không ngừng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại. Với các hiệp định “Land Bank”, “Marshall”, các ngân hàng Hoa Kỳ đã cho nước ngoài vay hàng chục tỷ USD. Rất nhiều ngân hàng thương mại Hoa Kỳ, trong thập niên 60, tăng lên nhanh chóng về quy mô đã đưa đến chủ trương mở rộng nghiệp vụ ngân hàng ra nước ngoài ( cả các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển), đó là phản ứng tự nhiên của việc phát triển nghiệp vụ trong nước và đáp ứng nhu cầu tham gia vào thị trường tài chính quốc tế và những đổi mới trong lĩnh vực này đã tạo ra rất nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới. Lịch sử phát triển ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế thứ nhất. Một vài thập kỷ sau thế chiến thứ 2 kết thúc, bên cạnh sự phát triển kinh tế vượt bậc của Mỹ, các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Đức,… các nước tư bản khác như Canada và đặc biệt là Nhật cũng giành được những thành tựu kinh tế quan trọng. Lẽ tất yếu khi kinh tế phát triển kéo theo việc các ngân hàng của các quốc gia công nghiệp hóa, đặc biệt là ngân hàng các nước Canada, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp cũng theo gương của các ngân hàng Hoa Kỳ ra sức mở rộng nghiệp vụ của mình ra nước ngoài trong thập kỷ 70. Lịch sử ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế lần thứ hai. Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư bàn, còn có một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang phát triển diễn ra bình lặng và cuối thập kỷ 70. Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra đời đạo luật nhất thể hóa Châu Âu ban hành vào năm 1986, trong đó Cộng đồng Châu Âu xóa bỏ mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo điều kiện cho dịch vụ ngân hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và số lượng và vì vậy các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hóa. Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 4 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế 4. Các dịch vụ Ngân hàng quốc tế: - Dịch vụ chuyển tiền và quản lý tiền mặt. - Tín dụng quốc tế: Ngân hàng quốc tế cung cấp các khoản vay cho các khách hàng quốc tế của họ đối bằng một số loại tiền nhất định với các điều kiện khác nhau (cố định hoặc thả nổi lãi suất, bảo đảm hoặc không có bảo đảm) đối với các kỳ hạn khác nhau. - Cho vay hợp vốn: Hai hoặc nhiều ngân hàng cùng cho vay đối với một doanh nghiệp. - Các giao dịch ngoại hối và tài trợ thương mại. - Phát hành trái phiếu. - Bảo lãnh phát hành cổ phiếu. 5. Đặc điểm của các dịch vụ ngân hàng quốc tế: - Xu thế gia tăng nhanh hơn mức tăng tiềm lực sản xuất: Hàng ngày, lượng tiền tệ lưu chuyển trên thị trường tài chính thế giới cao gấp 30 lần khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, chỉ trong 8 năm (1990-1997), dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5 lần. Trong khi mậu dịch quốc tế của giai đoạn này chỉ tăng 5%/năm thì dòng vốn tư nhân lưu chuyển tăng 30%/ năm. - Dịch vụ ngân hàng quốc tế đề cao nhân tố con người: Đặc điểm này do đặc điểm kinh doanh quốc tế hiện nay tạo ra. Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ và kinh tế cũng như sự phức tạp của bối cảnh toàn cầu hoá, kinh doanh dịch vụ ngân hàng quốc tế đòi hỏi các nhà hoạt động ngân hàng phải: + Hiểu biết sâu sắc về hoạt động kinh doanh, cả kinh doanh trong nước lẫn khinh doanh đối ngoại, có kiến thức rộng và thường xuyên cập nhật về thị trường trong nước và quốc tế, ngoài ra phải có kiến thức sâu rộng về tài chính quốc tế. + Hiểu biết và áp dụng thành thạo các ứng dụng của khoa học công nghệ. Ngày nay, hầu hết các ngân hàng kinh doanh quốc tế đều sử dụng mạng toàn cầu Swift, mạng giao dịch kinh doanh toàn cầu Reuter, và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và kinh doanh. Do vậy việc sử dụng thành thạo các tiện ích ngân hàng, máy tính và công nghệ thông tin là bắt buộc + Phải hiểu biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, tiếng Anh là bắt buộc. Do là Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 5 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế kinh d o a n h q u ố c t ế nếu không thông thạo ngoại ngữ thì không làm việc được + Do bối cảnh hoạt động kinh doanh đòi hỏi rất nhiều về trình độ của nguồn