Tổng quan tài liệu về cây long não - cinamomum camphora

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI BỘ MÔN DƯỢC LIỆU TIỂU LUẬN DƯỢC LIỆU Chủ đề: Tổng quan về cây Long não Cinamomum camphora (L.) Presl Sinh viên thực hiện : Mã SV : Lớp : Tổ : HÀ NỘI, 02-2011 Tiểu luận dược liệu 1 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN MỤC LỤC Nội dung Trang A- Đặt vấn đề 2 B- Tổng quan tài liệu 3 I. Đặc điểm thực vật 1. Phân loài, phân bố và sinh thái 3 2. Mô tả cây 4 3. Trồng trọt và thu hái 6 4.Bộ phận dùng 6 5.Thành phần hóa học 7 6.Kiểm nghiệm 9 II. Hoạt chất quan trọng của long não : camphor 1.Tác dụng dược lý 15 2. Độc tính 15 4. Tinh vị công năng 15 5. Công dụng 16 C- Kết luận 17 Tài liệu tham khảo 17 Tiểu luận dược liệu 2 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN A– ĐẶT VẤN ĐỀ: Long não đã đươc trồng từ rất lâu đời và được khai thác camphor từ thế kỉ XII,mọc nhiều nhất và lâu đời nhất tại Nhật Bản, Trung Quốc. Từ xa xưa người ta đã cất gỗ, rễ, lá cây long não để lấy tinh dầu và tinh thể long não. Đôi khi dùng một ít gỗ hay lá, cành cho vào nồi nước xông chữa cảm cúm. Ngày nay long não được sử dụng làm tác nhân làm mềm cho xenluloza nitrat cũng như để làm các viên băng phiến để chống côn trùng làm hại quần áo, cũng như là chất khử trùng, trong ướp thơm và trong các loại pháo hoa .Các tinh thể long não cũng được dùng để ngăn chặn thương tổn do bị các loại côn trùng nhỏ cắn. Một số dạng thuốc mỡ chống ngứa có sử dụng long não như là thành phần hoạt tính chủ yếu. Nó cũng được sử dụng trong y học Long não dễ dàng hấp thụ qua da và tạo ra cảm giác mát tương tự như Tinh dầu bạc hà, menthol và có tác dụng như là một chất gây tê và khử trùng nhẹ cục bộ. Nó cũng thể uống với lượng nhỏ (50 mg) đối với các triệu chứng bệnh tim nhỏ cũng như mệt mỏi. Long não cũng được sử dụng như là một loại hương liệu trong các loại đồ ngọt ở Ấn Độ và Châu Âu. Người ta cũng cho rằng long não đã từng được dùng làm hương liệu trong các loại bánh kẹo tương tự như kem đò ăn trong thời kì nhà Đường. B – TỔNG QUAN TÀI LIỆU: I. Đặc điểm thực vật: Tên đồng nghĩa: Laurus camphora L.,Camphora officinarum Nees Tên khác: Dã hương, chương não, mạy khảo khuông (Tày), cà chăng điẳng(Dao) Tên nước ngoài: Camphor tree, true camphor, camphor cinamom, formosan Wood (Anh), camphrier, camphrier du Japon, laurier à camphre (Pháp). 1. Phân loài, phân bố và sinh thái: Tiểu luận dược liệu 3 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN - Giới (regnum): Plantae - Ngành (divisio): Magnoliophyta (Hạt kín hay Ngọc Lan), nhóm TV có hoa. - Lớp (Class): 2 lá mầm (Ngọc Lan). - Bộ (ordo): Laurales (Nguyệt Quế) . - Họ (familia): Lauraceae Chi Cinamomum Blume có khoảng 720 loài trên thế giới đều là cây gỗ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, nhất là ở châu Á và châu Đại Dương. Ở Việt Nam, có 42 loài. Long não có nguồn gốc ở Nhật Bản và trung Quốc; hiện đươc trồng rộng rãi trong các nước nhiệt đới và á nhiệt đới châu Á như Việt Nam, Lào, Ấn Độ, Philippin, Indonesia, Malaysia, Srilanca, và cả Australia để lấy gỗ, làm cây bóng mát và cất tinh dầu làm thuốc. Ở Việt Nam, Long não được trồng từ lâu đời. Tuy nhiêu đến thế kỉ 19 người Pháp mới tiến hành trồng nhiều cây này ở đô thị, xung quanh các dinh thự.