Tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán việt nam

  • Số trang: 199 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 Chương 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của công ty chứng khoán Nền kinh tế - xã hội không ngừng phát triển đặt ra nhu cầu về tích luỹ trong xã hội không ngừng tăng lên và ngày càng quan trọng, phong phú và đa dạng. Trong xã hội xuất hiện người cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, đồng thời cũng có người khác có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư thu lợi nhuận (cho vay để lấy lãi, đầu tư khác,...). Ban đầu, những người này thường trực tiếp tìm gặp nhau dựa trên quan hệ quen biết cá nhân để giải quyết các nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, phương cách này chỉ phù hợp với qui mô nhỏ, khi cung và cầu vốn không ngừng tăng về qui mô và đa dạng về hình thức thì hình thức vay và cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ cá nhân sẽ không đáp ứng được nhu cầu nữa, thực tế khách quan đòi hỏi phải có một thị trường để cung và cầu vốn gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau, thị trường đó chính là thị trường tài chính. Trong lịch sử phát triển thị trường tài chính, thị trường tiền tệ được hình thành trước do ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân cư chưa cao và nhu cầu về vốn chủ yếu là vay ngắn hạn. Sau đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao và thị trường vốn ra đời để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế. Để huy động được các nguồn vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và một số công ty còn thực hiện huy động thông qua phát hành các loại chứng khoán. Khi các chứng khoán có giá được phát hành thì tất yếu sẽ nảy sinh nhu cầu về mua, bán, trao đổi. Chính vì vậy, TTCK ra đời với tư cách là một bộ phận của thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán, trao đổi các loại chứng khoán đó. Cũng như các thị trường khác, lúc đầu những người mua và người bán chứng khoán là các cá nhân sở hữu chứng khoán; họ tiến hành mua, bán trực tiếp với nhau không qua một bên trung gian nào. Khi thị trường càng phát triển, khối lượng vốn luân chuyển ngày càng lớn; những người mua, bán chứng khoán đông đảo hơn và mỗi cá nhân 2 tham gia sở hữu khối lượng chứng khoán lớn, đa dạng với mỗi lần thanh toán có lượng tiền rất lớn. Vì vậy, cần thiết phải có những người trung gian giúp họ thực hiện mua, bán chứng khoán được thuận lợi và an toàn - những người này là những nhà môi giới mua bán chứng khoán giữa người cần mua và người cần bán. Tuy nhiên, thời kỳ sơ khai thì những nhà môi giới chứng khoán hoạt động đơn lẻ chưa có tổ chức rõ nét về môi giới chứng khoán, chưa có những đảm bảo tin cậy đối với người mua bán chứng khoán; do đó, để nâng cao tính chuyên nghiệp, độ uy tín, độ tin cậy về sự an toàn của các nhà đầu tư trong vai trò trung gian - những nhà môi giới tổ chức thành lập các công ty gọi là công ty môi giới chứng khoán. Ở giai đoạn TTCK mới hoạt động, các nhà đầu tư chủ yếu là những người mua bán chứng khoán đơn lẻ bằng nguồn vốn nhàn rỗi để hưởng chênh lệch giá. Khi TTCK ổn định và phát triển, nhà đầu tư tham gia KDCK ngày càng đông đảo; phong phú về hình thức, đa dạng về chủng loại chứng khoán và có sự cạnh tranh mạnh mẽ thì họ cũng thành lập ra các công ty kinh doanh chứng khoán. Trong quá trình hoạt động, các công ty môi giới chứng khoán và công ty KDCK không chỉ dừng lại ở hoạt động ban đầu mà có sự đan xen và phát triển các nghiệp vụ khác trên TTCK như nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán; do đó, một loại hình công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán xuất hiện đó chính là CTCK - một tổ chức tài chính trung gian được thành lập theo pháp luật và thực hiện một hoặc một số hoạt động KDCK trên TTCK. Quá trình phát triển của CTCK trên thế giới có thể nói bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 17 sang đến thế kỷ 18, 19 trong bối cảnh phát triển nở rộ các công ty cổ phần ở các nước tư bản chủ nghĩa Châu Âu đã dẫn đến nhu cầu phát hành ồ ạt các loại cổ phiếu của các công ty cổ phần. Khi đó, các công ty cổ phần đều