nhân lực, nên việc tập trung vào phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực là điều tất yếu. - Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có tính rủi ro cao: Do sự phức tạp của kinh doanh quốc tế nên thường xảy ra việc tăng, giảm đột ngột về ngoại tệ, lãi suất, trục trặc trong thanh toán quốc tế, biến động chính trị….Vì vậy nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng ở trong nước. Tuy nhiên, rủi ro càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân hàng vẫn phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng phát triển lâu dài. - Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật pháp quốc tế và thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế của dịch vụ ngân hàng quốc tế quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động kinh doanh quốc tế, do sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia, do trình độ phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật pháp quốc tế, thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực hiện dịch vụ ngân hàng quốc tế. II. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ NGÀY NAY: 1. Các hình thức tổ chức Ngân hàng quốc tế: Nét đặc trưng để phân biệt dịch vụ ngân hàng quốc tế với dịch vụ ngân hàng trong nước đó là tính quốc tế. Xét về mặt không gian thì khoảng cách địa lý giữa các đối tác là lớn, vượt ngoài phạm vi biên giới quốc gia. Chính vì vậy ngân hàng thương mại ngoài trụ sở chính còn phải sử dụng nhiều hình thức khác như : Văn phòng đại diện: được thành lập ở nước ngoài nhằm trợ giúp cho các công ty trong nước kinh doanh ở nước ngoài, có nhiệm vụ quan hệ với các ngân hàng đại lý. Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó. Tổ chức và hoạt động của văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật”. Như vậy Văn phòng đại diện không được trực tiếp kinh doanh, không được ký kết các hợp đồng kinh tế với dấu của Văn phòng đại diện, nhưng vẫn ký kết hợp đồng theo sự uỷ quyền của Doanh nghiệp đã mở Văn phòng đại diện đó sẽ đóng dấu doanh nghiệp.Việc thiết lập Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 6 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế văn phòng đại diện ở nước ngoài thường là bước đầu tiên trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Chi nhánh ngân vỏ bọc: là các văn phòng nước ngoài được thiết lập nhằm tham gia vào các thị trường tiền tệ châu Âu để dành các khoản nợ đồng đô la châu Âu hay thực hiện các khoản vay ngân hàng nước ngoài. Chúng nằm chủ yếu ở những nơi có nền tài chính chủ yếu, như Bahamas, nơi chúng hoạt động mà không phải chịu thuế; họ không quan tâm đến công việc kinh doanh ở địa phương. Loại hình này xuất hiện nhiều ở Mỹ. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện dịch vụ trọn gói: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện trọn gói là sự mở rộng của ngân hàng chính, hoạt động như các ngân hàng tại nước đó nhưng về mặt pháp lý chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài lại là một bộ phận của ngân hàng mẹ. Các chi nhánh thực hiện kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào các khoản tiền gửi mua từ hệ thống ngân hàng quốc tế được biết đến như là thị trường liên ngân hàng. Họ không thể phát triển một cơ sở tiền gửi địa phương. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng trong nước vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước ngoài mà nó mở chi nhánh. Ở một số quốc gia, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị cấm, ở một số quốc gia khác người ta không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro sung công. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài thường được mở tại các trung tâm tài chính và thương mại của thế giới. Ngân hàng con ở nước ngoài: Ngân hàng con ở nước ngoài là một định chế độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần như sở hữu hoàn toàn để phù hợp với luật pháp của nước ngoài. Ngân hàng con ở nước ngoài hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nước ngoài nhưng ngân hàng mẹ không kiểm soát chúng (ngân hàng mẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối thiểu, không đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước sở tại và hầu như không chịu ảnh hưởng của luật pháp tại nước mà ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính. Trong thời gian gân đây, các ngân hàng kinh doanh quốc tế có xu hướng mua các ngân hàng con thay vì lập chi nhánh ở nước ngoài. Việc sở hữu một ngân hàng Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 7 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế con, trách nhiệm của ngân hàng mẹ chỉ giới hạn trong số vốn đầu tư vào ngân hàng con thấp hơn giới hạn trách nhiệm của ngân hàng mẹ đối với chi nhánh mới thành lập. Ngoài ra việc lập chi nhánh cũng rất tốn kém cả về chi phí thành lập lẫn chi phí quản lý. Hiện nay, ở Việt Nam qui định, Ngân hàng con 100% vốn nước ngoài phải có 1 ngân hàng mẹ, là ngân hàng đáp ứng về mặt tài chính, độ an toàn và kinh nghiệm hoạt động quốc tế). Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng liên doanh là kết quả của sự hợp tác về mặt kinh tế giữa Chính Phủ và Ngân hàng Trung ương của các nước với nhau, mở ra cơ hội hợp tác giữa hai nền kinh tế, hai hệ thống tài chính . Đây là hình thức ngân hàng góp vốn để kinh doanh giữa một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài với một hoặc nhiều ngân hàng địa phương hoạt động theo khuôn khổ của pháp luật địa phương. Cũng giống như ngân hàng con ở nước ngoài, ngân hàng liên doanh định chế độc lập đối với ngân hàng mẹ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.. Liên minh ngân hàng: Đây là hình thức liên minh tạm thời giữa các ngân hàng. Các ngân hàng của các quốc gia khác nhau cùng nhau tham gia hoạt động cho vay quốc tế. Nét đặc trưng chính của liên minh là cùng nhau thực hiện các nghiệp vụ đặc biệt và phân chia thị trường theo vùng địa lý. Trên thực tế, liên minh thường hoạt động tại các trung tâm tài chính và hoạt động của họ chủ yếu diễn ra trên thị trường tài chính và tiền tệ quốc tế. Liên minh ngân hàng được thành lập sẽ tạo nên một cơ chế chung cả về giám sát các ngân hàng và giải quyết hậu quả nếu một ngân hàng lâm vào tình cảnh nguy hiểm. Tuy nhiên, việc thành lập Liên minh Ngân hàng luôn bị đe dọa chính bởi những lợi ích mâu thuẫn giữa các quốc gia trong khu vực. Các câu lạc bộ ngân hàng: Đây là một hình thức hợp tác ngân hàng lâu dài có nguồn gốc từ việc cùng tham gia vào một liên kết nào đó. Thành viên của câu lạc bộ là các ngân hàng của các nước khác nhau cùng nhau góp vốn kinh doanh mà không có bất cứ một thủ tục pháp lý sáp nhập nào. Các hình thức của câu lạc bộ ngân hàng được phát triển mạnh mẽ vào đầu thập niên 1970. Cơ chế ngân hàng hải ngoại (International Banking Facilities -IBF): Vào tháng 12 năm 1981, các IBF được cục dự trữ liên bang Mỹ uỷ quyền cấp phép cho các ngân hàng và các tổ chức tiền gửi khác thực hiện hoạt động ngân hàng quốc tế Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 8 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế trong nước Mỹ trên cơ sở giống như các chi nhánh và các ngân hàng trực thuộc nước ngoài của các ngân hàng Mỹ. Khi cấp phép cho các IBF, ý đồ chính của Fed là nhằm thu họat động này trở lại Mỹ. IBF tạo ra cho các ngân hàng môi trường tương đối tự do giống như môi trường các chi nhánh và ngân hàng trực thuộc của họ đã gặp ở nước ngoài. Không có các quy định dự trữ hay các hạn chế lãi suất nào đối với tiền gửi của người nước ngoài, không phải bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tránh được những đánh giá liên quan đến bảo hiểm. Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ương nước ngoài với mục đích sử dụng ngoài nước Mỹ. Nguồn vốn của họ là từ các khoản vay liên ngân hàng của các tổ chức quốc tế , các chính phủ và các cơ quan nước ngoài. Hiện nay, đã có hơn 30 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam. Hiện nay các chi nhánh NH nước ngoài vẫn còn phải chịu 2 hạn chế trong huy động tiền VND từ các tổ chức, cá nhân không có quan hệ tín dụng. 2. Sự phát triển của các trung tâm tài chính quốc tế : Hoạt động ngân hàng quốc tế đã tăng trưởng ngoạn mục từ những năm 1950. Hoạt động ngân hàng quốc tế đã được thực hiện bởi các tổ chức tài chính trung gian ít nhất 4000 năm. Tuy nhiên, do nhiều tác nhân kích thích gần đây, đặc biệt là sự giãn ra trong việc điều kiển khác nhau của các dòng vốn, tăng trưởng trong các công ty đa quốc gia cũng như tìm kiếm của các ngân hàng cho các cơ hội lợi nhuận mới