Ở Ba Vì, cây dươc trồng thành rừng. Ở thị xã Lạng Sơn,Cao Bằng ,Lai Châu, vẫn con những cây Long não lớn, ước tính trên 100 tuổi. Long não là loài cây gõ lớn, ưa khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới . Cây sống đươc trên nhiều loại đất, thường hơi rụng lá vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân; lá non xuất hiện đồng loạt vào cuối mùa xuân; ra hoa quả nhiều ,quả chín vào mùa thu, sau khi rung có thể tồn tại 4-6 tháng mới nảy mầm.Long não còn có khả năng tái sinh cây chồi sau khi chặt. Cây chồi rễ và cành cũng à nguồn cây giống để trồng. 2. Mô tả cây: Cây gỗ, cao đến 15m, vỏ thân dày nứt nẻ màu xám nâu. Tán lá rộng. Lá mọc so le phiến dài 5-9m, ộng 3-5cm gốc thuôn đầu kéo dài thành mũi nhọn hoắt mặt trên xanh xẫm bóng, mặt dưới nhạt có cuống dài, ở kẽ gân chính và gân 2 bên nổi lên 2 tuyến nhỏ. Tiểu luận dược liệu 4 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Hoa nhỏ màu vàng lục mọc thành chùm ở kẽ lá.; hoa nhỏ lưỡng tính, bao hoa có ống ngắn, gồm 6 thùy hẹp có lông ở mặt trong; nhị 9, đính trên một vòng gồ lên, 6 cái ngoài không có tuyến,3 cái trong có tuyến ở gốc chỉ nhị, nhị lép 3, bầu hình trứng nhẵn Quả mọng khi chín có màu đen.Mùa hoa tháng 5 -6,mùa quả tháng 8-9. Tiểu luận dược liệu 5 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Hình: Mô tả cây cinamomum camphora 3. Trồng trọt và thu hái: Trồng long não bằng quả, quả đươc thu hoạch tù cây có độ tuổi 50, gieo trong vườn ươm. Khi cây cao khoảng 50-70m thì đem trồng. 1 ha có thể trồng từ 2000- 3000 cây. Thường khai thác gỗ từ những cây già trên 25 tuổi. Lá có thể khai thác quanh năm. Sản lượng thế giới hàng năm là 710 tấn(1990). Các nơi sản xuất chính là Đài Loan và Nhật Bản. 4. Bộ phận dùng: Tiểu luận dược liệu 6 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN - Gỗ và lá dùng để cất tinh dầu. Ở Nhật Bản và Đài Loan người ta cất tinh dầu từ gỗ. Ở Ấn Độ khai thác từ lá. - Camphor và các thành phần khác 5. Thành phần hóa học Tinh dầu: Gỗ của cây long não trưởng thành có chứa 4,4% tinh dầu. Thành phần chủ yếu là tinh dầu là camphor (64,1%), ngoai ra còn có cineol, terpineol, safrol, nerolindol Hàm lượng tinh dầu trong gỗ giảm từ gốc lên ngọn. Lá có chứa 1,3% tinh dầu, trong đó có camphor chiếm 81,5%, ngoài ra cineol (4,9%). Trong công nghiệp khi cất long não, thường được thu phần đặc(long não) và phần lỏng (tinh dầu long não). DĐVN III qui định hàm lượng camphor trong tinh dầu long não không dưới 35%. Long não thiên nhiên có tinh thể màu trắng, mùi thơm đặc biệt, vị nóng. Ở nhiệt độ thường, long não thăng hoa được, ít tan trong nước, tan nhiều trong các dung môi hữu cơ (cồn, ether, chloroform). Tinh dầu long não cất phân đoạn sẽ được tinh dầu long não trắng (dùng chế cineol), tinh dầu long não đỏ (chứa safrol, carvacrol), tinh dầu long não xanh (chứa camphoren, azulen, cadinen). Theo những nghiên cứu mới ở VN ngoài loại long não cho camphor còn phat hiện những loài khác trong lá không có camphor, mặc dù về mặt