Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty xây dựng số 1 - tổng công ty xây dựng hà nội

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

1 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất tạo cơ sở và tiền đề phát triển cho nền kinh tế quốc dân. Hàng năm, ngành xây dựng cơ bản thu hót gần 30% tổng số vốn đầu tư của cả nước. Với nguồn đầu tư lớn như vậy cùng với đặc điểm sản xuất của ngành là thời gian thi công kéo dài và thường trên qui mô lớn. Vấn đề đặt ra ở đây là quản lý vốn tốt, khắc phục tình trạng thất thoát và lãng phí trong sản xuất thi công, giảm chi phí giá thành, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu: Hạch toán kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với quan hệ hàng hoá - tiền tệ, là một phương pháp quản lý kinh tế, đồng thời là một yếu tố khách quan. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang phát triển theo cơ chế thị trường thì hoạt động kinh doanh phải có lãi, lấy thu nhập để bù đắp chi phí. Song trên thực tế, tỷ lệ thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn tương đối cao do chưa quản lý tốt chi phí sản xuất. Vì thế, ngoài vấn đề quan tâm ký được các hợp đồng xây dựng, doanh nghiệp còn quan tâm đến vấn đề hạ thấp chi phí sản xuất đến mức cần thiết nhằm hạ giá thành sản phẩm xây lắp trong quá trình kinh doanh, tất nhiên doanh nghiệp phải thông qua công tác kế toán - mét công cụ có hiệu quả nhất trong quản lý kinh tế. Trong đó, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp luôn được xác định là khâu trọng tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp xây dựng. Nếu tổ chức các vấn đề khác tốt mà thiếu đi việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp khoa học, hợp lý thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khó có thê đạt hiệu quả cao được. Chính vì vậy, việc hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp xây dựng. 3. Đối tượng nghiên cứu: Trong các doanh nghiệp xây dựng thì đối tượng tính giá thành chính là các công trình, hạng mục công trình vì vậy giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu chất lượng quan trọng trong kinh doanh, qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Quản lý tốt giá thành sản phẩm xây lắp nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp xây dựng. Bởi vậy giá thành sản phẩm xây lắp và lợi nhuận là các chỉ tiêu có quan hệ xây dựng, tỷ lệ nghịch với nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. 4. Những đóng góp chính của luận văn: 2 Nhận thức được vấn đề nêu trên, sau 02 tháng thực tập tại Công ty xây dựng số 1 thuộc Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô các chú trong phòng Kế toán của Công ty, kết hợp với kiến thức đã học ở trường, em đã chọn đề tài “Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm “ tại Công ty Xây dựng số 1 - Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội làm luận văn tốt nghiệp . Em tin rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn một số tồn tại mà trong bản luận văn đã nêu, Công ty sẽ giải quyết thành công và tiến lên một bước phát triển mới vững mạnh hơn nữa. 5. Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành tốt việc nghiên cứu, em đã sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp 6. Bố cục luận văn: Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương:  Chương I: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản.  Chương II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Xây dựng số 1.  Chương III: Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Xây dựng số 1. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã cố gắng tiếp cận với những kiến thức mới nhất về chế độ kế toán do Nhà nước ban hành, kết hợp với những kiến thức đã học tập trong trường. Vì thời gian thực tập có hạn, tầm nhận thức còn mang nặng tính lý thuyết, chưa nắm bắt được nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các cán bộ kế toán và tất cả những người quan tâm đến đề tài để nhận thức của em về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn. Đề tài hoàn thành với sự học tập nghiên cứu nghiêm túc của em trong quá trình thực tập, mà trước hết là sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Quốc Cẩn, và toàn thể thầy cô giáo khoa Kế toán, Trường Cao Đẳng Công Nghiệp - Hà Nội và các cán bộ trong phòng Kế toán - tài vụ Công ty Xây dựng số 1. Em xin trân trọng cảm ơn ! 