sau sự sụp đổ của chế độ tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods. Trong chừng mực sự khác biệt trong quy định hoạt động ngân hàng quốc tế xác định các hoạt động ở nước ngoài của các ngân hàng, sự tăng trưởng trong trung tâm ngân hàng sẽ rõ rệt hơn ở một số quốc gia hơn so với các nước khác. Bảng 2.1 cho thấy tổng số nợ phải trả bên ngoài của các ngân hàng đối với một số quốc gia theo báo cáo cho Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (một loại ngân hàng của ngân hàng trung tâm). Khoảng 23% các khoản nợ ngân hàng trên toàn thế giới ngoài Vương quốc Anh, Vương quốc Anh đến nay là trung tâm ngân hàng quốc tế quan trọng nhất. Trung tâm ngân hàng lớn thứ hai là Mỹ (12%), tiếp theo là Pháp (9%) và Đức (7%). Tầm quan trọng của Vương quốc Anh như một trung tâm cho các ngân Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 9 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế hàng quốc tế tiếp tục được nhấn mạnh bởi thực tế rằng nó nắm vị trí này trước Hoa Kỳ vốn tự hào có một nền kinh tế lớn hơn nhiều. Vị trí của Vương quốc Anh như là trung tâm dịch vụ ngân hàng quốc tế hàng đầu có nguồn gốc từ trong môi trường pháp lý tương đối lỏng lẻo thu hút các tổ chức Hoa Kỳ trong những năm 1950 và 1960. Kết quả là, thị trường ngân hàng ở Anh đã được hưởng lợi không tương xứng từ sự phát triển của thị trường Eurocurrency. Khi chế độ quy định của ngân hàng trên toàn thế giới đã dần dần hội nhập trong những thập kỷ qua, London đã bị mất đi phần nào những gì làm cho nó có thể thu hút các ngân hàng quốc tế.Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố khác so với các quy định lỏng lẻo về cho vay bằng ngoại tệ mà làm cho London hấp dẫn đối với các ngân hàng quốc tế. Những yếu tố này là việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh cũng như vị trí địa lý của nó giữa Mỹ và châu Á, tạo điều kiện kinh doanh tại các thị trường vốn quốc tế qua các múi giờ khác nhau. The top 30 banks in the world based ranked according to Market Capitalisation in 2012 All banks have been ranked by total Market Capitalisation in US$ in 2012. Rank 2012 1 Market Capitalisation (Billion US$) Bank 2012 Industrial & Commercial Bank of China (ICBC) Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 241.7 2011 2010 2009 2008 2003 224.2 234.1 269.4 174.2 249.8 Page 10 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Rank 2012 Market Capitalisation (Billion US$) Bank 2012 2011 2010 2009 2008 2003 2 China Construction Bank 196.6 167.9 223.0 201.8 128.6 171.3 3 Wells Fargo & Co 161.4 150.9 181.0 199.7 118.0 119.6 4 HSBC Holdings 151.6 135.7 166.5 171.5 115.5 99.7 5 Agricultural Bank of China 142.4 131.1 163.4 154.4 98.5 86.3 6 JP Morgan Chase 141.7 123.0 140.6 138.4 98.3 80.0 7 Bank of China 129.5 121.7 138.1 137.0 75.3 74.6 8 Itau Unibanco 88.9 76.9 135.7 130.7 71.0 61.6 9 Citigroup 87.4 76.1 135.2 95.4 70.4 57.4 10 Commonwealth 83.3 75.6 98.3 94.6 45.4 57.3 11 Royal Bank Canada 77.3 71.3 89.3 90.4 44.4 55.9 12 Bank of America 72.5 71.2 81.3 76.8 43.9 55.7 13 Toronto-Dominion Bank 71.2 66.0 77.3 76.1 41.2 51.3 14 Banco Santander 68.0 64.7 77.2 69.1 41.2 49.5 15 Westpac 66.5 64.3 76.8 68.9 38.6 49.5 16 Mitsubishi UFJ Financial 65.0 62.5 75.7 68.1 36.9 47.2 17 Banco Bradesco 64.6 61.9 70.7 62.7 35.0 46.3 18 Sberbank of Russia 60.1 58.6 69.1 62.3 34.4 43.9 19 ANZ Banking 59.2 57.9 67.9 59.1 33.0 43.8 20 Bank of Nova Scotia 58.9 54.7 66.5 58.8 32.7 43.1 21 Standard Chartered 58.4 53.6 64.1 57.1 32.1 38.2 22 National Australia Bank 56.7 53.0 63.8 56.8 31.1 37.4 23 US Bancorp 55.6 52.2 62.8 55.6 30.7 36.3 24 BNP Paribas 54.9 51.6 60.6 54.5 30.1 34.7 25 Goldman Sachs Group 54.2 45.7 54.9 53.2 29.9 34.4 26 UBS 52.70 44.70 53.40 52.60 29.40 33.90 27 Bank of Communications 48.80 42.70 52.40 52.60 28.30 33.60 28 China Merchants Bank 45.90 41.00 52.30 52.50 28.30 33.50 29 Sumitomo Mitsui Financial 44.30 40.50 52.20 52.40 27.50 31.10 Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 11 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Rank 2012 Market Capitalisation (Billion US$) Bank 30 BBVA Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 2012 43.70 2011 2010 2009 2008 2003 39.80 51.10 51.90 27.50 30.00 Page 12 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Biểu