hình thái thực vật chúng không có gì đặc biệt. Căn cứ vào thành phần hóa học của tinh dàu gỗ đặc biệt là của lá có thể phân thanh 6 nhóm như sau nhóm 1 2 3 Tinh dầu gỗ thân Camphor 60-80% Camphor 68-71% Camphor 29-65% Tinh dầu lá Camphor 70-80% Secquiterpen 50-60% Cineol 30-65% 4 Cineol 15-45% Camphor 16-40% Cineol 30-65% Tiểu luận dược liệu 7 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN 5 Cineol 23-66% Linalol 66-68% 6 Cineol 11-13% Phellandren 71-73% Phellandren 36-37% p-cymen 21% Linalol 90-93% Camphor 22-25% Hình : Các nhóm long não phân chia theo thành phần tinh dầu gỗ thân lá Theo tài liệu nươc ngoài, hàm lượng tinh dầu và các thành phần khác hợp chất trong tinh dầu long não cũng rất khác nhau. Long não ở nơi này thì cho thành phần là a-pinen, b-pinen ,camphen, borneol, 4 terpinen 4 ol,a-terpinerol...Ở nơi khác cây lại có thành phần là carvacol,cardinen, elemen, nerolidol.. Những nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy hàm lượng camphor trong long não bị ảnh hưởng cả về mặt di truyền lẫn các yếu tố di truyền. Những cây mọc từ hạt thu được từ những cây mẹ có hàm lượng camphor cao không phải luôn luôn là những cây long não cho camphor nhiều. Lá của cây long não mọc trong bóng dâm có hàm lượng camphor kém hơn những cây moc sáng.Thời gian thu hái lá cũng ảnh hưởng đến hàm lượng camphor.Ở Tây Phi người ta thấy hàm lượng camphor thấp sau thời kì mưa kéo dài hoặc không có nắng. ca o cineol Tiểu luận dược liệu r linalol 8 mph Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Hình: Phellandren 6. Kiểm nghiệm: 6.1. Định lượng tinh dầu long não 6.1.1. Nguyên tắc định lượng tinh dầu, dụng cụ định lượng tinh dầu a. Nguyên tắc Tách tinh dầu ra khỏi dược liệu bằng phương pháp cất kéo hơi nước. Từ lượng tinh dầu thu được so với khối lượng dược liệu tính được hàm lượng tinh dầu trong dược liệu. Tiểu luận dược liệu 9 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Có nhiều bộ dụng cụ khác nhau để định lượng tinh dầu, dưới đây là sơ đồ một số bộ dụng cụ: b. Dụng cụ Bộ dụng cụ định lượng tinh dầu theo quy định của Dược điển Việt nam III Hình. Bộ dụng cụ cất tinh dầu theo quy định của DĐVN III Tiểu luận dược liệu 10 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Tinh dầu trong dược liệu được định lượng bằng cách cất kéo hơi nước trong dụng cụ như mô tả ở hình vẽ. Trong quá trình cất sau khi được làm lạnh tinh dầu tách khỏi nước nổi lên trên (đối với tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn 1) hoặc tan vào xylen (với tinh dầu có tỷ trọng lớn hơn 1 - trước khi cất thêm một thể tích cố định xylen) nước được chảy tự động trở lại bình cất. Thể tích tinh dầu cất được có thể đọc trực tiếp ở phần chia độ của ống này hoặc đọc thể tích tổng cộng của xylen và tinh dầu rồi trừ đi thể tích xylen cho vào (đối với tinh dầu có tỷ trọng lớn hơn 1). Hàm lượng tinh dầu được biểu thị bằng phần trăm (tt/kl). - Khi định lượng tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn 1: Cân chính xác tới 0,01g một lượng mẫu (đã được chia nhỏ qua rây số 2000 sao cho có thể cất được 0,5 đến 1ml tinh dầu) cho vào bình cất. Thêm 300 đến 500ml