Tóm lược lý thuyết mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁ O DỤC VÀ ĐÀ O TẠ O TRƯỜNG ĐẠI KINH TẾ TPHCM _________ ____ ___ ____ __ Tiểu luận TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ NGƯỠNG BỘI CHI Nhóm thực hiện: NHÓM 4 1. Lê Minh Hưng ( 50) 2. Bùi Tuyết Kiều (59) 3. Vũ Thị Lan Hương (53 ) 4. Trần Thúy Vy (160 ) 5. Thân Thị Quỳnh Hương ( 52) Lớp: Kế Toán 002 VB2K15 TP.HCM 11/2012 Mục Lục I. LẠM PHÁT……………………………………………………………2 1. Khái niệm lạm phát………………………………………………………..2 2. Các nguyên nhân gây ra lạm phát………………………………………..4 3. Tác động của lạm phát…………………………………………………….7 4. Những biện pháp kiềm chế lạm phát……………………………………..8 II. Lạm phát mục tiêu……………………………………………………...9 1. Khái niệm về lạm phát mục tiêu…………………………………………..9 2. Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu…………………..9 3. Chính sách lạm phát mục tiêu và khả năng thực thi tại Việt nam…….11 III. Ngưỡng bội chi…………………………………………………………...12 1.Khái niệm bội chi…………………………………………………………..12 2. Khái niệm ngưỡng bội chi………………………………………………..12 3. Khi nào xảy ra bội chi ngân sách………………………………………...12 4. Sự tác động của bội chi với nền kinh tế………………………………….13 IV. Phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát…………..14 Tài liệu tham khảo……………………………………………………………18 1 I. LẠM PHÁT 1. Các khái niệm về lạm phát Lạm phát là hiện tượng tiền có trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, gia cả cú hầu hết các ,loại hàng hóa tăng lên. Các khái niệm về lạm phát Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế đọ lưu thông tiền giấy. Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại dấu hiệ giá trị được phát hành vào lưu thông để thay thế cho tiền đủ giá trị nhằm thực hiện vai trò trung gian trao đổi.Bản thân tiền giấy không có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa. Do đó, khi có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giávà lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Có nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm phát. Quan điểm cổ điển cho rằng: Lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành. Cụ thể, người ta dựa vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không. Chẳng hạn, nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ là 40%, khi tỷ lệ đó hạ xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức. Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền. Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vấn được tong trọng nhưng giá cả của hang hóa đều cao lên Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hang trong nền kinh tế. Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: 2 M.V=P.Y Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóadịch vụ được trao đổ (Y) vẫn giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng. Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh. Để khắc phục tình trạng này, cần dung biện pháp thích hợp đẻ thiết lập lại cân đối giữa tiền và hang hóa trong nền kinh tế. Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc tăng trưởng mức cúng tiền tệ cao. Thạt ra trong nhiều trường hợp chưa hẳn là như vậy, nhà nước có thể tăng cung ứng tiền tệ mà không làm cho giá cả tăng, không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thong, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa ( tư liệu tiêu dung, tư liệu sản xuất và hang hóa sức lao động).Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát.Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa. Thật ragias cả đòng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi. Có nhiều nhân tố khác nhau gây ra lạm phát. Và mỗi nhân tố có thể giải thích theo các lý thuyết khác nhau. 2.Các nguyên nhân gây ra lạm phát 2.1. Lý thuyết số lượng tiền tệ về lạm phát. Khi đề cập mối quan hệ giữa tiền tệ và lạm phát, Friedman cho rằng “lạm phát luôn luôn và bất cứ ở đâu đều là hiện tượng tiền tệ”. Khi đó lạm phát được định nghĩa 3 như một sự tăng giá nhanh và liên tục. Hầu hết cấc nhà kinh tế học thuộc trường phái tiền tệ, hoặc trường phái Keynes cũng đồng ý với nhận định của Friedman. Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ: Trước hết, bằng việc sử dụng phân tích của các nhà kinh tế tiền tệ chúng ta hãy xem xét kết quả gia tăng cung tiền tệ liên tục được minh họa ở hình sau: AS4 P4 P3 AS3 4 AS2 3’ 3 AS1 2’ P2 2 1’ 1 P1 AD1 AD2 AD3 AD4 4 Khởi đầu nền kinh tế cân bằng ở giao điểm giữa cung và cầu điểm 1 (giao nhau giữa AD1 và AS1 ). Nếu cung tiền tăng qua mỗi năm, làm cho tổng cầu dịch chuyển sang phải đến AD2 khi đó nền kinh tế tiến đến cân bằng ở điểm 1’với đặc điểm: sản lượng gia tăng,thất nghiệp giảm. Thế nhưng, với sự mở rộng sản xuất đến lượt nó sẽ làm gia tăng chi phí và đường AD2 sẽ lập tức di chuyển sang trái, cắt đường AS2 tạo ra điểm cân bằng mới ở điểm 2, với mức giá tăng từ P1 tới P2 . Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăng thì mức giá tăng và lạm phát xảy ra. Nghĩa là M tăng dẫn đến P tăng. Trong phân tích của các nhà tiền tệ, cung tiền được xem như là nguồn duy nhất làm dịch chuyển đường cầu AD, không có yếu tố khác làm di chuyển nền kinh tế từ điểm 1 đến 2 và 3 và hơn nữa - Quan điểm thuộc trường phái của Keynes: Giống như trường phái tiền tệ, quan điểm thuộc trường phái Keynes cũng cho rằng cung tiền gia tăng liên tục sẽ có tác động đường tổng cung và tổng cầu như hình 1. Tuy nhiên, điển khác biệt ở đây là trường phái Keynes đưa vào các yếu tố như chính sách tài khóa và những cú sốc của cung để phân tích tác động đến tổng cung và tổng cầu. Từ lập luận trên, trường phái Keynes cho rằng khi nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng, chính phủ có thể thực hiện một chính sách kích cầu thì chắc chắn sẽ thu được kết quả tích cực trong ngắn hạn. + Khắc phục được khủng hoảng kinh tế + Giảm thiểu được tình trạng thất nghiệp Trường hợp này, lạm phát được chính phủ chủ động sử dụng như là một công cụ để kích thích tăng trưởng kinh tế. Thực tiễn cho thấy, từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai cho đến những năm đầu của thập niên 70, lạm phát được sử dụng như một 5 chính sách kinh tế cơ bản và chủ yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước tư bản. 2.2 Lý thuyết lạm phát do cầu kéo Lạm phát cầu kéo xảy ra khi mức tổng cầu tăng nhanh hơn so với mức cung. Một sự gia tăng tổng cầu có thể là người tiêu dùng tiêu dùng nhiều hơn (chẳng hạn do lãi suất giảm, thuế giảm, thu nhập tăng…); các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn (do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế ở tương lai); chính phủ tiêu dùng nhiều hơn do thực hiện đẩy mạnh chính sách trợ cấp xã hội, chính sách kích cầu để phát triển kinh tế. Và lạm phát xảy ra khi mà tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung. Quan điểm các nhà kinh tế cổ điển: Theo các nhà kinh tế cổ điển, với nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, họ cho rằng bản thân nền kinh tế tự điều chỉnh để đạt được mức sản lượng (Y) tiềm năng và nguồn lực sử dụng toàn dụng, cho nên không cần có sự can thiệp của chính phủ trong dài hạn. Còn trong ngắn hạn cho thấy chính sách mở rộng tiêu dùng của chính phủ có làm dịch chuyển tổng cầu sang phải, kéo theo sản lượng gia tăng trong ngắn hạn. Thế nhưng, chính sự gia tăng giá cả sẽ cuốn trôi sự gia tăng sản lượng trong dài hạn. Quan điểm các nhà kinh tế thuộc trường phái Keynes: Các nhà kinh tế thuộc trường phái Keynes cho rằng, thị trường không vận hành một cách hoàn hảo. Cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ cũng không thể dịch chuyenr đường tổng cầu sang trái liên tục, bởi vì có sự giới hạn gia tăng chi tiêu và giảm thuế. Thay vào đó, các nhà hoạch định chính sách phải viện đến chính sách mở rộng tiền tệ: sự gia tăng liên tục mức cung tiền tệ và vì thế tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao, lạm phát xảy ra. 6 2.3Lạm phát do chi phí đẩy : Lạm phát do chi phí đẩy là khi chi phí gia tăng một cách độc lập với tổng cầu. Chẳng hạn, tiền lương gia tăng do áp lực từ quyền lực công đoàn, từ chính sách điều chỉnh tăng lương của chính phủ. Hay doanh nghiệp có quyền lực thị trường (độc quyền , nhóm độc quyền), có thể đẩy giá tăng lên độc lập với tổng cầu để kiếm lợi nhuận cao hơn. Đó là chi phí đẩy. 3.Tác động của lạm phát Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùy theo mức độ của nó. Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể, còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại rất nghiêm trọng đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân. - Tác động phân phối lại thu nhập và của cải : Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả các loại tài sản nói chung đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại. - Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm : giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến. Khi lạm phát tăng lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi lạm phát giảm xuống thì thất nghiệp tăng lên. Nhà kinh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp thấp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn. - Các tác động khác : Trong điều kiên lạm phát cao và không dự đoán trước được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh 7 thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, những ngành sản xuất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn. Trong điều kiện các nhận tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái. Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu. Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chống, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán. Ngoài ra, lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được làm cho nguồn ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái. 4. Những biện pháp kiềm chế lạm phát -Các biện pháp kiềm chế lạm phát rất đa dạng. Tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia mà có thể áp dụng những biện pháp khác nhau. Có thể chia các biện pháp kiềm chế lạm phát thành hai loại : những biện pháp cấp bách và những biện pháp chiến lược. - Những biện pháp cấp bách : Khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát cao hoặt siêu lạm phát, để kiềm chế lạm phát các nước thường áp dụng những biện pháp tình thế như biện pháp về chính sách tài khóa, thắt chặt tiền tệ, kiềm chế giá cả và biện pháp đóng băng lương để kiềm chế giá. - Những biện pháp chiến lược : đây là biện pháp nhằm tác động đồng bộ lên mọi mặt hoạt động của nền kinh tế, với ý tưởng tạo ra một sức mạnh về tiềm lực kinh tế của đất nước, tạo cơ sở để ổn định tiền tệ vững chắc. Trong thực 8 tiễn những biện pháp thường được áp dụng là : xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, đổi mới chính sách tài chính công, thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh hoàn toàn, dùng lạm phát để chống lạm phát. II. Lạm phát mục tiêu 1. Khái niệm về lạm phát mục tiêu: Lạm phát mục tiêu là một trong những khuôn khổ chính sách tiền tệ mà theo đó, ngân hàng trung ương (NHTW) hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát và NHTW cam kết đạt được những mục tiêu này 2. Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu Các điều kiện cơ bản để một quốc gia có thể theo đuổi được khuôn khổ lạm phát mục tiêu có thể được chia thành 4 nhóm chính. -Nhóm điều kiện đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất đó là NHTW được trao quyền cao và sự tín nhiệm để theo đuổi lạm phát mục tiêu: + Ngân hàng Trung ương phải có quyền đặc biệt để theo đuổi mục tiêu lạm phát và tự mình đặt ra các công cụ của chính sách tiền tệ. +Công chúng phải được thông báo về khuôn khổ chính sách tiền tệ và việc thực hiện chính sách tiền tệ. Nhóm điều kiện thứ hai liên quan đến vấn đề đảm bảo mục tiêu lạm phát là mục tiêu chính, không phải là mục tiêu hỗ trợ cho mục tiêu khác. Nhóm này bao gồm các điều kiện: - Chính sách tiền tệ không bị chi phối bởi các ưu tiên về ngân sách Chính phủ; Chính phủ tăng ngân sách bằng việc huy động các nguồn vốn trên thị trường tài chính và hạn chế tuyệt đối việc cấp tín dụng cho Chính phủ. - Vị thế bên ngoài đủ mạnh để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi mục tiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu. 9 - Khi bắt đầu thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu thì lạm phát cần ở mức thấp để đảm bảo cho sự điều chỉnh kiểm soát tiền tệ thích hợp. Nhóm điều kiện thứ 3 liên quan đến vấn đề phát triển và ổn định thị trường tài chính để thực hiện khuôn khổ này. Nhóm này bao gồm các điều kiện: - Cần phải có thị trường tài chính ổn định để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi các mục tiêu lạm phát và không bị tác động bởi các lo lắng về sức khoẻ của thị trường tài chính. - Thị trường tài chính cần phát triển ở mức nhất định để đảm bảo chính sách tiền tệ được thực hiện bằng các công cụ thị trường tài chính và đảm bảo việc thực hiện chính sách tiền tệ không gặp rắc rối do sự yếu kém của thị trường tài chính. Nhóm điều kiện thứ 4 liên quan đến các công cụ của chính sách tiền tệ: - NHTW phải ở vị thế tác động đến lạm phát thông qua các công cụ chính sách và cần thiết phải hiểu các mối quan liên kết giữa vị thế chính sách và lạm phát. - Các mục tiêu về tỷ giá phải hỗ trợ cho mục tiêu lạm phát. Do đó, NHTW nên cố gắng làm sáng tỏ vấn đề can thiệp vào thị trường ngoại hối và các thay đổi về chính sách lãi suất để tác động đến tỷ giá chỉ nhằm mục đích làm giảm nhẹ ảnh hưởng của các cú sốc tạm thời. - Chính sách tài khoá và các hoạt động quản lý nợ công cộng nên hỗ trợ cho mục tiêu lạm phát. Các nhóm điều kiện trên không có nghĩa tạo thành các điều kiện tiên quyết để thực hiện lạm phát mục tiêu. Điều đó có nghĩa là không nhất thiết phải có tất cả các điều kiện này thì một quốc gia mới có thể thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Thực tế đã cho thấy mặc dù gặp khó khăn trong việc thoả mãn một số điều kiện, khuôn khổ lạm phát mục tiêu vẫn hoạt động tốt. Quyết định có theo đuổi khuôn khổ lạm phát mục tiêu cần phải dựa trên sự cân nhắc thận trọng các chi phí và lợi ích của khuôn khổ lạm phát mục tiêu so với các khuôn khổ khác. 10 * Các bước: Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động tiền tệ ngân hàng theo hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ hai, cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của NHTW trở thành NHTW hiện đại. Thứ ba, chuẩn bị điều kiện về hạ tầng kỹ thuật để chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu sau năm 2010. Thứ tư, tái cơ cấu hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng theo chuẩn mực của Basel I tiến tới Basel II, đặc biệt chú trọng chuẩn mực về an toàn và quản trị rủi ro. Thứ năm, tái cơ cấu toàn diện và triệt để các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng nhân dân, bao gồm việc cổ phần hoá, tái cơ cấu sở hữu và xây dựng thể chế. 3. Chính sách lạm phát mục tiêu và khả năng thực thi tại Việt nam Nhà báo Võ Văn Minh cho rằng có một số điểm cần lưu ý khi áp dụng chính sách này ở Việt nam như sau sau : + Thứ nhất, sự chủ động của ngân hàng trung ương. Trong một thời kỳ dài vừa qua, ngân hàng nhà nước với tư cách là ngân hàng trung ương của Việt nam luôn là thành viên của Chính phủ. Do vậy, có hạn chế về mặt độc lập để đưa ra chính sách tiền tệ. NHNN khó có thể từ chối những lời đề nghị bơm tiền tạo thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng của các thành viên khác của Chính phủ được. Ngoài ra, sự chủ động của NHNN hiện nay còn hạn chế khi các chỉ tiêu hàng năm được xây dựng và gần như là áp đặt cho NHNN như tăng trưởng tín