đồ 1 cho thấy sự phát triển của thị trường vốn cổ phần trong các hoạt động xuyên biên giới của các trung tâm ngân hàng lớn nhất. Theo số liệu của BIS (Bank for International Settlements) về sự phát triển thị phần của các trung tâm ngân hàng lớn nhất trong các hoạt động giữa các nước. Trong Q2 năm 2007, các ngân hàng ở Vương quốc Anh đã nắm giữ 20,4% tài sản ngân hàng quốc tế, và 22,8% các khoản nợ ngân hàng quốc tế, chủ yếu là do các khoản tiền gửi quốc tế. Trung tâm ngân hàng lớn nhất tiếp theo là Hoa Kỳ, có thị phần nợ là 12,6% lớn hơn giá trị tài sản quốc tế là 9,2%, phản ánh việc cho kinh tế trong nước Mỹ vay lại . Thị phần của các ngân hàng ở Nhật Bản tăng đáng kể trong những năm 1980, nhưng đảo ngược ngay sau đó, các ngân hàng bị suy yếu do khủng hoảng tài chính vừa xảy ra từ thị trường quốc tế. Với các ngân hàng ở Đức, Pháp, quần đảo Cayman và Thụy Sĩ dao động trong khoảng từ 3-10% thị phần. Ngân hàng quốc tế đang phải đối mặt với ba xu hướng ngành công nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động và chiến lược của các ngân hàng. Đó là:  Bãi bỏ quy định.  Đổi mới tài chính.  Toàn cầu hóa. Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 13 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Những xu hướng này không nên xem xét tách biệt, mà nên liên kết lại và có thể được xem như là bổ trợ lẫn nhau. Bãi bỏ quy định Bãi bỏ quy định của cả hai thị trường tài chính và các ngân hàng có tốc độ tăng trong 25 năm qua. Bãi bỏ quy định chủ yếu hướng tới các hoạt động cạnh tranh của các ngân hàng, đồng thời tăng cường đi sâu giám sát hệ thống tài chính một cách tổng thể. Về bản chất, bãi bỏ quy định đã cho ngân hàng sự tự do thương mại và mang lại nhiều cơ hội cho ngân hàng quốc tế. Mathew và Thompson (2008) chỉ ra ba giai đoạn của bãi bỏ quy định ngân hàng quốc tế:  Giai đoạn đầu tiên đã được chỉ đạo bãi bỏ các kiểm soát định lượng như Quy chế Q ở Mỹ (1982) và hạn chế tín dụng ở Anh.  Các giai đoạn thứ hai của bãi bỏ quy định ảnh hưởng đến chuyên môn của các ngân hàng trong lối kinh doanh ngân hàng truyền thống ở nhiều nước ngày nay. Tại Mỹ, lặp đi lặp lại thay đổi lập pháp từ những năm 1980 lên đến cực điểm trong Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 dần dần cho phép các ngân hàng thương mại tham gia vào các lĩnh vực hoạt động ngân hàng đầu tư.  Giai đoạn thứ ba liên quan đến sự cạnh tranh từ người mới tham gia trước đây không cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Chúng bao gồm các tập đoàn bán lẻ lớn ở Anh (Tesco Finance, Virgin …) và ở Mỹ (Sears, General Motors). Đổi mới tài chính Việc ứng dụng dần dần công nghệ vào ngân hàng (đầu tiên là hệ thống viễn thông được cải thiện tiếp theo là ứng dụng rộng rãi công nghệ máy tính) cùng với việc bãi bỏ quy định và nhu cầu của khách hàng đã tăng lên đối với những gì được xem là ba giai đoạn riêng biệt trong sự đổi mới tài chính. Từng giai đoạn trong cả ba giai đoạn này đều có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng quốc tế:  Trong thời gian kiểm soát tín dụng, đã hạn chế hiệu quả số lượng các khoản vay (tài sản) mà các ngân hàng có thể tạo ra ở nhiều quốc gia, các ngân hàng dần dần chuyển từ quản lý tài sản sang quản lý nợ. Ngân hàng quốc tế tăng cường sử dụng thị trường đồng đô la để tạo ra nợ phải trả (ví dụ, bằng cách vay mượn từ các chi nhánh của họ ở nước ngoài). Trong khi mục đích ban đầu đằng sau việc này là để phá vỡ những hạn chế tín dụng như Quy chế Q, việc Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 14 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế chuyển sang quản lý nợ đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với hành vi của ngân hàng.  Lãi suất cho vay biến đổi - khái niệm cơ bản rằng việc cho vay diễn ra ở một mức giá (lãi suất) phản ánh rủi ro của khách hàng vay không thực sự xuất hiện trên diện rộng cho đến những năm 1970. Tương tự như vậy, để cho các ngân hàng quản lý các khoản nợ của họ, họ cũng bắt đầu trả lãi suất biến đổi trên tiền gửi không kỳ hạn tại thời điểm đó. Kết quả của việc lãi suất biến đổi dựa trên việc cho vay và tiền gửi (thực thế là dựa trên cung và cầu của việc cho vay) là một sự gia tăng lớn trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng cho vay trong nước và quốc tế.  