nước và vài mảnh đá bọt. Lắp bình cất với đầu A của bộ dụng cụ cất. Thêm nước qua phễu N tới mức B. Đun bình cho đến sôi, sau đó nếu không có chỉ dẫn khác thì điều chỉnh tốc độ cất sao cho cất được 2 - 3ml dịch cất trong 1 phút. Xác định tốc độ cất như sau: mở vòi 3 nhánh M để hạ mức dịch cất trong ống đến vạch J, khóa vòi M lại, đồng thời bấm đồng hồ cho chạy. Khi mức dịch cất đến ngang vạch H thì bấm dừng đồng hồ và đọc thời gian. Sau đó mở vòi M và tiếp tục cất trong khoảng 5 giờ (nếu không có chỉ dẫn gì khác) cho đến khi thể tích tinh dầu không tăng nữa. Ngừng cất, sau ít nhất 10 phút đọc thể tích tinh dầu cất được trong ống hứng chia độ. - Khi định lượng tinh dầu có tỷ trọng lớn hơn 1 Cho vào bình cất 1 lượng mẫu (đã được chia nhỏ qua rây số 2000) sao cho có thể cất được từ 0,5 - 1ml tinh dầu. Thêm khoảng 300 - 500ml nước và vài mảnh đá bọt vào bình. Lắp bình cất vào đầu A của dụng cụ cất. Thêm nước qua phễu N tới mức B. Dùng pipet cho 1ml xylen (TT) vào bình qua lỗ K (tựa đầu pipet vào phía dưới của lỗ K). Đun bình cho đến sôi rồi điều chỉnh tốc độ cất như quy định ở phần định lượng tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn 1. Cất khoảng 30 phút thì ngừng cất, sau 10 phút đọc thể tích xylen ở phần ống Tiểu luận dược liệu 11 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN hứng chia độ. Tiến hành cất với tốc độ 2 -3ml dịch cất được trong 1 phút. Cất trong khoảng 5 giờ (nếu không có chỉ dẫn gì khác) cho tới khi thể tích tinh dầu không tăng nữa. Ngừng cất, sau ít nhất 10 phút đọc thể tích hỗn hợp tinh dầu và xylen trong ống hứng chia độ. Thể tích đọc được lần này trừ đi thể tích xylen sẽ cho thể tích tinh dầu trong mẫu định lượng. Từ thể tích tinh dầu cất được và khối lượng dược liệu đem cất tính ra hàm lượng tinh dầu có trong mẫu. - Hàm lượng tinh dầu trong dược liệu được tính theo công thức sau: Tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn 1 ( 1) a 100 X%  Tinh dầu có tỷ trọng lớn hơn 1 (a - c) 100 (2) X%  b b X: hàm lượng phần trăm tinh dầu (ml/g) a: thể tích tinh dầu đọc được sau khi cất (ml) c: thể tích xylen đọc được trong ống hứng trước khi cất tinh dầu (ml) b: khối lượng dược liệu đã trừ độ ẩm (g) 6.1.2 Định lượng tinh dầu trong long não(Cinnamomum camphora) Dụng cụ định lượng: dụng cụ ghi trong DĐVN IV Phương pháp tiến hành: - Cho xylen vào dụng cụ cất tinh dầu Lắp bình cầu dung tích 500ml, có chứa 200ml nước cất vào đầu A của dụng cụ cất. Thêm nước cất qua phễu N để mức nước đạt đến B và H. Dùng pipet có vạch cho vào bộ phận ngưng tụ J qua nhánh K 0,5ml xylen. Cất trong 30 phút (tốc độ cất 2 - 3ml/phút). Ngừng cất. Sau 15 phút đọc thể tích xylen ở phần chia vạch (điều chỉnh khóa M để xylen nằm ở phần chia vạch). - Cất tinh dầu Tiểu luận dược liệu 12 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Cho vào bình cầu 20g dược liệu đã được tán thành bột nhỏ. Cất trong 4 giờ (tốc độ cất 2 - 3ml/phút). Ngừng cất. Sau 15 phút đọc thể tích tinh dầu ở phần chia vạch (điều chỉnh khóa M để tinh dầu nằm ở phần chia vạch). - Tính hàm lượng tinh dầu theo công thức (2). Ngoài long não có thể sử dụng các dược liệu khác để định