Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự việt nam

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 62 |
  • Lượt tải: 6
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT BỘ MÔN TƯ PHÁP LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 31 (2005 - 2009) ĐỀ TÀI: TỘI TÀIhọc SẢN Trung tâm Học liệu ĐHCƯỚP Cần ThơGIẬT @ Tài liệu tập và nghiên cứu TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: TS. PHẠM VĂN BEO LÊ THỊ RÀNG MSSV: 5054901 LỚP: TƯ PHÁP 01 - K31 Cần Thơ, 11/2008 Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam MỤC LỤC NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ...................................................................................... 1 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ................................................................................ 1 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU .................................................................................. 1 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................................... 2 5. CƠ CẤU CỦA ĐỀ TÀI ...................................................................................... 2 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN .............. 3 1.1. Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu. ................................................ 3 1.2. Khái niệm về tội cướp giật tài sản. ................................................................... 5 1.3. Nguyên nhân và điều kiện của tội cướp giật tài sản. ........................................ 6 1.4. Đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản.................................................... 7 1.5. Lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy định về tội cướp giật tài sản. ........................................................................................................................... 8 1.5.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản trước Cách Mạng Tháng Tám. ...................................................................................... 8 1.5.2.Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản sau Cách Mạng Tháng Tám (Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985). .............. 11 1.5.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1999. 11 1.5.4. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ khi Bộ luật hình sự 1999 ra đời cho đến nay. .......................................................... 12 Trung1.6. tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Quy định của một số nước trên thế giới về hành vi đuợc xem là cướp giật tài sản. ......................................................................................................................... 13 1.6.1. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản. ........................................................................................................... 13 1.6.2. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Thụy Điển. ......................................................................................................... 14 CHƯƠNG 2: TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN........................................................... 16 TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ................................................................ 16 2.1. Khái niệm về tội cướp giật tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành....................................................................................................... 16 2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản. .............................................. 17 2.2.1. Về mặt chủ thể của tội cướp giật tài sản.................................................. 17 2.2.2. Về mặt khách thể của tội cướp giật tài sản. ............................................. 17 2.2.3. Về mặt khách quan của tội cướp giật tài sản. .......................................... 18 2.2.4. Về mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản. .............................................. 20 2.3. Các trường hợp phạm tội cụ thể. .................................................................... 21 2.3.1. Phạm tội cướp giât tài sản không có tình tiết định khung hình phạt. ...... 21 2.3.2. Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự. ....................................................................................................... 22 2.3.3. Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tai khoản 3 Điều 136 Bộ luật hình sự. ....................................................................................................... 26 2.3.4. Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 136 Bộ luật hình sự. .................................................................................................. 27 Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam 2.3.5. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cướp giật tài sản. ................. 29 2.4. So sánh tội cướp giật tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác. ............ 29 2.4.1. So sánh tội cướp giật tài sản với tội cướp tài sản. ................................... 29 2.4.2. So sánh tội cướp giật tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản. ......................... 31 2.4.3. So sánh tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. ....... 