Các hình thức khác nhau của công nghệ quản lý tiền mặt (bao gồm cả chuyển khoản điện tử, máy rút tiền và thẻ ghi nợ) đã giảm đáng kể các chi phí quản lý tiền mặt cho các ngân hàng.Kết quả là, các rào cản gia nhập cho các ngân hàng mới đã được hạ xuống tạo ra sự tranh đua tăng đáng kể trong quá trình này. Toàn cầu hóa Toàn cầu hóa của các ngân hàng quốc tế đã lặp lại sự tăng trưởng trong thương mại quốc tế và sự tăng trưởng trong các tập đoàn đa quốc gia nói chung. Ví dụ, sự tăng trưởng của các công ty đa quốc gia của Mỹ và mở rộng sang châu Âu đã làm tăng nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng quốc tế của các doanh nghiệp này. Tăng cường động lực thúc đẩy toàn cầu hóa của các ngân hàng đến từ sự hội nhập (EU, NAFTA) cũng như các tổ chức như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) làm thúc đẩy tự do thương mại.  Nhiều nhà bình luận đã cho rằng không phải bãi bỏ quy định hay toàn cầu hóa, mà sự thay đổi tỷ lệ lãi suất là nhân tố chính góp phần vào sự phát triển của hoạt động ngân hàng quốc tế.  Bằng cách dựa vào cung cầu tín dụng (có nghĩa là, có thể điều chỉnh giá (lãi suất) của tín dụng), các ngân hàng có thể thu hút nhiều khách hàng hơn. Ngân hàng quốc tế có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các cư dân bên ngoài đất nước của họ. Lần đầu tiên, các ngân hàng đã có thể cạnh tranh với nhau trên cơ sở lãi suất. Tuy nhiên, cho vay với mức lãi suất cao hơn thường liên quan đến nguy cơ cao hơn. Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 15 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế 3. Vai trò của Ngân hàng Quốc tế hiện nay Cùng với sự phát triển của Thương mại hóa toàn cầu và các công ty đa quốc gia, sự bãi bỏ các hạn chế tự do lưu chuyển vốn và tỷ giá hối đoái thả nổi tự do góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động của các ngân hàng quốc tế với vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. - Tập trung vốn nền kinh tế thế giới: Thực hiện được điều này, Ngân hàng quốc tế thực hiện huy động và tập trung vốn đa dạng tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế thế giới, với số vốn này Ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn cho kinh tế toàn cầu để sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển. - Vai trò làm trung gian thanh toán, quản lý các phương tiện thanh toán và góp phần làm tăng những phương tiện sẵn có đáp ứng nhu cầu của khách hàng với tính cạnh tranh cao. Với mạng lưới rộng khắp trên toàn cầu và hệ thống công nghệ thông tin hiện đại tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh chóng, chính xác, thúc đẩy tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế. - Vai trò tạo ra tiền ngân hàng Cùng với hệ thống ngân hàng, quá trình tạo ra tiền của Ngân hàng quốc tế được thực hiện thông qua tín dụng và thanh toán. - Thúc đẩy chu chuyển vốn quốc tế thông qua việc cung cấp các loại dịch vụ khác nhau phục vụ cho nhu cầu của các công ty quốc tế lớn: + Chuyển tiền và quản lý tiền mặt. Doanh nghiệp quốc tế phát sinh dòng tiền nội tệ và ngoại tệ khác nhau và họ sẽ tìm kiếm một tổ chức tài chính để giúp họ quản lý các nhu cầu tiền tệ của mình. + Cung cấp tiện ích tín dụng. Ngân hàng quốc tế cung cấp các khoản vay cho các khách hàng của họ với những loại tiền tệ khác nhau với những điều kiện khác nhau (cố định hoặc thả nổi lãi suất, bảo đảm hoặc không có bảo đảm) và các kỳ hạn khác nhau. + Cho vay hợp vốn. Cho vay hợp vốn, hai hoặc nhiều ngân hàng cùng cho vay đối với một doanh nghiệp. Nợ gốc thường vượt quá 50 triệu USD. Khoản tiền vay lớn Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 16 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế như vậy sẽ là quá rủi ro bảo lãnh bởi một người cho vay. Bên cạnh thu nhập lãi, ngân hàng quốc tế sẽ cho vay hợp vốn. Lãi suất áp dụng thường là lãi suất LIBOR. + Thực hiện các giao dịch ngoại hối và tài trợ thương mại. Tài trợ thương mại là dịch vụ truyền thống của ngân hàng quốc tế trong nhiều thế kỷ và có tầm quan trọng lớn đối với thương mại quốc tế. Ví dụ, một thư tín dụng là một bảo lãnh của ngân hàng trả cho người bán ( người xuất khẩu) số tiền sau khi người mua (nhập khẩu) đã nhận được hàng hoá. Người mua, do đó, không cần phải chuyển