lượng. Các thông số cần thiết về lượng dược liệu, lượng nước và thời gian cất được ghi ở bảng sau: Tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn 1 Tên dược liệu Lượng dược Lượng nước liệu (g) (ml) Bạc hà 50 400 Bạch truật 50 400 Cúc hoa 50 400 Can khương 50 400 Độc hoạt 50 400 Hồ tiêu đen 50 400 Hương phụ 50 400 Khương hoạt 50 400 Long não (lá tươi) 50 400 Nhân trần 50 400 Nghệ vàng 50 400 Thiên niên kiện 50 400 Trần bì 50 400 Xuyên khung 50 400 Tinh dầu có tỷ trọng lớn hơn 1 Tên dược liệu Lượng dược Lượng nước liệu (g) (ml) Đinh hương 10 200 Châu thụ (cành) 50 400 Địa liền 20 200 Đương quy 50 400 Hương nhu trắng (lá 50 400 tươi) Thạch xương bồ 20 200 Xá xị (gỗ) 20 200 6.2. Kiểm nghiệm tinh dầu Tiểu luận dược liệu 13 Thời gian cất (giờ) 2 4 2 4 4 3 4 4 2 2 4 3 2 4 Thời gian cất (giờ) 4 3 4 4 2 4 4 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN 6.2.1. Phát hiện tạp chất và chất giả mạo trong tinh dầu a. Phát hiện nước Cho vào ống nghiệm khô một ít tinh thể đồng sulfat khan (có màu trắng xanh) rồi nhỏ từng giọt tinh dầu. Lắc đều. Để yên 15 phút. Nếu trong tinh dầu có nước, đồng sulfat sẽ chuyển sang màu xanh lam. b. Phát hiện cồn - Nhỏ từng giọt nước vào trong ống nghiệm có chứa 1ml tinh dầu, lắc đều. Nếu đục như sữa là trong tinh dầu có cồn. - Cho vào bình cassia 5ml tinh dầu, thêm 75ml nước. Lắc đều. Thêm nước để dồn phần tinh dầu lên phía cổ bình có chia vạch. Nếu lượng nước giảm rõ rệt là trong tinh dầu có cồn. c. Phát hiện dầu hỏa, dầu parafin Trong một ống đong dung tích 100ml, cho vào 80ml ethanol 80%. Nhỏ từng giọt tinh dầu đến hết 5ml. Tinh dầu sẽ tan trong alcol, nếu có dầu hỏa hoặc dầu parafin thì các chất này sẽ không tan va nổi lên bề mặt của chất lỏng. 6.2.2. Kiểm nghiệm tinh dầu bằng sắc ký lớp mỏng Các mẫu tinh dầu: tinh dầu Quế, tinh dầu Đinh hương, Tinh dầu Hương nhu trắng, Tinh dầu Sả,… Bản mỏng sắc ký: Bản mỏng tráng sẵn silicagel GF 254 (Merck), hoạt hóa ở 1100C trong 1 giờ. Dung môi khai triển: n-hexan - ethyl acetat (85 : 15). Sau khi khai triển sắc ký, hiện màu các vết bằng các thuốc thử: Thuốc thử vanilin acid sulfuric, thuốc thử diazo, thuốc thử 2,4 - dinitrophenylhydrazin (2,4 - DNPH). Chú ý: đối với thuốc thử diazo và thuốc thử 2,4 - DNPH thì hiện màu ở nhiệt độ phòng, còn với thuốc thử vanilin - acid sulfuric thì sau khi phun sấy bản mỏng ở 105 0C trong 10 phút. Quan sát màu sắc, độ lớn của các vết với các thuốc thử khác nhau để rút ra nhận xét. II. Hoạt chất quan trọng của long não : camphor 1.Tác dụng dược lý: 1.1.Long não có tác dụng kích thích nhẹ dùng lục xoa mạnh có tác dụng gây đỏ da , xoa nhẹ lại có tác dụng mát lạnh như tinh dầu bạc hà. Long não còn có tác dụng gây tê tại chỗ. Tiểu luận dược liệu 14 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Đối với niêm mạc đường tiêu hóa, lonh nõa có tác dụng kích thích ,gây cảm giác dễ chịu vùng dạ dày ,dùng liều lớn gây nôn mửa . 1.2.Đối với hệ thân kinh trung ương :long não có tac dụng kích thích với liều lớn ,thuốc tác động vào vùng vận động của vỏ não và thân não, gây co giật.Với liều thường dùng không có tác dụng rõ rệt đối với hô hấp nếu hô hấp ở trạng thái ức chế mạnh ,long não lại có tác dụng kích thích . 