33 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG, CHỐNG TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN. ....................... 36 3.1. Tình hình tội cướp giật tài sản trong phạm vi cả nước. ................................. 36 3.2. Tình hình tội cướp giật tài sản trên một số địa bàn nhất định. ....................... 36 3.2.1. Tình hình tội cướp giật tài sản ở Thành phố Hồ Chí Minh. .................... 36 3.2.2. Tình hình tội cướp giật tài sản ở Thành phố Hà Nội. .............................. 37 3.2.3. Tình hình tội cướp giật tài sản ở Tiền Giang........................................... 39 3.2.4.Tình hình tội cướp giật tài sản ở Kiên Giang. .......................................... 40 3.3. Những bất cập và các giải pháp phòng, chống tội cướp giật tài sản. ............. 40 3.3.1. Những bất cập và nguyên nhân của những bất cập trong giải quyết vụ án cướp giật tài sản. ................................................................................................ 40 3.3.2. Các giải pháp nhằm phòng, chống tội cướp giật tài sản. ......................... 49 KẾT LUẬN. ............................................................................................................. 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 67 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam LỜI NÓI ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Trong những năm gần đây, hoạt động của bọn tội phạm diễn biến khá phức tạp, đặc biệt là tội phạm về cướp giật tài sản của công dân trên đường phố trong phạm vi toàn quốc ngày càng có xu hướng gia tăng. Đây là một loại tội phạm được xem là có tính nguy hiểm cao, nó gây thiệt hại nghiêm trọng không những đến tài sản mà còn xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì thế, việc tìm hiểu về loại tội phạm này trong tình hình hiện nay là rất cần thiết và đây cũng chính là lý do em chọn đề tài này. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Với mong muốn hiểu biết sâu, rộng hơn về tội cướp giật tài sản được quy định Trung tâm136 Học ĐH sự Cần liệu tậpphần và nghiên tại Điều Bộ liệu luật hình ViệtThơ Nam @ nămTài 1999. Quahọc đó, góp vào công cứu tác tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ hơn về phương pháp, thủ đoạn gây án của bọn cướp giật tài sản. Từ đó, có thể nâng cao tinh thần cảnh giác và phòng, chống làm cho bọn cướp giật tài sản khó có địa bàn hoạt động. Muốn thực hiện được như vậy, thì mỗi chúng ta, không phải lúc nào cũng chỉ biết trông chờ vào sự bảo vệ, giúp đỡ của các cơ quan chức năng mà tự bản thân mình cũng phải tìm hiểu để biết cách phòng chống, ngăn ngừa, đối phó đối với tội phạm này, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác để tự bảo vệ tài sản, tính mạng của bản thân và của toàn xã hội. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nội dung đề tài luận văn mang tính chất là nghiên cứu những vấn đề chuyên sâu vào tội cướp giật tài sản, nên đòi hỏi phải có sự quan tâm và hiểu biết về loại tội phạm này. Việc nghiên cứu dưới góc độ là luận văn nên chỉ tập trung, xoáy sâu vào phân tích những vấn đề mang tính chất cơ bản, đi vào nội dung những quy định của pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản. Trên cơ sở tham khảo thực trạng tội cướp giật tài sản ở Việt Nam hiện nay, thấy được những hạn chế và từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao công tác phòng, chống có hiệu quả đối với tội phạm này. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 1 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong đề tài này em đã sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: thu thập, tổng hợp tài liệu, số liệu, sau đó so sánh đối chiếu, phân tích, đánh giá những vấn đề có liên quan. Ngoài ra, em còn sử dụng phương pháp kết hợp giữa thực tiễn và lí luận để giải quyết nhằm làm rõ vấn đề hơn. 5. CƠ CẤU CỦA ĐỀ TÀI Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục tài liệu tham khảo thì đề tài luận văn của em gồm có 3 phần. Chương 1. Khái quát chung về tội cướp giật tài sản Chương 2. Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam Chương 3. Thực trạng tội cướp giật tài sản và các giải pháp nhằm phòng, chống tội cướp giật tài sản. Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đã có sự hướng dẫn tận tình của giảng viên, và bản thân em cũng đã có sự cố gắng. Song, do kiến thức và khả năng nghiên cứu của em có hạn nên đề tài chưa thật sự hoàn chỉnh lắm. Em mong đề tài này sẽ góp phần giúp cho bạn đọc tìm hiểu và qua đó tuyên truyền ngày càng rộng rãi cho mọi người nên sống và làm việc theo pháp luật. Vì thế, em rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 2 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1.1. Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu. Điều 15 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng”. Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, Nhà nước ta cũng tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của Nhà nước, của các tổ chức và mọi công dân. Ở Việt nam kể từ khi có Bộ luật hình sự 1985, tài sản của Nhà nước, tập thể và của công dân được bảo vệ một cách hữu hiệu bằng các quy phạm pháp luật hình sự. Bộ luật hình sự 1985 chia thành hai nhóm các hành vi xâm phạm sở hữu tài sản gồm: các hành vi xâm phạm sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa, và các hành vi xâm phạm đến tài sản của công dân. Thế nhưng, trước sự chuyển biến không ngừng của tình hình kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới, Bộ luật hình sự 1985 mặt dù đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung, một số điều của Bộ luật hình sự đã được Quốc hội Trung liệu CầnViệt ThơNam @thông Tài liệu học28tập nghiên nướctâm CộngHọc hòa xã hộiĐH chủ nghĩa qua ngày - 12và - 1989, ngàycứu 12 - 8 - 1997, ngày 22 - 12 - 1992 và ngày 10 - 5 - 1997. Song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21 - 12 - 1999 đã thay thế Bộ luật hình sự 1985. Bộ luật hình sự 1999 đã nhập hai chương của Bộ luật hình sự 1985 (Chương IV: các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và Chương VI: các tội xâm phạm sở hữu công dân) thành một chương là các tội xâm phạm sở hữu. Quyền sở hữu về tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản. Vì vậy, các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến cả quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản hoặc có khi chỉ xâm phạm vào một trong ba quyền nói trên. Như vậy, các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của cá nhân. Khách thể của tội xâm phạm sở hữu là xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản. Tài sản GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 3 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam được đề cập đến ở đây có thể là tiền, vàng, bạc, đá quý, các đồ vật cụ thể hoặc các giá trị vật chất khác. Hành vi khách quan của tội xâm phạm sở hữu được thể hiện ở các dạng sau: - Hành vi chiếm đoạt tài sản: Người phạm tội cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản “của mình”…. Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng được thể hiện bằng hành động tích cực, cụ thể là luôn cố ý trực tiếp, mong muốn biến tài sản của người khác thành tài sản của mình. - Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: Một hình thức thấp hơn, cũng được thực hiện bằng sự chuyển dịch tài sản từ chủ thể khác, chủ thể quản lý tài sản mà mất khả năng thực tế thực hiện quyền chiếm hữu đối với tài sản. Ở đây, chủ thể phạm tội khẳng định sự mong muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình bằng cách thể hiện những thái độ định đoạt tài sản kể trên. - Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài sản: Là những hành vi được thực hiện thông qua các đối tượng tác động làm mất mát hoàn toàn hoặc từng phần giá trị tài sản, làm thất thoát, gây thiệt hại cho chủ sở hữu. Các hành vi xâm phạm sở hữu có thể được thực hiện bằng hành động hoặc được thực hiện bằng không hành động. Riêng các tội có tính chất chiếm đoạt chỉ có thể thực hiện dưới dạng hành động. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Đối với những tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao, các điều luật không quy định mức khởi điểm của giá trị tài sản để xử lý hình sự, chỉ quyết định giá trị tài sản ở những cấu thành tăng nặng. Những tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì mức khởi điểm giá trị tài sản để xử lý hình sự cũng khác nhau. Ngoài ra, các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm… không phải là dấu hiệu bắt buộc, trừ trường hợp luật quy định ở những cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Mặt chủ quan của tội xâm phạm sở hữu: - Đa số các tội xâm phạm sở hữu điều thực hiện với lỗi cố ý. Ngoại lệ, chỉ có một vài hành vi phạm tội có lỗi vô ý. Mục đích và động cơ phạm tội có thể là vụ lợi nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Mức độ thiệt hại về tài sản là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội thuộc nhóm tội này. Cá biệt có những hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của chủ sở hữu. - Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 4 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam - Người phạm tội có đủ năng lực tránh nhiệm hình sự và đạt đến một độ tuổi theo luật định thì phải chịu trách nhiệm hình sự. 1.2. Khái niệm về tội cướp giật tài sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự: “Người nào cướp giật tài sản của người khác thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”. Điều luật không quy định rõ hành vi cướp giật được thực hiện như thế nào, nhưng căn cứ vào lí luận và thực tiễn xét xử thì cướp giật tài sản là hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản trong tay người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm về tài sản rồi tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn nào khác nhằm uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu hay người quản lý tài sản. Như vậy, cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Điểm nổi bậc của tội cướp giật tài sản là ở thủ đoạn “nhanh chóng” và “tẩu thoát”. Người phạm tội lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản mà người quản lý đó khó có thể giữ được hoặc giằng lại được tài sản. Yếu tố bất ngờ trong tội cướp giật tài sản cũng là một dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này. Hành vi phạm tội đựợc thực hiện một cách công khai và trắng trợn, nhanh chóng. Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 là tội Trung tâm Họcquy liệu ĐH Thơ Tài họchình tậpsựvà nghiên phạm đã được định tại Cần Điều 131 và @ Điều 154liệu Bộ luật 1985. So với cứu Bộ luật hình sự 1985 thì Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung, nhất là đối với các yếu tố làm tình tiết định khung hình phạt, được quy định cụ thể hơn và dễ áp dụng hơn. Tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 có khung hình phạt nặng hơn tội cướp giật tài sản của công dân quy định tại Điều 151 và nhẹ hơn tội cướp giật tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 131 Bộ luật hình sự 1985. Về cơ cấu, tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 được cấu tạo thành 5 khoản (Điều 131 và Điều 154 Bộ luật hình sự 1985 quy định tội này chỉ có 3 khoản). Bên cạnh đó, nhà làm luật còn quy định thêm nhiều tình tiết là yếu tố định khung hình phạt mà Điều 131 và Điều 154 Bộ luật hình sự 1985 chưa quy định. Như gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác, giá trị tài sản,… gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, hình phạt bổ sung cũng được quy định ngay trong điều luật. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 5 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam 1.3. Nguyên nhân và điều kiện của tội cướp giật tài sản. + Trước hết là do sự sơ hở của một bộ phận quần chúng nhân dân, đa số là phụ nữ thiếu ý thức cảnh giác, thích phô trương tài sản, hay đeo đồ trang sức có giá trị lớn khi đi ra đường. Do giá trị tài sản lớn, gọn nhẹ dễ tiêu thụ… nên dễ bị kích động hành động của bọn tội phạm. Đặc biệt, do có một số người có tâm lý ngại tiếp xúc với cơ quan bảo vệ pháp luật, cho nên khi bị cướp giật mất tài sản đã không đến trình báo với các cơ quan chức năng, điều này làm cho bọn cướp giật tài sản ngày càng gia tăng do chưa bị phát hiện và xử lý triệt để. + Mặt khác, tình trạng nghiện hút gia tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng cũng làm gia tăng số vụ cướp giật, để có tiền hút hít, tiêm chít, bọn nghiện hút mất hết lý trí, bất chấp pháp luật. Ví dụ: Để có tiền hút, chít ma túy một số con nghiện đã đi tìm kiếm các đối tượng đang lưu thông trên đường chờ khi có sơ hở của nạn nhân thì ra tay cướp giật mà bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, thủ đoạn của bọn chúng thường rất táo bạo, liều lĩnh. + Ngoài ra, phải nói đến việc quản lý con cái của một số gia đình còn lỏng lẻo để chúng tự do liêu lổng, từ đó dễ bị bọn xấu lợi dụng, dụ dỗ đi vào con đường phạm pháp. Ví dụ: Xuất thân trong một gia đình thuần nông nhưng Hoàng và Huy là những Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu thanh nên lười lao động… Do đua đòi, hai tên bỏ nhà ra Hà Nội thuê trọ tại ngõ 30, đình Giáp Nhất, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân sống với bạn gái như vợ chồng. Ngoài thú ăn chơi xa xỉ, cả hai còn nghiện hút và ham mê đánh bạc bằng hình thức lô đề nên thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu tiền. Để đáp ứng những nhu cầu trên, bọn chúng đã bàn nhau thực hiện các vụ cướp giật trên quốc lộ 5A. Đối tượng mà Hoàng và Huy nhằm vào là phụ nữ đi đường có mang theo tài sản, để có tiền bọn chúng đã liên tục gây án. Điển hình như ngày 10/11. Vào khoảng 7h, trên quốc lộ 5A, hướng đi Hải Phòng, chúng cướp giật của chị Nguyễn Thị Thu Hồng, lúc đó đang đèo chị Trịnh Thị Nguyên, điều trú tại huyện Cẩm Giàng, một chiếc túi xách bên trong có nhiều giấy tờ cùng 1,2 triệu đồng tiền mặt. + Thủ phạm các vụ cướp giật đa phần điều thuộc con nhà khá giả. Tuy nhiên, do mải mê làm kinh tế các bậc phụ huynh không quan tâm đúng mực, cộng với lối sống thích thụ hưởng của giới trẻ khiến tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, còn có một số người phạm tội do cuộc sống gia đình khó khăn, bị cha mẹ bỏ rơi, không còn cách nào khác để kiếm tiền nên buộc phải làm liều. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 6 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam Ví dụ: Lê Ngọc Tùng (18 tuổi) là thủ phạm gây ra nhiều vụ cướp giật điện thoại di động khi bị bắt về cơ quan điều tra đã sụt sùi nói: “Bố cháu đã chết, mẹ thì bỏ đi, ở với bà thiệt thòi đủ thứ. Gần đây bà bệnh không biết làm sao kiếm được tiền mua thuốc, cháu đã quyết định làm liều”. + Do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng, đa số người dân chưa am hiểu pháp luật thậm chí còn có ý thức coi thường pháp luật làm cho số tội phạm cướp giật tài sản ngày càng gia tăng. 1.4. Đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Mỗi tội phạm điều có đối tượng tác động cụ thể, thông qua đối tượng tác động, tội phạm gây thiệt hại cho những khách thể khác nhau. Tội cướp giật tài sản cũng có đối tượng tác động riêng. Nghiên cứu đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản không những làm rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này mà còn có ý nghĩa trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan tư pháp. Trong khoa học luật hình sự, đối tượng tác động của tội phạm được hiểu là một bộ phận thuộc khách thể của tội phạm. Khi tác động đến bộ phận này, người phạm tội sẽ gây ra thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu, được đặc trưng bởi ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Đối tượng Trung tâm Cần Thơ liệuđịnh họcvàtập cụ thể củaHọc quan liệu hệ sởĐH hữu là những loại@ tài Tài sản nhất trongvà đờinghiên sống xã cứu hội chúng có thể trở thành những đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Điều 163 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” + Vật là hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản, khi là đối tượng của tội cướp giật tài sản vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con người. Những tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu của mình và chuyển tài sản ra khỏi phạm vi quản lý, tài sản này được coi là tài sản vô chủ và hành vi lấy loại tài sản này không bị coi là phạm tội. + Tài sản là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản ngoài vật ra còn có thể là tiền, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền. Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài đang được lưu hành trên thị trường. Đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản thông thường là những tài sản hợp pháp. Đây là những loại tài sản người chủ sở hữu có được hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật như: lao động, thừa kế, tặng cho hoặc được hưởng. Tuy nhiên, có những trường hợp đối tượng của tội cướp giật tài sản có thể là tài sản bất hợp pháp. Đây là những loại tài sản có được thông qua các hành vi trái pháp luật như đánh bạc, mại dâm, mua bán ma túy hoặc những hành vi vi phạm pháp luật GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 7 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam khác mà có. Tính chất bất hợp pháp của tài sản không ảnh hưởng đến việc định tội, người lấy được tài sản bất hợp pháp này vẫn bị coi là phạm tội cướp giật tài sản và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 1.5. Lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy định về tội cướp giật tài sản. Trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước độc lập, tự chủ, vững mạnh, để lại cho các thế hệ sau nhiều di sản quý báo về kinh nghiệm quản lý và điều hành đất nước. Một trong những di sản quý báo đó là thành quả to lớn và đầy tính sáng tạo, trong xây dựng nền pháp luật độc lập, tự chủ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử. Trong đó, những thành tựu về kinh nghiệm về lập pháp hình sự có vị trí trọng yếu. Với tư cách là công cụ có hiệu quả trong công cuộc bảo vệ và duy trì Nhà nước độc lập, tự chủ. Nhà nước Việt Nam trải qua các triều đại lịch sử đã luôn quan tâm ban hành các quy định pháp luật về hình sự và luôn thể hiện đậm nét bản sắc dân tộc trong di sản văn hóa quý báu ấy. Qua nhiều thập kỉ xây dựng, Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu trong việc xây dựng những văn bản pháp luật về hình sự và đã giúp Nhà nước ta quản lý xã hội đạtHọc hiệu quả, chế độThơ xã hội kinh tế, và vănnghiên hóa mới của Trung tâm liệubảo ĐHvệCần @chủ Tàinghĩa, liệunền học tập cứu Nhà nước. Ngày nay, trong tiến trình xây dựng và đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã đặt ra nhiều cách đổi mới trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật hình sự Việt Nam là một trong những vấn đề cần thiết, góp phần tiếp thu, phát huy những thành quả quý báu của ông cha ta trong việc tìm giải pháp khả thi trước yêu cầu và thách thức trong bối cảnh đổi mới. 1.5.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản trước Cách Mạng Tháng Tám. Trải qua các triều đại phong kiến khác nhau, pháp luật hình sự Việt Nam dần dần được hình thành và được quy định ngày càng cụ thể hơn. - Ngay từ thế kỉ thứ XV, nước Việt Nam đã có Lê triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) và Hồng Đức thiện chính thư - một văn bản pháp luật có chứa đựng một số quy phạm pháp luật hình sự gồm 6 quyển với 13 chương và 722 điều. Đã được các đại thần Lê Thánh Tông biên soạn công phu và áp dụng vào công quyền Việt Nam suốt mấy thế kỉ. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 8 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam Trong Bộ luật Hồng Đức thì tội cướp giật tài sản không được quy định một cách cụ thể ngay trong điều luật nhưng theo quy định tại Điều 454 Bộ luật Hồng Đức thì “những kẻ lập mưu đi cướp, nhưng khi đi thì không cướp được của đem về chia nhau. Người không đi này cũng lấy phần chia xử tội như cùng đi ăn cướp, nếu không lấy phần chia thì xử lưu châu gần. Trước kia đã từng ăn cướp nhưng khi đó không đi, thì dù không nhận vẫn xử như có đi ăn cướp. Theo quy định của Bộ luật Hồng Đức, những trường hợp phạm tội với lỗi vô ý hoặc phạm tội ở độ tuổi 70 tuổi trở lên, từ 15 tuổi trở xuống hoặc người phạm tội bị tàn phế thì mức hình phạt lưu hình trở xuống thì cho chuộc bằng tiền (Điều 14, 16 Bộ luật Hồng Đức) những trường hợp phạm tội ở độ tuổi 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống và đáng bị tử hình thì cũng tâu lên vua xét định, còn người 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dẫu có bị kết án tử hình thì cũng không được hành hình (Điều 16 Bộ luật Hồng Đức). Có thể nói đây là những quy định mang tính nhân đạo cao của pháp luật hình sự của thời kỳ nhà Lê Sơ lúc bấy giờ. Theo quan điểm của luật hình sự hiện đại, thì tội cướp giật tài sản là tội phạm có chủ thể thường, bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo Luật định và đạt đến một độ tuổi nhất định cũng có thể trở thành chủ thể của tội cướp giật tài sản và phải chịu hình phạt . Trong Bộ luật Hồng Đức còn cho phép dùng tiền để chuộc tội trong một số hình phạt. Theo quan điểm của luật hình sự hiện đại, chuộc tội bằng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu tiền được coi là biện pháp chấp hành hình phạt. Ngoài quy định Điều 454 thì tại Điều 435 Bộ luật Hồng Đức còn quy định : “Những người thừa cơ khi trộm, cướp, lụt, cháy mà vơ vét tiền của người khác hay giữa ban ngày mà cướp giật tiền của của người ta thì khi xử tội những người này sẽ được giảm một bực. Trong luật hình sự hiện đại nếu người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khó khăn đặc biệt của xã hội như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai dịch bệnh…để phạm tội thì trách nhiệm hình sự của người phạm tội bị tăng nặng. Ngoài việc quy định hành vi của chủ thể thực hiện tội phạm thì Bộ luật Hồng Đức còn quy định hình phạt đối với những chủ thể khác có liên quan đến tội được xem là cướp giật tài sản