dụng; tổng phương tiện thanh toán; dự trữ ngoại hối; tỷ giá. +Thứ hai, Cơ chế đối thoại và xây dựng mục tiêu lạm phát. Đây là điều kiện 2, tưởng chừng như đơn giản nhưng theo tôi là khá khó khăn đối với tình hình Việt nam trong thời gian tới. Điều kiện này đòi hỏi cơ chế minh bạch thông tin vĩ mô. Hiện nay thị trường gặp rất nhiều khó khăn để tiếp cận những thông tin vĩ mô, và thị trường càng không biết được cơ chế kỹ trị của NHNN. Như vậy, để xây dựng 11 được chính sách ITP, giao thức truyền thông thông suốt của cả hệ thống tài chính và thị trường phải được thực hiện. + Thứ ba, Sự cần thiết của việc áp dụng chính sách ITP. Mặc dù lạm phát là điều xấu, nhưng nếu không có lạm phát chưa chắc sẽ tốt cho nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển như Việt nam. Trong vài năm tới, có thể Việt nam chưa bước vào nhóm những nước phát triển, nên các chính sách để tăng cường nghiên cứu phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng.v.v. cần phải xây dựng. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng được khi những kỳ vọng tăng giá vẫn còn và người dân vẫn tích cực tham gia vào quá trinh tích lũy và đầu tư. Nếu bước vào xã hội tiêu dùng quá sớm có thể ngăn cản một phần việc tích lũy xã hội và hạn chế đầu tư xã hội. Như vậy, với những phân tích trên, tôi cho rằng cần phải một thời gian nữa thì chính sách ITP mới nên được áp dụng tại Việt nam. Có lẽ, áp dụng một phần của chính sách như là xác định một mục tiêu cụ thể mà tạm thời chưa xây dựng cơ chế đối thoại giữa NHNN và thị trường cũng có thể chấp nhận được. III- Ngưỡng bội chi 1. Khái niệm bội chi Bội chi là sự thiếu hụt tài khóa khi chi ngân sách nhà nước lớn hơn thu ngân sách nhà nước dẫn đến sự thiếu hụt tiền tệ. 2. Khái niệm ngưỡng bội chi Ngưỡng bội chi là một ngưỡng mức mà trong đó nhà nước vẫn có thể kiểm soát được mức độ bội chi của ngân sách. Nếu bội chi vượt qua ngưỡng mức này thì có những tác động mạnh đến nền kinh tế và làm gia tăng lạm phát. Ở Việt Nam mức ngưỡng bội chi ngân sách nhỏ hơn 5% GDP được xem là ngưỡng an toàn. 3. Khi nào xảy ra bội chi ngân sách 12 Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước: - Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, hoặc bị ảnh hưởng của thiên tai và chiến tranh thu ngân sách bị giảm sụt. Bên cạnh đó, các nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi bội chi ngân sách nhà nước tăng lên. Nguyên nhân cũng có thể là do nhà nước không sắp xếp được nhu cầu chi tiêu hợp với khả năng, cơ cấu đầu tư và chi tiêu không hợp lý gây lãng phí. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi bội chi ngân sách nhà nước. 4. Sự tác động của bội chi với nền kinh tế Nhìn chung bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng kinh tế không tốt vì nó biểu hiện cho sự thiếu hụt nguồn lực so với nhu cầu. Bội chi kéo dài làm cho nợ công gia tăng, tạo sức ép đối với chính sách quản lý nợ, chèn ép đầu tư của khu vực gây ra gia tăng lạm phát. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp thì chi ngân sách là một trong những công cụ chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để đẩy mạnh hoạt 13 động kinh tế. Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách. Ở nước ta, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng, chi cho đầu tư phát triển kinh tế và mức bội chi kéo dài đã làm cho số nợ nước ngoài mà ngân sách nhà nước phải trả tăng lên khá lớn trong đó bao gồm nợ quá hạn. IV- Phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát Nhìn lại thực trạng bội chi và gia tăng lạm phát ở Việt Nam:  Giai đoạn từ năm 1986 – 1990 : bội chi ngân sách là một yếu tố quan trọng gây nên lạm phát cao trong thập kỷ này. Nguyên nhân do việc bù đắp thâm hụt ngân sách bằng sự phát hành tiền : 59,7% mức thâm hụt trong thời gian 5 năm được thanh toán bằng cách phát hành tiền : 9,3 tỷ đồng năm 1985; 22,9 tỷ đồng năm 1986; 89,1 tỷ đồng năm 1987; 450 tỷ đồng năm 1988; 1.655 tỷ đồng năm 1989 và 1.200 tỷ đồng năm 1990. Điều này đã làm cho đồng tiền bị mất giá trầm trọng.  