1.3.Đối với hệ tuần hoàn : long não được sử dụng như một thuốc kích thích tim, có tác dụng rong trường hợp suy tuần hoàn hoặc suy tim cấp (có một số tác giả còn hoài nghi về tác dụng này của long não ). Thuốc có tác dụng cường tim kiểu digitalis hoặc adrenalin .Trên co tim bình thường , thuốc khong có tac dụng, chỉ khi tạn nên trạnh thái suy tim ,long não mới có tác dụng kích thích.Đối với khu vận mạch khi bị ức chế mạnh long não có tác dung gây hưng phấn làm cho mạch máo nội tạng co bóp, huyết áp tăng cao. Trong cơ thể động vật long não tạo thành một chất chuyển hóa trong nước có tác dụng cường tim rõ rệt, làm tăng huyêt áp và kích thích hô hấp. 1.4. Chuyển hóa trong cơ thể : long não đươc hấp thu dễ dàng qua niêm mạc da và bắp thịt; uống cũng đươc hấp thu nhan tróng ; chuyển hóa ở gan và bài tiết qua nươc tiểu. 2.Độc tính : Uống nhầm long não quá nhiều gây nên ngộ độc. Uống 0,2 -1,0g gây đau đầu ,chóng mặt, cảm giác nóng sốt tinh thần bị kích thích ,bôn chồn.Uống trên 0,2g thì thời gian đau đầu tạm thời yên tĩnh nhưng ngay sau đó lại có cảm giác vỏ não bị kích thích , gây co giật cuối cùng suy hô hấp và có thể dẫn tới tử vong.Phương pháp châm cứu ngộ độc là những biện pháp điều chỉnh triệu chứng .Có tài liệu cho biết long não bôi ngoài có trường hợp bị quá mẫn nghiêm trọng. 3.Tính vị và công năng. Theo lý luận y học cổ truyền, long não có vị cay tính nóng, vào hai kinh tâm và tỳ, có tác dụng thông cùng sát trùng , chỉ thống. 4.Công dụng Tiểu luận dược liệu 15 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN Lá long não kết hợp với lá thanh hao, lá khế ,lá thông nấu nươc tắm chữa lở loét. Rễ long não, 20-40g thái nhỏ ,phơi khô sắc với 200ml nước còn 50ml uống trong ngày , chữa đau bụng nôn mửa, kém tiêu hóa. Bột long não hay long não đặc đươc dung trong y hoc hiện đại và y học cổ truyền là tinh thể long não lấy đươc từ gỗ, rễ và lá cây long não bằng phương phap cất kéo hơi nước. Y học hiện đại gọi bột long não là camphor và dùng dưới dạng thuốc tiêm và thuốc nước .Dạng thuốc tiêm có dầu long não 10-20% và dung dịch natri camphosulfonat đươc dùng với liều 0.05-0.2g làm thuốc kích thích trung khu hô hấp và trung khu vận mạch trong những trường hợp suy hô hấp , suy tuần hoàn hoặc ngộ độc các thuốc ức chế thần kinh trung ương như thuốc gây mê. Dạng long não nước 0,1% đươc dùng uống với liều 0,01-0,2g chữa đau bụng nôn mửa ăn không tiêu. Cồn long não 10% là thuốc xoa bóp ngoài , có tác dụng tiêu viêm ,sát khuẩn giảm đau trong các bệnh đau khớp ,đau cơ ,viêm da mẩn ngứa ,chân tay lạnh. Còn trong y học cổ truyền dùng bột long não kết hợp với một số vị thuốc khác như sau : - chữa viêm họng ho đờm khò khè .Bột long não 1,5g ,phèn chua 7g, băng phiến đại bi 3g, tất cả tán nhỏ hocf tan trong một ít cồn them nươc ấm vừa đủ 30ml .Khi dùng lấy tăm bông tẩm thuốc bôi vào họng. Ngày vài lần. - Chũa hôi nách.Bột long não 0,4g ,gừng sống một miếng .Giã nhỏ trộn đều , lấy nước xoa vào nách .Ngày vài lần. Ở Trung Quốc ,long não được dùng trong những trường hợp sau : - Chữa đau răng.Long não 3g ,chu sa 3g .Nghiền