3 Chương I Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản 1.1. Đặc điểm của sản xuất xây lắp tác động đến công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1.1.1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội. Một quốc gia có cơ sở hạ tầng vững chắc thì quốc gia đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy, việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giê cũng phát triển trước một bước so với các ngành khác. Cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được, cho nên một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quĩ tích luỹ nói riêng với vốn đầu tư nước ngoài nằm trong xây dựng cơ bản. Có thể quan niệm sản phẩm xây lắp là: Một là: Sản phẩm xây lắp là những công trình, hạng mục công trình ... có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Hai là: Sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc, quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài và có giá trị lớn, sản phẩm mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Mỗi công trình khoa học được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng tạo một thời điểm nhất định. Đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về mọi mặt kinh tế, chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật. Chi phí chi cho sản phẩm xây lắp rất đa dạng phong phó bao gồm nhiều chủng loại nguyên vật liệu, sử dụng nhiều máy móc thi công và nhiều loại thợ theo các ngành nghề khác nhau. 4 Vì các loại sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản thường rất lớn, mất nhiều thời gian để hoàn thành công trình đưa vào sử dụng. Vì vậy để phù hợp với yêu cầu của công việc thanh toán, quyết toán về tài chính thì kế toán cần phải phân biệt giữa sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng. Sản phẩm trung gian là các công việc xây dựng các giai đoạn, các đợt xây dựng đã hoàn thành bàn giao. Còn sản phẩm cuối cùng là các công trình hoàn chỉnh có thể đưa vào sử dụng. 1.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp mang tính đặc thù cao nên nó còng ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất. Đó là : - Sản phẩm xây lắp là sản phẩm thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm và giai đoạn xây dựng. Chính vì vậy, việc quản lý công trình và tổ chức sản xuất gặp nhiều khó khăn. Điều đó đòi hòi các nhà xây dựng phải lùa chọn các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý linh hoạt và quan trọng là: - Do chu kỳ sản xuất xây dựng các công trình thường kéo dài làm cho vốn bị ứ đọng, nên các nhà xây dựng luôn phải chú ý đến nhân tố thời gian khi chọn các phương án. - Quá trình sản xuất xây dựng phức tạp đòi hỏi các nhà tổ chức xây dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, phải phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xây dùng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ. - Các công trình tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu, gây khó khăn cho việc thi công và dự trữ vật liệu. Điều này đòi hỏi các nhà tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công và áp dụng cơ giới hoá một cách hợp lý. 1.1.3. Yêu cầu của công tác quản lý tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng Do đặc điểm của xây dựng và sản phẩm xây dựng rất riêng nên việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Vì vậy trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng phải đáp ứng được những yêu cầu sau: 5 - Phải tạo ra những sản phẩm xây lắp được thị trường chấp nhận cả về giá cả, chất lượng, đáp ứng được mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. - Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất từ các nguồn đầu tư trong và ngoài nước. - Xây dựng phải đúng theo qui hoạch được duyệt, thiết kế hợp lý thẩm mỹ, xây dựng đúng tiến độ đạt chất lượng cao. Thực tế trong nhiều năm qua xây dựng cơ bản là một ngành làm thất thoát một phần không nhỏ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Nguyên nhân cơ bản là do quản lý vốn đầu tư chưa được chặt chẽ. Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Doanh nghiệp muốn tróng thầu một công trình phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình đó dùa trên cơ sở xác định mức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành trên cơ sở giá thị trường và bản thân doanh nghiệp. Giá tróng thầu không vượt quá giá tổng dự toán được duyệt. Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi. Để thực hiện tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý về tập hợp chi phí sản xuất. Trong đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. 1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Việc giảm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp xây dựng. Vì vậy, việc xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện hiện tại của doanh nghiệp và thoả mãn mọi yêu cầu quản lý đặt ra hết sức cần thiết. Cụ thể: - Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp, đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành. - Kiểm tra đối chiếu thường xuyên việc thực hiện các chi phí vật tư, nhân công máy thi công và các dự toán chi phí khác. Từ đó đưa ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời. 6 - Tình giá thành sản phẩm xây lắp chính xác kịp thời theo đúng khoản mục giá thành. - Việc kiểm tra thực hiện hạ giá thành theo từng khoản mục chi phí của các hạng mục công trình. Từ đó đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm mét cách liên tục. - Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành. - Kiểm tra định kỳ và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc qui định. Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ở từng công trình, bộ phận thi công... và lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp một cách kịp thời. 1.1.5. Ý nghĩa kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Trong doanh nghiệp xây lắp, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó cung cấp các số liệu một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ cho việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước chặt chẽ và hiệu quả hơn. 1.2. Nội dung và phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. 1.2.1. Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp Cũng như các ngành sản xuất vật chất khác, quá trình sản xuất của ngành xây lắp là quá trình tiêu hao các yếu tố lao động và lao động vật hoá để tạo nên giá trị sử dụng của các sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu của con người. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, các chi phí này được biểu hiện dưới dạng giá trị, gọi là chi phí sản xuất. Tương tự như vậy, chi phí sản xuất trong quá trình xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cấu thành nên sản phẩm xây lắp trong một thời kỳ nhất định. Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm trên cần phân biệt giữa chi phí và chi tiêu. Đây là hai hai niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. 7 Trong các doanh nghiệp xây lắp ngoài hoạt động sản xuất chung ra còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ khác. Do đó, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp gồm: Chi phí trong xây lắp và chi phí ngoài xây lắp. Chi phí trong xây lắp là những chi phí phát sinh trong quá trình xây lắp của doanh nghiệp. Chi phí ngoài xây lắp là những chi phí phát sinh ngoài lĩnh vực xây dựng như sản xuất phụ, công tác vận chuyển và các dịch vụ khác. Trong đó chi phí trong xây lắp là chủ yếu. 1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp xây dựng Việc quản lý sản xuất, chi phí sản xuất không chỉ dùa vào các số liệu tổng hợp về chi phí sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình theo từng thời điểm nhất định. Do vậy, việc phân loại chi phí sản xuất là yêu cầu tất yếu cho công tác quản lý cũng như công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp một cách chính xác. Có nhiều các phân loại chi phí, mỗi cách đều đáp ứng được Ýt nhiều cho mục đích quản lý và công tác kế toán. Tuỳ theo mục đích quản lý mà ta lùa chọn các tiêu thức phân loại cho phù hợp. 1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố (theo nội dung và tính chất kinh tế của chi phí) Mỗi yếu tố chi phí sản xuất bao gồm các chi phí sản xuất có tính chất, nội dung kinh tế giống nhau, do đó không cần xét đến chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào và dùng làm gì. Căn cứ vào tiêu thức này thì toàn bộ chi phí sẽ bao gồm các yếu tố sau: - Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu chính (như gạch, vôi, đá, cát, sỏi, xi măng, sắt thép...), cấu kiện bê tông, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản... - Chi phí nhân công: là toàn bộ tiền công phải trả cho người lao động và các khoản phải trả khác trong doanh nghiệp như tiền lương (lương chính, lương phụ, phụ cấp của công nhân viên), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ phần trăm theo chế độ qui định. 8 - Chi phí khấu hai tài sản cố định (TSCĐ): là toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định sử dụng cho sản xuất doanh nghiệp. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho sản xuất trong doanh nghiệp như chi phí về điện, nước, điện thoại, chi phí thuê máy... - Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ số chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí kể trên. 1.2.2.2. Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành (phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí) Những chi phí sản xuất có cùng mục đích và công dụng được xếp vào cùng một khoản mục chi phí. Theo tiêu thức phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm các khoản mục chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là giá trị các loại nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho thi công xây lắp công trình. - Chi phí nhân công trực tiếp : là toàn bộ tiền công và các khoản phải trả (BHXH, BHYT, KPCĐ) cho công nhân trực tiếp xây lắp để thực hiện các khối công tác xây lắp của công trình. - Chi phí sản xuất chung: bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất thi công ngoài trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Loại chi phí này bao gồm:  Chi phí nhân viên quản lý đội, công trình (tiền lương và các khoản phải trả cho công nhân viên quản lý đội sản xuất...)  Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ dụng cụ (ván khuôn, giàn giáo, dụng cụ bảo hộ lao động...)  Chi phí về khấu hao máy móc thiết bị  Chi phí dịch vụ thuê ngoài  Chi phí bằng tiền khác 9 Chỉ những chi phí gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất của đội sản xuất, phân xưởng mới được xếp vào loại này. Chi phí sản xuất chung kết hợp với chi phí nhân công trực tiếp gọi là chi phí chuyển đổi. Chi phí nhân công trực tiếp kết hợp với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gọi là chi phí ban đầu. Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, công tác kế hoạch hoá, phân tích và đánh giá sản phẩm theo khoản mục, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành. Ngoài hai cách phân loại còn có các phương pháp phân loại chi phí khác như: - Phân loại chi phí theo quan hệ giữa chi phí sản xuất và qui mô sản xuất. Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi. - Phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. - Phân loại chi phí theo chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm... Như vậy, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng, phục vụ cho từng đối tượng quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể, nhưng chung luôn bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong phạm vi từng doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định. 1.2.3. Giá thành sản phẩm xây lắp 1.2.3.1 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất theo số lượng và loại sản phẩm đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm xây lắp là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, quản lý của doanh nghiệp, kết quả của sử dụng các loại vật tư, tài sản trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp thực hiện nhằm đạt mục đích sản xuất ra khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí thấp nhất. Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. 1.2.3.2. Các loại giá thành sản phẩm xây lắp 10 Do đặc điểm riêng biệt của các sản phẩm xây lắp nên giá thành được chia làm ba loại: Giá thành dự toán công tác xây lắp (Zdt) Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài, mang tính đơn chiếc... nếu mỗi công trình, hạng mục công trình đều có giá dự toán riêng. Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là giá thành công tác xây lắp được xác định trên khối lượng thiết kế được duyệt, các định mức dự toán và đơn giá XDCB do cấp có thẩm quyền ban hành và dùa theo mặt bằng giá cả thị trường. Giá thành dự toán công tác xây lắp khác với giá trị dự toán xây lắp ở điểm sau: Giá thành dự toán xây lắp nhỏ hơn giá trị dự toán xây lắp ở phần lãi định mức và thuế. Do dó căn cứ vào giá trị dự toán của từng công trình, hạng mục công trình ta có thể xác định được giá thành dự toán của chúng: Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình Giá trị dự toán của = Từng công trình, hạng mục công trình + Lãi định mức (hoặc thuế) Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên giá thành dự toán công tác xây lắp mang tính chất xã hội, nó phán ánh trình độ tổ chức kỹ thuật nói chung của toàn xã hội vì cơ sở để xác định là khối lượng từ thiết kế được duyệt, cả định mức dự toán và đơn giá xây dựng cơ bản hiện hành. Thông qua tổng dự toán công tác xây lắp (Zdt) chóng ta có thể đánh giá được thành tích của doanh nghiệp. Nó là hạn mức chi phí ca nhất mà doanh nghiệp có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn phấn đấu hạ định mức thực tế. Giá thành dự toán công tác xây lắp là căn cứ để kế hoạch hoá giá thành công tác xây lắp và vạch ra các biện pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật nhằm đảm bảo nhiệm vụ hạ giá thành công tác xây lắp được giao. Trong điều kiện hiện nay, để thi công xây lắp một công trình thì các đơn vị xây dựng được tham gia đấu thầu. Đơn vị thắng thầu là đơn vị xây dựng giá đấu thầu công tác xây lắp hợp lý, đảm bảo chất lượng thi công công trình. Do vậy, trong giá thành dự toán của từng công trình, hạng mục công trình còn có 2 loại giá thành là: 11 - Giá thành đấu thầu công tác xây lắp (Zdt): Giá thành đấu thầu công tác xây lắp được hình thành từ cơ chế quản lý bằng cách đấu thầu trong xây dựng. Đây cũng là một loại giá thành dự toán công tác xây lắp do chủ đầu từ đưa ra để các tổ chức xây lắp căn cứ vào đó mà tình toán Giá thành dự thầu công tác xây lắp của mình. Nếu như thấy giá thành của mình bằng hoặc thấp hơn giá thành do chủ thầu đưa ra thì sẽ tham gia đấu thầu thi công xây lắp công trình. - Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: Giá thành hợp đồng là một loại giá thành dự toán công tác xây lắp ghi trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và tổ chức xây lắp sau khi đã thoả thuận giao nhận thầu. Đây cũng là giá thành của tổ chức xây lắp thắng thầu trong khi đấu thầu và được chủ đầu tư thoả thuận ký hợp đồng giao thầu (giá thành dự thầu công tác xây lắp của tổ chức xây lắp tróng thầu). Giá thành kế hoạch công tác xây lắp (Zkh): Giá thành kế hoạch công tác xây lắp là một loại giá thành dự toán công tác xây lắp được xác định từ những điều kiện cụ thể trong thời kỳ kế hoạch nhất định. Giá thành kế hoạch công tác xây lắp khác với giá thành dự toán xây lắp là được lập ra không dùa vào định mức dự toán mà dùa vào những định mức chi phí nội bộ của tổ chức xây lắp hoặc của công trình. Về nguyên tắc, định mức nội bộ này phải tiên tiến hơn định mức dự toán. Vì vậy giá thành kế hoạch công tác xây lắp chỉ được bằng hoặc nhỏ hơn giá thành hợp đồng (Zhđ >=Zkh) nên giá thành kế hoạch là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai đoạn kế hoạch. Điều này phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp xây lắp. Giá thành kế hoạch công tác xây lắp được xác định theo công thức (tính cho từng công trình, hạng mục công trình): Giá thành kế hoạch công tác xây lắp = Giá thành hợp đồng Công tác xây lắp - Mức hạ giá thành kế hoạch Giá thành thực tế công tác xây lắp (Ztt) Giá thành thực tế công tác xây lắp được tính toán theo chi phí thực tế của tổ chức xây lắp đã bỏ ra để thực hiện các khối lượng công tác xây lắp của mình, được xác định theo số liệu của kế toán. 12 Muốn đánh giá được giá trị chất lượng hoạt động sản xuất thi công của tổ chức xây lắp thì ta phải tiến hành so sánh các loại giá thành trên với nhau. Giá thành dự toán mang tính xã hội cho nên việc so sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán cho phép ta đánh giá sự tiến bộ hay yếu kém trong doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ tổ chức quản lý của bản thân doanh nghiệp. Trong việc so sánh này cần đảm bảo tính thống nhất và có thể so sánh được, tức là được thực hiện trên cùng một đối tượng tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình, hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành nhất định). Về nguyên tắc thì mối quan hệ giữa các loại giá thành trên phải đảm bảo như sau : Zdt>=Zkh>=Ztt. Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng giá thành và tổ chức thực hiện kế hoạch giá thành. Có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích luỹ cho Nhà nước và cho doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy, xuất phát từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ bản là có giá trị lớn, thời gian xây dựng dài, có thể đáp ứng yêu cầu quản lý về chi phí sản xuất và giá thành, trong doanh nghiệp xây dựng, giá thành công tác xây lắp còn được theo dõi trên hai chỉ tiêu: giá thành khối lượng hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành qui ước. Giá thành khối lượng hoàn chỉnh là giá thành của công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật và chất lượng đúng thiết kế và hợp đồng, bàn giao và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép tính toán, đánh giá một cách tổng quát hiệu quả kinh tế vốn đầu tư cho một công trình, hạng mục công trình nhưng lại không đáp ứng được kịp thời các số liệu cần thiết cho việc quản lý sản xuất và giá thành trong suốt quá trình thi công công trình. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu quản lý và đảm bảo chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành qui ước. Giá thành khối lượng hoàn thành qui ước là giá thành của các khối lượng xây lắp mà các khối lượng xây lắp đó phải đảm bảo thoả mãn các điều kiện sau: - Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kỹ thuật. 13 - Phải được xác định cụ thể và được chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. - Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành qui ước phải phản ánh kịp thời chi phí cho đối tượng xây lắp trong quá trình thi công xây lắp, từ đó giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý thích hợp, cụ thể. Nhưng chỉ tiêu này lại phản ánh không toàn diện, chính xác giá thành toàn bộ công trình, hạng mục công trình. Do đó, trong việc quản lý giá thành đòi hỏi phải sử dụng cả hai chỉ tiêu trên để đảm bảo quản lý giá thành được kịp thời, chính xác, toàn diện và hiệu quả. 1.2.4. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp 1.2.4.1. Đối tượng tập hợp chi phí trong doanh nghiệp xây lắp : Đối với ngành xây dựng cơ bản đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là: công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng, giai đoạn công việc hoàn thành, bộ phận thi công. Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường căn cứ vào: - Địa điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí. - Đặc điểm qui trình công nghệ (giản đơn hay phức tạp) - Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trên thực tế, các doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức tập hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp, từ khâu hạch toán ban đầu đến khâu tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết. 1.2.4.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp: Đối tượng tính giá thành các loại sản phẩm, lao vụ, công vụ do doanh nghiệp sản xuất ra cần phải được tính giá thành và giá thành đơn vị. Công việc tính giá thành là xác định giá thành thực tế từng loại sản phẩm và toàn bộ sản phẩm đã hoàn thành. Xác định khối lượng tính giá thành là công việc đầu tiên của toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp và có ý nghĩa quan trọng trong 14 việc tính chính xác giá thành sản phẩm xây lắp. Bộ phận kế toán giá thành phải cân đối, xem xét tổng thể các căn cứ sau để xác định khối lượng tính giá thành cho phù hợp. - Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ. - Đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm sử dụng của các sản phẩm. - Dùa vào yêu cầu hạch toán kế toán, hạch toán nội bộ doanh nghiệp và yêu cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm. Khả năng và trình độ quản lý của của doanh nghiệp nói chung và khả năng của cán bộ hạch toán nói riêng. Trong các doanh nghiệp xây dựng, đối tượng tính giá thành thường phù hợp với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là: công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao. Trong trường hợp các doanh nghiệp xây lắp có tổ chức thêm các phân xưởng sản xuất phụ (sản xuất vật liệu...) thì đối tượng tính giá thành là tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm, lao vô cung cấp. 1.2.4.3. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm được hợp lý, khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế của các sản phẩm lao vụ kịp thời, phát huy đầy đủ chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sẩn phẩm của kế toán. Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành xây dựng cơ bản nên kỳ tính giá thành trong xây dựng cơ bản thường là: - Đối với các loại sản phẩm mà được sản xuất liên tục, cung cấp cho những đối tượng khác liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn như: gạch, ngãi, vôi... thì kỳ tính giá thành thương là 1 tháng. 15 - Đối với những sản phẩm, đơn đặt hàng có thời gian sản xuất thi công dài, công việc được coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việc được coi là hoàn thành trong đơn đặt hàng thì khi hoàn thành toàn bộ đơn đặt hàng mới tính giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó. - Với những công trình, hạng mục công trình thì kỳ tính giá thành là thời gian mà sản phẩm xây lắp được coi là hoàn thành và được nghiệm thu, bàn giao thanh toán cho chủ đầu tư. - Đối với những công trình lớn hơn, thời gian thi công dài hơn, chỉ khi nào có một bộ phận công trình hoàn thành có giá trị sử dụng được nghiệm thu, bàn giao thì lúc đó doanh nghiệp tính giá thành thực tế của bộ phận đó. - Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị có thời gian thi công nhiều năm mà không tách ra được từng bộ phận công trình nhỏ đưa vào sử dụng thì từng phần việc xây lắp đặt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, theo thiết kế kỹ thuật có ghi trong hợp đồng thi công sẽ được bàn giao thanh toán thì doanh nghiệp xây lắp tính giá thành thực tế cho khối lượng bàn giao. Ngoài ra với công trình lớn, thời gian thi công dài, kết cấu phức tạp... thì kỳ tính giá thành của doanh nghiệp có thể được xác định là hàng quí, vào thời điểm cuối quí. 1.2.4.4. Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp. Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở tài khoản, sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình. Còn xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp lại là căn cứ để lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tình giá thành. Tuy nhiên, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bản chất chung đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí số liệu, chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp thường phù 16 hợp với nhau. Một bên là công trình, hạng mục công trình, còn một bên là công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành. 1.2.5. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất * Phương pháp tập hợp trực tiếp chi phí sản xuất: Áp dụng phương pháp này đối với những chi phí trực tiếp. Những chi phí trực tiếp là các chi phí liên quan đến một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Ta căn cứ vào các chứng từ gốc về chi phí phát sinh để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. * Phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí sản xuất: Phương pháp này áp dụng đối với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất khác nhau. Ta tiến hành thực hiện tập hợp chi phí sản xuất, phân bổ chi phí theo các bước sau: - Lùa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý và tính hệ số phân bổ chi phí. Tiêu thức phân bổ hợp lý là tiêu thức phải đảm bảo được mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tổng chi phí cần phân bổ với tiêu thức phân bổ của các đối tượng. Hệ số phân bổ chi phí được xác định như sau: H= Trong đó :H: Hệ số phân bổ chi phí H: HÖ sè ph©n bæ chi phÝ C: Tổng chi phí cần phân bổ T: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ của các đối tượng - Tính mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Ci = H x Ti Trong đó : Ci: chi phí phân bổ cho từng đối tượng i Ci: chi phÝ ph©n bæ cho tõng ®èi tîng i H: Hệ số phân bổ chi phí Ti: đại lượng của tiêu thức phân bổ của đối tượng i 17 Kế toán chi phí sản xuất theo hệ thông kế toán hiện hành Tuỳ vào điều kiện cụ thể và yêu cầu của quản lý của mình mà doanh nghiệp lùa chọn 2 phương án hạch toán: - Phương pháp kê khai thường xuyên - Phương pháp kiểm kê định kỳ 1.2.5.1. Kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên * Tài khoản sử dụng (trong doanh nghiệp xây lắp) - Tài khoản 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”: Tài khoản này phản ánh toàn bộ hao phí về nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, năng lượng, động lực... dùng trực tiếp cho sản phẩm xây dựng hay lắp đặt các công trình. Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng công trình xây dựng, lắp đặt (công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn công việc, khối lượng xây lắp có dự toán riêng). - Tài khoản 622 “chi phí nhân công trực tiếp”: Tài khoản này phản ánh toàn bộ chi phí về tiền công và các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp (BHXH, BHYT, KPCĐ). Tài khoản này cũng được mở chi tiết theo từng hạng mục công trình, giai đoạn công việc... - Tài khoản 627 “chi phí sản xuất chung”: Tài khoản này phán ánh những chi phí phục vụ sản xuất xây lắp trong quá trình tiến hành XDCB tại các công trường, các đội và các bộ phận sản xuất kinh doanh tổng doanh nghiệp XDCB. Tài khoản này có thể mở chi tiết theo từng công trình, từng đội thi công, từng bộ phận và cũng được mở đồng thời các khoản cấp 2 để theo dõi chi phí sản xuất chung theo yếu tố chi phí sản xuất. Trong đó: TK 6271: chi phí nhân viên phân xưởng TK 6272: chi phí vật liệu TK 6273: chi phí dụng cụ sản xuất TK 6274: chi phí khấu hao tài sản cố định 18 TK 6277: chi phí dịch vụ mua ngoài TK 6278: chi phí bằng tiền khác. - Tài khoản 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”: Tài khoản này được dùng để phán ánh tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành công trình, hạng mục công trình, hoặc những sản phẩm lao vụ, dịch vụ khác trong các doanh nghiệp kinh doanh XDCB, các giai đoạn công việc, hạng mục công trình hoặc nhóm các hạng mục công trình. * Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm trong kỳ sản xuất kinh doanh. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải tính theo giá trị thực tế khi xuất sử dụng (không bao gồm thuế GTGT). Yêu cầu của việc hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là hạch toán trực tiếp chi phí này vào các đối tượng hạch toán chi phí và tính giá thành. Trong trường hợp không thể hạch toán trực tiếp chi phí này vào giá thành sản phẩm thì phải lùa chọn các tiêu chuẩn phân bổ phù hợp theo công thức: Cn = x Tn Trong đó: Cn: Chi phí phân bổ cho đối tượng n C: tổng chi phí đã tập hợp cần phân bổ T: tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ Tn: tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng n - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được qui nạp trực tiếp - Chi phí nguyên vật liệu liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất khác nhau trong thời kỳ tiến hành phân bổ. 19 Tổng CP Giá trị thực tế Giá trị phế Trị giá NVLTT phải của các loại liệu thu hồi VNL phân bổ trong kỳ = NVLTT đã xuất trong kỳ - (nếu có) - Dùng không hết cuối kỳ Tiêu chuẩn phân bổ cần lùa chọn thích hợp như đối tượng với vật liệu chính thường phân bổ theo định mức tiêu hao phí hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành, với vật liệu phụ thông thường thì phân bổ theo khối lượng sản phẩm xây lắp đã hoàn thành. 20 Sơ đồ 1.1 TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP TK 152 TK 621 TK 154 TËp hîp chi phÝ NVLTT TK 111,112,331 NVL mua SD ngay cho SXKD KÕt chuyÓn hoÆc ph©n bæ chi phÝ NVLTT ®Ó tÝnh gi¸ thµnh TK 133 TK 142 NVLTT chê ph©n bæ NVLTT chê ph©n bæ dÇn * Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: PhÕ liÖu thu håi, VL kh«ng dïng hÕt nhËp kho Chi phí nhân công trực tiếp là những chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá trình xây lắp sản xuất sản phẩm công nghiệp, cung cấp các dịch vụ. Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản phải trả cho người lao động thuộc quản lý của doanh nghiệp và cho lao động thuê ngoài theo từng hoạt động công việc. Chi phí nhân công trực tiếp được tính vào giá thành của từng loại sản phẩm chủ yếu bằng phương pháp trực tiếp. Tổng chi phí nhân công trực tiếp sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm và căn cứ vào bảng phân bổ lương và các khoản tính theo lương. Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính vào từng đối tượng chi phí liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng thì có thể tập hợp chung, chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan. Tiêu chuẩn phân bổ thích hợp đối với tiền lương có thể phân bổ theo chi phí nhân công trực tiếp định mức hay theo giê công lao động: BHXH, BHYT, KPCĐ tính theo tỷ lệ % qui định trên tổng số tiền lương đã tính cho từng đối tượng.
- Xem thêm -