như: + Các con ở chung nhà với cha mẹ mà đi ăn cướp thì cha bị xử đồ, nặng thì thêm tội và phải bồi thường thay cho con những tang vật mà con đã cướp được. Nếu con cái đã ra riêng thì cha, mẹ bị xử phạt hay biếm. Nếu cha đã báo quan thì không bị tội, đã báo quan nhưng vẫn để con ở nhà thì cũng bị tội như chưa báo quan (Điều 457) + Bắt được cướp nhưng không ghi tiền, của do chúng lấy thì biếm ba tư, bồi thường gấp hai. Quan xã ghi rồi mà lại lấy thì thêm một bực tội. (Điều 442). GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 9 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam + Ở phường, hẻm trong kinh thành (làng, xã) có cướp quan không đốc suất người đến bắt thì bị xử đồ (Điều 458 Bộ luật Hồng Đức). + Ai bắt được cướp mà tự ý thả thì lưu châu ngoài. - Trong thời kì phong kiến ngoài bộ luật Hồng Đức thì còn có Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ). Đây là một trong hai Bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Có thể nói, đây là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của nền cổ luật Việt Nam. Về mặt lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng, sau khi lên ngôi hoàng đế, Gia Long giao cho Tiền quân Bắc thành tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757- 1817) là Tổng tái soạn Bộ luật này. Bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước phong kiến và quyền sở hữu của thần dân là những vấn đề được nhà Nguyễn quan tâm. Có thể nói văn phong của Bộ luật nói chung cũng như những quy định có liên quan đến quyết định hình phạt nói riêng còn rườm rà, khó hiểu. Hoàng Việt luật lệ không có điều khoản nào trực tiếp quy định về vấn đề quyết định hình phạt đối với tội cướp giật tài sản mà vấn đề này được quy định rải rác trong một số điều luật. Nội dung điều luật này nhìn chung thể hiện chính sách hình sự rất hà khắc của triều đình nhà Nguyễn, mặt khác những quy định đó cũng chưa phản ánh đầy đủ các vấn đề có liên quan đến quyết định hình phạt. Tuy nhiên, có thể hiểu được những hạn chế này bị chi phối một phần bởi hạn chế của lịch sử. Theo quy định của Bộ luật Gia Long về hình công có 176 điều Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu trong đó tội cưỡng đạo (cướp giật mạnh, trộm cướp gia trọng) quy định tại Điều 235 Bộ luật Gia Long. “Phàm cướp giật mạnh nhưng không lấy được tiền, điều phạt 100 trượng, lưu 300 dặm, được tiền của người chủ nợ, thì không chia thủ, tòng đều chém hết. Tuy nhiên, tùy theo tang vật, buộc tội cố ý, không chia xử theo tang vật là cứ phạt 100 trượng, lưu đài 300 dặm. Phàm những kẻ cướp giật mạnh tự thú mà không thực, không kể hết tội không nên xử theo luật danh lệ tự thú, đến tội chết thì giảm một bực”. Ngoài ra, Điều 237 Bộ luật Gia Long còn quy định về tội sang đoạt (người có ý hung hăng lấy của là sang đoạt), phàm giữa ban ngày mà sang đoạt tiền của người ta, không kể tang vật, phạt 100 trượng, đồ 3 năm. Tùy theo số tang vật mà định tội, hễ nặng thì thêm tội trộm cắp hai bực, nếu trong khi sang đoạt mà làm người khác bị thương, thủ lãnh thì bị chém giam chờ, kẻ a tùng mỗi người giảm một bực so với thủ lãnh, và bên cánh tay mặt xăm hai chữ “SANG ĐOẠT”, nếu nhân hỏa hoạn, thuyền đi gặp gió, mắc cạn, thừa cơ hội sang đoạt tiền của, vật của người khác và phá hủy thuyền thì tội như trên: tội sang đoạt, chờ khi người ta vô ý lấy cũng là hành vi sang đoạt. Giống như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long cũng quy định GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 10 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam về nguyên tắc chịu trách nhiệm liên đới. Đây là nguyên tắc được áp dụng khá phổ biến trong các xã hội phong kiến Việt Nam. Nội dung của nguyên tắc này là tuy một người phạm tội nhưng họ hàng thân thích của người đó không liên quan đến việc phạm tội nhưng vẫn bị đưa ra xét xử cùng với người phạm tội. Theo quan điểm của luật hình sự hiện đại thì đây là nguyên tắc vô nhân đạo, nó trái ngược với nguyên tắc trách nhiệm cá nhân – một nguyên tắc được ghi nhận trong luật hình sự hiện đại. 1.5.2.Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản sau Cách Mạng Tháng Tám (Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985). Sau cách mạng tháng tám 1945, Nhà nước Việt Nam kiểu mới được hình thành, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm đáp ứng yêu cầu giữ gìn chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và chuẩn bị lực lượng sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của cả nước, các hành vi cướp bóc trong khi có chiến sự đều bị tòa án binh xử nặng như các tôi gián điệp, phản bội Tổ quốc và có thể bị tuyên đến án tử hình. Ở thời kì này, Nhà nước Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc lệnh số 03 - SL/ 76 ngày 15 - 3 - 1976 quy định về các tội phạm và hình phạt. Sắc luật gồmtâm bốn chương, 12 điều, quy định bảy@ loạiTài tội phạm trong tập đó cóvà quy định về cứu tội Trung Học liệu ĐH Cần Thơ liệu học nghiên xâm phạm tài sản riêng của công dân. Đường lối xét xử bọn tội phạm khác là: “Trừng trị nghiêm khắc bọn lưu manh, chuyên nghiệp, bọn côn đồ hung hãn, bọn phạm tội có dùng vũ khí hoặc chất độc, bọn hoạt động trắng trợn, táo bạo, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn cầm đầu…, bọn lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, bọn gây ra những hậu quả nghiêm trọng, xử nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những kẻ nhất thời phạm tội, những kẻ chưa gây ra hậu quả lớn, những kẻ tự thú thật thà hối cải, tố giác đồng bọn, hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại gây ra”. 