tiền ra nước ngoài mà không bảo đảm rằng hàng hóa được chuyển giao hay chưa. + Phát hành trái phiếu. Lúc này ngân hàng đóng vai trò là trung gian giữa người phát hành trái phiếu và người mua, với tư cách là người bảo lãnh phát hành trái phiếu. Ngân hàng quốc tế mua những trái phiếu mới phát hành của công ty va bán chúng ra thị trường. + Với vai trò là nhà bảo lãnh phát hành và trung gian trên thị trường tài chính. Các công ty phát hành cổ phiếu đến thị trường vốn. Ngân hàng quốc tế tạo điều kiện cho tiến trình này. - Cung cấp giá trị bảo hộ cho các công ty thông qua dịch vụ quản lý rủi ro tỷ giá, lãi suất…bằng cách sử dụng hợp đồng giao sau, hợp đồng quyền chọn… - Tài trợ cho những nước có cán cân thanh toán thâm hụt: Làn sóng toàn cầu hóa ngày càng lan rộng đặc trưng bởi xu hướng tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính đã làm dòng chu chuyển vốn ngày càng trở nên mạnh mẽ và tác động to lớn đến nền kinh tế các quốc gia. Để đo lường dòng chu chuyển vốn người ta sử dụng cán cân thanh toán quốc tế như là một “ bảng kiểm tra sức khỏe tổng quát” của một nền kinh tế. Ngân hàng quốc tế tạo điều kiện dễ dàng cho việc hợp tác giữa các quốc gia trong giao dịch quốc tế, có một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ một số nước có cán cân thanh toán thâm hụt và khủng hoảng nợ quốc tế. III. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM: 1. Dịch vụ ngân hàng đại lý: Quan hệ đại lý có vai trò rất quan trọng đối với nghiệp vụ ngân hàng ngày nay. Để thực hiện nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt là thanh toán quốc tế, mỗi ngân Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 17 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế hàng cần thiết lập quan hệ đại lý với các định chế tài chính, ngân hàng ở các quốc gia khác nhau, nhất là tại các quốc gia đã có Hiệp định thương mại song phương. Hiện nay, các ngân hàng thương mại lớn và có uy tín tại nước ta như Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), … có hệ thống ngân hàng đại lý rộng lớn. Các ngân hàng này luôn đặt quan hệ đại lý với các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Cụ thể là:  Vietinbank có quan hệ đại lý với trên 900 ngân hàng, định chế tài chính tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.  Hiện nay Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có quan hệ ngân hàng đại lý với hơn 1.600 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng tại 125 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn đặt quan hệ đại lý với với các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ đó.  Trên thế giới, hiện tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam có quan hệ ngân hàng đại lý với khoảng 1.700 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam luôn đặt quan hệ đại lý chính với các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ đó. Agribank luôn chú trọng mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý trong khu vực và quốc tế. Hiện nay, Agribank có quan hệ ngân hàng đại lý với 1.043 ngân hàng tại 92 quốc gia và vùng lãnh thổ Cho đến nay mạng lưới các Ngân Hàng đại lý của Ngân Hàng Quân Đội đã mở rộng tới hơn 300 Ngân Hàng trên 56 quốc gia, đảm bảo thanh toán và giao dịch với tất cả các châu lục trên thế giới So sánh với hệ thống ngân hàng đại lý của một số ngân hàng nước ngoài tại việt nam có thể nhận thấy lợi thế vượt trội của họ. Điều này đã tạo áp lớn cho các NHTM. Tuy nhiên, không vì thế mà các NHTMVN phải cấp thiết mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý của mình mà việc mở rộng phải được xem xét trên cơ sở nhu cầu thực tế và hiệu quả sử dụng để tránh lãng phí. 2. Dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế: Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 18 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Nhắm vào tiện ích không thanh toán bằng tiền mặt, sử dụng mua sắm thanh toán tiêu dùng ở quốc tế thuận lợi, nhiều ngân hàng trong nước đẩy mạnh phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Trong giai đoạn 1996-2001, thị trường thẻ Việt Nam còn sơ khai, nhận thức của người dân về thanh toán thẻ còn hạn chế nên các sản phẩm thẻ chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu của tầng lớp dân cư có thu nhập