thành bột xát vào chỗ đau răng. - Chữa đau nửa đầu . Long não 3g ,băng phiến 3g, nghiền thành bột mịn ,cuôn vào giấy ,đốt cháy rồi hít khói vào mũi. Ngoài ra ,long não phối hợp với xạ hương chữa trúng phong ,đột quỵ ,tinh thần mê sảng ,đau bụng nôn mửa. Tiểu luận dược liệu 16 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN C – KẾT LUẬN : Long não là loài cây được biết đén từ rất lâu và được trồng từ rất sóm ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản để lấy tinh dầu.Tinh dầu là một sán phẩm rất tốt và có giá trị trong y học cổ truyền và y học hiện đại.từ xưa người dân Trung quốc đã biết lấy tinh dầu thơm để sử dụng.Nó còn có tác dụng kháng khuẩn rất tốt.Cây long nõa còn làm cây bóng mát , có tán rộng ,lá xanh tốt quanh năm ngoài ra lá con có khả năng hấp thụ những kim loại nặng (như chì) làm sạch môi trường ,Lá cây long não có thể khai thác quanh năm là nguồn nguyên liệu giàu camphor ,linalol và cineol. Tài liệu tham khảo : 1. Đỗ Tất Lợi (1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Khoa học và Kĩ thuật. 2. Đỗ Tất Lợi (1985),Tinh dầu Việt Nam, NXB Y học. 3. Ngô Văn Thu (1999),Bài giảng Dược liệu tập I, Tài liệu dùng nội bộ. 4. Phạm Thanh Kỳ, Nguyễn Thị Tâm, Trần Văn Thanh (2002), Bài giảng Dược liệu Tập II, NXB Y học. Tiểu luận dược liệu 17 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN 5. Tào Duy Cần (2001), Thuốc nam, thuốc bắc và các phương thuốc chữa bệnh, NXB Khoa học kỹ thuật. 6. Tạp chí dược liệu. 7. Tạp chí dươc học. 8.Viện dược liệu (2002), Cây thuốc và động vật làm thuốc, tập I, II, NXB Y học. 9. Viện Dược liệu (1993), Tài nguyên cây thuốc Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ thuật. 10. Vũ Ngọc Lộ (1996), Những cây tinh dầu Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật. 11. Viện sinh thái tài nguyên sinh vật (2001), Tài nguyên thưc vật có tinh dầu Vieeyj Nam, tập I, NXB Nông nghiệp. 12. Abrégé de Matière Médicale, Tom 1, Paris Masson, 1981. 13. Gidemeister E ; F. Hoffmann, Die aetherischen Oele, Band I, II, IIIa, IIIb, IIIc, IV, V, VI, VII, Akademie – Verlag Berlin 1956- 1969. 14. Gueuther E., The Essential Oils, Vol. I, II, III, IV, V, New York, 1952 – 1956. 15. United Nations office on drugs and crime (UNODC), “World drug report 2010”, United Nations Publication, Sales No. E.10.XI.13. Tiểu luận dược liệu 18 Ngô Văn Thống – lớp A1K63 – ĐH Dược HN 16. European Monitoring Centre for Drugs and Drug Addiction (EMCDDA), “The state of the drug problems in Europe, annual report 2010” 17. Direction of the Council of the Pharmaceutical Society of Great Britain, “The British Pharmaceutical Codex”, 1911, Cocae Folia, B.P. Coca Leaves 18. Béatrice Kaufmann, Philippe Christen, “Recent extraction techniques for natural products: Microwave-assisted extraction and Pressurized solvent extraction”, Phytochemical analysis 13, 105-113 (2002) 19. Michael D. Cole, “The analysis of controlled substances”, John Wiley & Sons, Ltd., 2003, p.97 – 111 20. Thông tin từ trang web: thuocdongduoc.vn 21. Thông tin từ trang web: agwabuzz.us 22. Thông tin từ trang web: nacionalte.com Tiểu luận dược liệu 19
- Xem thêm -