1.5.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1999. Điều 70 Hiến pháp năm 1980 quy định: “công dân có quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm”. Như vậy, sở hữu của công dân về tài sản là một trong những quyền cơ bản nhất được Hiến pháp quy định và được pháp luật bảo hộ. Bộ luật hình sự 1985 quy định các tội xâm phạm sở hữu của công dân là nhằm bảo vệ sở hữu của công dân về mặt hình sự. Trong thời kì này nguồn duy nhất và trực tiếp của pháp luật hình sự là Bộ luật hình sự 1985. Đây là Bộ luật hình sự của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 11 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam Nếu pháp luật hình sự thời kì trước đó là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành, thì Bộ luật hình sự 1985 đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta. Bộ luật hình sự 1985 gồm 2 phần: phần chung và phần các tội phạm, tổng cộng 20 chương với 280 điều.Trong đó phần các tội phạm gồm 12 chương với 205 điều quy định 12 nhóm tội phạm . Trong đó, có các tội xâm phạm sở hữu công dân. Theo Bộ luật hình sự 1985 thì tội cướp giật tài sản được quy định cụ thể tại Chương IV các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa thì tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 131. Với quy định tại điều luật này thì khung hình phạt cao nhất của tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa là tù đến 20 năm. Tại Chương VI các tội xâm phạm sở hữu công dân thì tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 154 về tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân và mức hình phạt cao nhất đối với loại tội này là 15 năm tù. Ở cả 2 chương đều quy định 3 khung hình phạt đối với tội này. + Tại Điều 131 Bộ luật hình sự 1985 thì khung một là 3 năm, khung hai là 3 năm đến 10 năm tù và khung ba từ 10 năm tù đến 20 năm tù. + Điều 154 Bộ luật hình sự 1985 thì khung một là 3 tháng đến 3 năm tù, khung hai từ 2 năm đến 10 năm tù, khung ba từ 7 năm đến 15 năm tù. Có thể nói Bộ luật hình sự 1985 đã kế thừa và phát huy những thành tựu của Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam nhất là thời kì từ sau Cách Mạng Tháng Tám. Tổng kết kinh nghiệm trong phòng, chống tội phạm trong thời gian trước năm 1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong thời gian tới. 1.5.4. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ khi Bộ luật hình sự 1999 ra đời cho đến nay. Trong đường lối chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà Đảng ta đã đề ra, Bộ luật hình sự 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện Bộ luật hình sự 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp lí, tích cực của Bộ luật hình sự 1985. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 12 - 12 - 1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kì họp lần thứ 6, đã thông qua Bộ luật hình sự 1999, thay thế cho Bộ luật hình sự 1985. Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực từ ngày 1 - 7 - 2000. Bộ luật hình sự 1999 đã có những quy định mới, đặc biệt là Bộ luật hình sự 1999 đã quy định ở Chương XIV các tội xâm phạm sở hữu được xây dựng trên cơ sở kết hợp Chương IV - các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và Chương VI - các tội xâm phạm sở hữu công dân trong Bộ luật hình sự 1985. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 12 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam Nhìn chung, Bộ luật hình sự 1999 đã quy định tội phạm và hình phạt một cách cụ thể, theo Bộ luật hình sự 1999 thì tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 136 và quy định thành năm khung với mức hình phạt nặng nhất là tù chung thân. 1.6. Quy định của một số nước trên thế giới về hành vi đuợc xem là cướp giật tài sản. Để có sự nhận thức thấu đáo về tình hình của mỗi quốc gia, chúng ta cần có một quan điểm đứng trên sự đối chiếu, so sánh. Quan điểm so sánh hệ thống pháp luật sẽ cho phép nhận thức đúng đắn hệ thống pháp luật của chính mình. Kết quả nghiên cứu pháp luật hình sự của các quốc gia sẽ góp phần tích cực cho hoạt động lập pháp hình sự của quốc gia. Các nhà làm luật sẽ tiếp cận được kinh nghiệm quý báu trong hoạt động hình sự của các nước trên thế giới. Qua đó, đối chiếu, so sánh, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự của quốc gia. Qua kết quả nghiên cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật hình sự của các quốc gia còn là nguồn tài liệu quý báo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy của các quốc gia. Hơn nữa, chúng ta đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, để có sự hiểu biết sơ bộ giúp cho việc tiến hành hợp tác có hiệu quả, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về hệ thống pháp luật hình sự các quốc gia khác nhau. Điều này thể hiện rõ lợi ích toàn cầu của việc nghiên cứu (Phạm Văn Beo - Tập bài giảng Luật hình sự các nướctâm - Trang 2) liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Trung Học 1.6.1. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản. Tuy Bộ luật hình sự Nhật Bản không có điều, khoản, điểm nào quy định về tội cướp giật tài sản nhưng thông qua việc tìm hiểu những quy định ở một số điều quy định về tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự Nhật Bản thì ta có thể rút ra các hành vi gần vớI quy định về tội cướp giật tài sản ơ Việt Nam như sau: Điều 236 Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định: + Người nào tước đoạt tài sản của người khác bằng vũ lực hoặc áp đảo tinh thần là phạm tội cướp và bị phạt tù có lao động bắt buộc từ 5 năm trở lên. Hình phạt này cũng được áp dụng tương tự như vậy đối với người có được một món lợi kinh tế bất hợp pháp hoặc buộc người khác phải có được một món lợi kinh tế bất hợp pháp. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 điều này thì chúng ta có thể hiểu, khi một người có hành vi cướp giật tài sản của người khác (có được một món lợi kinh tế bất hợp pháp) thì sẽ bị phạt tù có lao động từ 5 năm trở lên. Ngoài ra tại Điều 240 Bộ luật hình sự Nhật Bản còn quy định về cướp giật gây chết người hoặc gây tổn hại đến sức khỏe. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 13 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam Khi kẻ cướp gây tổn hại sức khỏe cho một người thì bị phạt tù chung thân có lao động bắt buộc hoặc phạt tù có lao động bắt buộc từ 7 năm trở lên. Trường hợp gây chết nhiều người thì kẻ cướp đó bị phạt tử hình hoặc bị phạt tù chung thân có lao động bắt buộc. So với pháp luật hình sự Việt Nam thì pháp luật Nhật Bản quy định mức phạt đối với hành vi này có phần nặng hơn về mức hình phạt, theo pháp luật hình sự Việt Nam thì mức hình phạt đối với tội này cao nhất là tù chung thân còn theo pháp luật Nhật Bản thì mức phạt cao nhất đối với hành vi phạm tội này là tử hình. 1.6.2. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Thụy Điển. Giống như Bộ luật Nhật bản, Bộ luật Thụy Điển cũng không quy định tội cướp giật tài sản một cách cụ thể, nhưng khi tìm hiểu Chương 8 Bộ luật hình sự Thụy Điển ta có thể rút ra các kết luận như sau: Chương 8 Bộ luật hình sự Thụy Điển có quy định về tội trộm, cướp và các tội khác chiếm đoạt tài sản của công dân. Điều 7 Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định: “Người nào lấy đi hoặc sử dụng bất hợp pháp xe gắn máy hoặc các loại phương tiện gắn máy có người điều khiển của người khác thì trừ trường hợp bị xử về các tội quy định tại các điều khác của chương thì bịliệu phạtĐH tù đến 2 năm. Trung tâmnày Học Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Điều 8 Bộ luật hình sự Thụy Điển có đoạn quy định: “Người nào ngoài các tội được quy định rõ tại chương này, lấy đi hoặc sử dụng bất hợp pháp hoặc dưới các hình thức khác chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 6 tháng về tội chiếm giữ trái pháp luật tài sản. Ngoài ra, tại Điều 9 Bộ luật hình sự Thụy Điển còn quy định rằng: Người nào xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhằm sử dụng tài sản của người khác đó thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 6 tháng về tội tự ý sử dụng tài sản của người khác. Trong Bộ luật hình sự của Thụy Điển, hệ thống hình phạt được thể hiện theo hướng thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự với các loại hình phạt có nội dung khác nhau phù hợp với việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự trong những trường hợp riêng biệt. Các loại hình phạt bao gồm: phạt tù, giáo dục tập trung người chưa thành niên phạm tội, án treo, phạt tiền, quản chế. Trong hệ thống hình phạt này thì hai loại hình phạt tước tự do của người bị kết án. (phạt tù và giáo dục người chưa thành niên phạm tội) được áp dụng cho hai đối tượng khác nhau. Hình phạt tù đối với người đã thành niêm phạm tội và hình phạt giáo dục tập trung người chưa thành niên phạm tội, hai hình phạt này cũng được xem là hình phạt có tính nghiêm khắc cao. Kế tiếp về mức độ nghiêm khắc là hình phạt có điều kiện và GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 14 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam quản chế. Hình phạt tiền được xếp vào vị trí ít nghiêm khắc hơn so với các loại hình phạt nói trên. Nhìn chung hình phạt tù được quy định tại Chương 26 Bộ luật hình sự Thụy Điển bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân. Trong đó, hình phạt tù có thời hạn quy định với mức tối thiểu là 14 ngày, tối đa là 10 năm (trong những trường hợp phạm tội thông thường). Đối với một số tội mức tối đa của loại hình phạt này có thể đến 14 năm. Như vậy, có thể thấy được điểm khác biệt rõ rệt trong quy định mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tù giam trong luật hình sự của Thụy Điển. So với pháp luật hình sự Việt Nam, mức tối thiểu của hình phạt tù giam được quy định trong pháp luật hình sự Thụy Điển là tương đối thấp. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 15 SVTH: Lê Thị Ràng Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam CHƯƠNG 2 TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2.1. Khái niệm về tội cướp giật tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành. Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Điều 136 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định về tội cướp giật tài sản: 1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Có tổ chức. b) Có tính chất chuyên nghiệp. c) Tái phạm nguy hiểm. d) Hành hung để tẩu thoát. Dùngliệu thủ đoạn Trung tâme)Học ĐH nguy Cầnhiểm. Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu f) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%. g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng. h) Gây hậu quả nghiêm trọng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%. b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng. c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người. b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên. GVHD: TS. Phạm Văn Beo Trang 16 SVTH: Lê Thị Ràng
- Xem thêm -