Giai đoạn từ năm 1991 – 1995 : tình trạng thâm hụt ngân sách có xu hướng giảm qua các năm nhưng lạm phát vẫn còn cao, và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài. Tỷ lệ bội chi ngân sách bình quân giai đoạn này so với GDP chỉ ở mức 2,63 %.  Giai đoạn từ năm 1996 – 2000 : tỷ lệ bội chi bình quân 3,87% GDP, đây là thời kỳ suy thoái do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở các 14 nước Đông Nam Á, mức bội chi ngân sách không tác động gây ra lạm phát.  Theo bảng thống kê trên ta có tỷ lệ thâm hụt ngân sách( gồm chi trả nợ gốc) trung bình từ năm:2003-2006: 4.925%, 2007-2009 là 5.733%, 20102012 là 5.1% Giai đoạn 2010 – nay : bội chi ngân sách về cơ bản được cân đối ở mức 5,1% GDP. Dự báo trong năm 2012, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 741,5 nghìn tỷ, tăng 0,14% so với dự toán và tăng 5,3% so với năm 2011. Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 904,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,11% so với dự toán và tăng 14,% so với năm 2011. Bội chi ngân sách nhà nước bằng 4,8% GDP. Bảng Thống kê về thâm hụt ngân sách và nợ công của Việt Nam của Bộ Tài chính cũng đưa ra hai con số về mức độ thâm hụt ngân sách đó là: (i) thâm hụt ngân sách bao gồm cả chi trả nợ gốc; và (ii) thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc. Chi tiêu ngân sách ở mức ngân sách cho phép nhằm 15 đẩy đầu tư phát triển tăng lên và tiếp theo là đưa tăng trưởng kinh tế lên cao mà không kéo theo lạm phát cao. Tăng chi ngân sách để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, lúc này sẽ kích thích đầu tư phát triển giúp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Nhưng nếu tăng chi quá mức sẽ gây thâm hụt ngân sách dẫn đến gánh nặng nợ do bù đắp thâm hụt bằng việc đi vay nợ quá lớn hoặc phát hành thêm tiền. Việc bơm thêm nguồn tiền vào nền kinh tế cộng hưởng với việc đẩy đầu tư phát triển sẽ dẫn đến việc kích cầu ở chu kỳ kinh tế sau gây ra nguồn cung không đáp ứng nhu làm giá cả tăng cao và đồng tiền bi mất giá gây nên lạm phát. Mức bội chi càng cao thì càng đẩy lạm phát gia tăng Đứng trước tình hình lạm phát ngày càng có chiều hướng gia tăng. Kiềm chế lạm phát ở mức mục tiêu theo kế hoạch đề ra luôn là bài toán khó của nhà nước. - Để kiềm chế lạm phát ở mức mục tiêu buộc chính phủ phải đưa ra nhiều chính sách như hạn chế in tiền, vay nợ trong nước để bù đắp thiếu hụt ngân sách, tăng lãi suất tiền gửi… Trong đó phải hạn chế bội chi ngân sách ở dưới mức 5% GDP. - Nếu nhà nước in tiền, vay thương mại nước ngoài để bù đắp bội chi ngân sách sẽ làm gia tăng lạm phát, điều này ảnh hưởng đến lạm phát mục tiêu mà nhà nước hướng tới. Vì nhà nước luôn muốn kiềm chế lạm phát mở mức vừa phải. - Ngân sách nhà nước chỉ nên bội chi cho đầu tư phát triển và phải được quản lý chặt chẽ. Nếu bội chi ngân sách do tiêu dùng thường xuyên sẽ gây ra lạm phát mạnh. Vì bội chi cho đầu từ phát triển sẽ làm gia tăng GDP, còn bội chi do tiêu dùng thì không. - Giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi có mối quan hệ tác động qua lại. Để kiềm chế lạm phát ở mức mục tiêu buộc chính phủ phải cân nhắc các 16 khoảng chi tiêu ngân sách cho phù hợp. Nếu chi tiêu vượt ngưỡng cho phép sẽ đẩy lạm phát không còn ở mức kiểm soát được. 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nhập môn tài chính tiền tệ - NXB Lao Động Xã Hội 2008 – PGS. TS. Sử Đình Thành & Vũ Thị Minh Hằng. 2. Website: http://www.imf.org/external/pubs/ft/issues/issues15/index.htm http://www0.gsb.columbia.edu/faculty/fmishkin/PDFpapers/01ENCYC.pdf 3. K, Marx, Tư Bản, Quyển 1, tập 1, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1993 4. Lê Văn Tư, Tiền Tệ, Ngân Hàng, Thị Trường tài chính, NXB Thống Kê, 2001 18
- Xem thêm -