cao và phần lớn chỉ là thẻ quốc tế được sử dụng khi mua sắm hàng hoá dịch vụ ở nước ngoài. Với nỗ lực mở rộng mạng lưới, doanh số thanh toán thẻ của các NHTM đã không ngừng gia tăng qua các năm. Năm 2010, doanh số thanh toán thẻ quốc tế của toàn thị trường đạt gần 1.500 triệu USD, cao gấp 3 lần năm 2006. Trong tổng số 54,9 triệu thẻ (tính đến cuối năm 2012) hơn 90% là thẻ ghi nợ nội địa (49,4 triệu thẻ), 1,88 triệu thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 3,6%, 1,52 triệu thẻ tín dụng quốc tế chiếm 28%… Mạng lưới thanh toán thẻ tại VN đã sẵn sàng chấp nhận thanh toán các thẻ mang thương hiệu Visa, MasterCard, Amerrican Express, JCB, Dinners Club, CUP và DiscoverCard là các thương hiệu thẻ hàng đầu và phổ biến nhất thế giới hiện nay. Song song với hoạt động phát hành thẻ, hoạt động phát triển mạng lưới chấp nhận và thanh toán thẻ cũng có sự phát triển khá ấn tượng. Hệ thống ATM và Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ - POS đã có sự tăng trưởng đáng kể, nhất là giai đoạn 2007 2012. Nhu cầu mở thẻ thanh toán quốc tế trong các NHTM trên địa bàn đang có những bước tiến mạnh. Thanh toán qua máy cà thẻ (POS) bằng thẻ quốc tế chiếm đến 85%, trong khi sử dụng thẻ nội địa chiếm 15% trong các giao dịch bán lẻ hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt trên địa bàn. Sự ưa thích sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của người dân Thành phố có phần do loại thẻ này có lợi thế chi tiêu trước, trả tiền sau, đặc biệt hình thức miễn lãi suất 45 ngày rất kích thích giới trẻ, nhân viên văn phòng sử dụng… Chúng tôi nhận thấy, năm 2013 hoạt động thanh toán bán lẻ trên địa bàn vẫn giữ được xu hướng tăng trưởng ổn định. Tổng số thẻ đang hoạt động tính đến cuối năm 2013 ước khoảng trên 8 triệu thẻ (sau khi đã loại trừ thẻ 6 tháng không có giao dịch), tăng trên 15% so với cùng kỳ năm trước. Do lượng thẻ quốc tế tăng vượt bậc so Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 19 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế với thẻ nội địa nên doanh số thanh toán qua máy POS năm 2013 có mức tăng trưởng trên 32% so với năm 2012. 3. Dịch vụ thanh toán quốc tế: Với việc đầu tư công nghệ cũng như thực hiện tốt các quy trình nghiệp vụ, nhiều ngân hàng trong nước đã được các tổ chức tín dụng lớn của quốc tế công nhận đạt chuẩn thanh toán quốc tế.Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB) lần thứ hai liên tiếp được giải thưởng “Ngân hàng có chất lượng thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2011” (STP) do Ngân hàng The Bank of New York Mellon (BNY Mellon) trao tặng. Giải thưởng này nhằm tôn vinh những ngân hàng có chất lượng thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế dựa trên tỷ lệ điện chuẩn cao (tối thiểu 95%). Tất cả điện giao dịch của SHB đều được xử lý tự động tại Ngân hàng BNY Mellon theo đúng quy trình, an toàn và thông suốt, đảm bảo hạn chế tối đa mọi rủi ro hoặc chậm trễ có thể xảy ra đối với các giao dịch thanh toán quốc tế. Trước đó, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cũng được BNY Mellontrao tặng giải thưởng STP, công nhận trình độ tác nghiệp chuẩn xác của những người làm công tác vận hành nói chung và thanh toán viên thanh toán quốc tế nói riêng. Đây là lần thứ 6 liên tiếp VPBank nhận được giải thưởng STP do BNY Mellon trao tặng. VPBank là một trong 7 ngân hàng Việt nam được vinh dự nhận giải thưởng này và luôn nằm trong nhóm năm ngân hàng có tỷ lệ điện chuẩn cao nhất. SWIFT Việt Nam được thành lập vào năm 1996, sau khi 6 ngân hàng đầu tiên của Việt Nam bao gồm: NHNN, Vietcombank, BIDV, Agribank, Vietinbank, Eximbank trở thành thành viên của SWIFT vào tháng 3/1995. Hiện nay, cộng đồng SWIFT Việt Nam bao gồm NHNN và khoảng 80 NHTM tham gia, đăng ký 88 mã SWIFT, trong đó có 44 mã SWIFT của NHTM cổ phần, 43 mã SWIFT của các ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo thống kê của SWIFT, Việt Nam đứng thứ 63 trong tổng số 212 nước trên thế giới về lưu lượng với số lượng 15 nghìn điện/ngày, đạt mức tăng trưởng gần 13%/năm. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam mới đứng ở vị trí thứ 6 về lưu lượng, trong khi số Ngân hàng đứng thứ 2, chỉ sau Singapore. Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 20
- Xem thêm -