phát hành cổ phiếu qua các CTCK hoặc Ngân hàng đầu tư để bán cho các nhà buôn, các nhà đầu tư KDCK. Như vậy, các CTCK đảm nhận việc phân phối chứng khoán của các công ty cổ phần và thực hiện cung cấp các dịch vụ liên quan tới phát hành chứng khoán, từ đó hình thành nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đến thế kỷ 20 chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn lũng đoạn ở Châu Âu, Mỹ và sau đó là Châu Á. Trong giai đoạn này, các CTCK phát triển mạnh cả về qui mô và chất lượng dịch vụ; phát triển cả số lượng nghiệp vụ kinh doanh và tính chuyên nghiệp cao trong hoạt động kinh doanh; qua đó thu hút được đông đảo các nhà đầu tư tham gia KDCK. 3 Ở mỗi quốc gia, TTCK và CTCK được hình thành và phát triển với những mức độ khác nhau, nhưng với xu hướng toàn cầu hoá và quốc tế hoá nền kinh tế thì TTCK phát triển không chỉ giới hạn phạm vi trong nước mà đã có sự liên kết, kết nối giữa các TTCK khu vực cũng như trên thế giới. Điều đó dẫn đến hoạt động kinh doanh của các CTCK cũng có điều kiện mở rộng và phát triển ra phạm vi quốc tế. Các CTCK đẩy mạnh thành lập các chi nhánh ở nước ngoài nhằm tăng cường hoạt động kinh doanh, tăng doanh thu mua bán chứng khoán cũng như các dịch vụ khác. Tuy nhiên, nhằm hạn chế sự thôn tính cũng như bảo hộ cho các CTCK trong nước các quốc gia đều qui định thời hạn và điều kiện để CTCK nước ngoài được hoạt động trên TTCK nước mình như Hàn Quốc đến năm 1991 CTCK nước ngoài được phép mở chi nhánh, thành lập liên doanh hoạt động trên TTCK; Nhật Bản thì những năm 1985 đã thực hiện tự do hoá quốc tế và các CTCK nước ngoài được phép tham gia vào TTCK của Nhật. Hiện nay, những năm đầu của thế kỷ 21 cùng với sự phát triển kinh tế tri thức theo xu hướng quốc tế hoá và ở đó không chỉ các nền kinh tế thị trường phát triển mà còn cả các nền kinh tế đang phát triển đã phát triển rộng rãi các thị trường vốn, thị trường tiền tệ và TTCK nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Cùng với nó số lượng các CTCK ngày càng nhiều, phạm vi và tính chất hoạt động của CTCK ngày càng mở rộng, phát triển đa dạng, đa năng, tính cạnh tranh cao và tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng phá sản hoặc hợp nhất hoặc sáp nhập hoặc chia tách. Do đó, nhằm đảm bảo tính an toàn đối với TTCK; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư; đảm bảo tính công bằng, khách quan trong hoạt động KDCK giữa các CTCK mỗi nước phải qui định trong Luật Chứng khoán về các điều kiện pháp lý; điều kiện kinh tế; qui định các cơ quan chuyên ngành thanh tra, giám sát và quản lý chặt chẽ các CTCK. Như vậy, có thể đánh giá sự ra đời của CTCK là tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường cùng với sự hình thành và phát triển của TTCK. Quá trình phát triển của CTCK phù hợp với sự phát triển, chuyển đổi của nền kinh tế trong từng giai đoạn của từng nước, từng khu vực và trên toàn thế giới; nhưng CTCK luôn giữ vai trò là nhân tố quan trọng, trung tâm thực hiện các nghiệp vụ về KDCK; làm trung gian trong giao dịch thông qua SGDCK, nhằm dẫn vốn từ người có vốn nhàn rỗi đến người cần vốn cho đầu tư phát triển, góp phần ổn định và phát triển TTCK; thúc đẩy nền kinh tế mỗi nước phát triển và tăng trưởng bền vững. 4 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của công ty chứng khoán Trong nền kinh tế thị trường sự hình thành và phát triển của TTCK và CTCK là tất yếu khách quan, song để hiểu được bản chất CTCK là cái gì? Như thế nào? Có nhiều quan điểm đánh giá, nhận xét đứng trên những giác độ khác nhau để xem xét và vì vậy khái niệm về CTCK có thể tiếp cận với những góc độ khác nhau. Theo giáo trình TTCK, trường Đại học KTQD thì "CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán" [38]. Theo giáo trình TTCK, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh thì "CTCK là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập" [49]. Theo quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của UBCKNN thì "CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán" [50]. Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 của Bộ trưởng BTC thì "CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán" [8]. Theo giáo trình kinh doanh chứng khoán, Học viện Tài chính thì "CTCK là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận"[36]. Theo giáo trình TTCK, Học viện Tài chính thì "CTCK là một loại hình định chế trung gian đặc biệt trên thị trường chứng khoán, thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán như ngành nghề kinh doanh chính" [34]. Như vậy, CTCK là một tổ chức tài chính trung gian được thành lập theo pháp luật; thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động trên TTCK. Một cách khái quát có thể hiểu CTCK là một loại hình doanh nghiệp tài chính hoạt động kinh doanh trên TTCK theo qui định của pháp luật. CTCK hoạt động kinh doanh trên TTCK - một thị trường rất nhạy cảm, có nhiều rủi ro và sức ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Vì vậy, CTCK thuộc 5 loại hình kinh doanh có điều kiện và đây chính là những điểm khác biệt giữa hoạt động của CTCK với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp khác, cụ thể như sau: Một là, đặc điểm về vốn. CTCK được thành lập phải đáp ứng điều kiện về mức vốn pháp định theo qui định, đây là đặc điểm khác với các công ty hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ thông thường. Ở mỗi quốc gia có qui định về mức vốn pháp định khác nhau, có thể qui định chung cho một CTCK khi đăng ký thành lập không kể công ty thực hiện một hay hai hay tất cả các nghiệp vụ kinh doanh theo qui định của pháp luật. Hàn Quốc qui định mức vốn tối thiểu của một CTCK là 50 tỷ Won; hoặc có thể qui định mức vốn pháp định cho từng loại nghiệp vụ kinh doanh cụ thể như ở Việt Nam theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mức vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam là: Môi giới chứng khoán 25 tỷ đồng Việt Nam; Tự doanh chứng khoán 100 tỷ đồng Việt Nam; Bảo lãnh phát hành chứng khoán 165 tỷ đồng Việt Nam; Tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng Việt Nam [40]. Đây là đặc điểm quan trọng nhất quyết định CTCK được phép hoạt động hoặc được thực hiện nghiệp vụ kinh doanh nào, đồng thời cũng nhằm đảm bảo mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư trên TTCK. Ngoài ra, đặc điểm về vốn còn ảnh hưởng đến công tác quản lý chung và tổ chức hạch toán kế toán trong việc tổ chức huy động, quản lý và sử dụng vốn, đảm bảo hoạt động của CTCK phù hợp với qui định của pháp luật. Hai là, đặc điểm về nhân sự và đội ngũ lãnh đạo. CTCK hoạt động trong lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, có độ rủi ro cao, có mức độ ảnh hưởng lớn tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nên đòi hỏi nhân viên CTCK phải có trình độ từ đại học trở lên về chuyên ngành ngân hàng, tài chính, kế toán, TTCK và có tư cách đạo đức nghề nghiệp tốt, có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. Đối với đội ngũ Lãnh đạo các bộ phận cần kiến thức chuyên môn sâu, có trình độ quản lý, đạo đức nghề nghiệp; đặc biệt với Lãnh đạo CTCK cần phải có tầm nhìn chiến lược, chứng chỉ hành nghề và giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp; có trình độ học vấn và kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh cao. Đặc điểm này có tích chất quyết định đến chất lượng hoạt động kinh doanh, quyết định đến uy tín và danh tiếng của CTCK trên TTCK và trong đời sống kinh tế xã hội. Đặc điểm này ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức bộ máy của CTCK, nhất là tổ chức bộ máy kế 6 toán trong việc tổ chức tuyển dụng, lựa chọn và bố trí nhân viên kế toán vào các vị trí trong bộ máy kế toán; trong từng hoạt động nghiệp vụ kinh doanh nhằm đảm bảo hiệu quả của công tác quản lý cũng như công tác hạch toán kế toán trong CTCK. Ba là, đặc điểm về cơ sở vật chất. Mọi doanh nghiệp khi thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có những cơ sở vật chất nhất định, tuy nhiên đối với CTCK phải đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất nghiêm ngặt phù hợp với nghiệp vụ KDCK. Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động KDCK, cơ sở vật chất của CTCK cần phải có như: Sàn giao dịch (Phòng giao dịch), đảm bảo thuận tiện cho các nhà đầu tư thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán, thuận lợi để tra cứu tiếp nhận thông tin TTCK và các thông tin cần thiết khác. CTCK phải trang bị hệ thống thiết bị công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu truyền lệnh của nhà đầu tư, thông báo kết quả giao dịch kịp thời, nhà đầu tư thuận lợi kiểm tra giám sát số dư và sự biến động của tài khoản,...; đảm bảo an toàn tuyệt đối lượng chứng khoán nắm giữ của các nhà đầu tư. Đặc điểm này không những đảm bảo điều kiện để các nhà đầu tư thu thập thông tin, thực hiện đầu tư mà còn thể hiện bề thế, qui mô của CTCK; niềm tin của khách hàng khi đến thực hiện đầu tư. Về mặt quản lý và tổ chức thì đặc điểm này có ảnh hưởng đáng kể đến tổ chức kế toán của CTCK từ khâu bắt đầu hình thành cơ sở vật chất như giá thành hoặc chi phí để có những cơ sở vật chất đó; quản lý, sử dụng và phân bổ từng kỳ vào chi phí kinh doanh để xác định hiệu quả sử dụng và kết quả kinh doanh từng loại nghiệp vụ kinh doanh của công ty. Bốn là, đặc điểm về xung đột lợi ích giữa nhà đầu tư và CTCK. Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ bao giờ cũng có mối liên hệ với khách hàng và lợi ích của khách hàng gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp mà không xảy ra mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, đối với CTCK khi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng hay các nhà đầu tư có thể xảy ra mâu thuẫn về lợi ích nếu CTCK không thực hiện nghiêm ngặt các qui định về qui trình, nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp. Những nghiệp vụ kinh doanh thường xảy ra xung đột lợi ích giữa CTCK với các nhà đầu tư là nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán và t ư vấn đầu tư chứng khoán; vì vậy, đặc điểm về xung đột lợi ích tạo ra sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh của CTCK với các loại hoạt động kinh doanh khác. 7 Đây là đặc điểm đặc thù hoạt động kinh doanh của CTCK nhất là trong điều kiện TTCK mới đi vào hoạt động, sự hiểu biết về lĩnh vực KDCK của nhà đầu tư còn hạn chế, sự quản lý của các nhà quản trị CTCK còn lỏng lẻo, các định chế qui định về nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp còn chưa được tôn trọng thì đặc điểm này càng phải được đề cao nhằm hạn chế xảy ra xung đột lợi ích giữa CTCK với khách hàng, các nhà đầu tư. CTCK cần phải thật khách quan, đạt kỳ vọng tuyển chọn được những nhân viên có năng lực, tính chủ động sáng tạo, có đạo đức nghề nghiệp tốt; có trình độ chuyên môn và quản lý phù hợp; công ty phải xây dựng và thực hiện kiểm soát nội bộ chặt chẽ và phải qui trách nhiệm cá nhân trong xử lý nghiệp vụ chuyên môn, quản lý. Đây là những vấn đề rất phức tạp, tổng hợp nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội, đạo đức, nghề nghiệp, uy tín, trách nhiệm, nghĩa vụ và nhiều nhân tố khác liên quan đến con người và lợi ích (công ty và cá nhân); do đó, chìa khoá là ở người Lãnh đạo công ty. Riêng về tổ chức công tác kế toán của CTCK thì đặc điểm này có ảnh hưởng đến toàn bộ các nội dung của tổ chức công tác kế toán, bởi vì để hạn chế xảy ra xung đột về lợi ích giữa các nhà đầu tư với CTCK hoặc với các nhà đầu tư khác thì từ nội dung tổ chức hệ thống chứng từ; tổ chức các tài khoản phản ánh tài sản của nhà đầu tư và của công ty; tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết; tổ chức các báo cáo kế toán; tổ chức bộ phận nhân viên kế toán thực hiện đến tổ chức công tác kiểm tra kế toán đều phải được tổ chức chặt chẽ, riêng biệt và rõ ràng. Trong từng nội dung của tổ chức công tác kế toán đều phải ghi chép, phản ánh, tổng hợp một cách riêng biệt về tài sản và chứng khoán của từng nhà đầu tư và của CTCK; phải thường xuyên có sự kiểm tra chéo giữa các bộ phận liên quan đến hoạt động kinh doanh và công tác bảo mật giữa các bộ phận phải an toàn tuyệt đối. 1.1.3. Mô hình và vai trò của công ty chứng khoán 1.1.3.1. Mô hình công ty chứng khoán Các tổ chức, cá nhân để được cấp giấy chứng nhận KDCK phải lập và nộp đầy đủ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận KDCK theo qui định của pháp luật. UBCKNN xem xét, kiểm tra hồ sơ và cấp giấy phép KDCK trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có đủ hồ sơ hợp lệ và công ty phải hoàn tất việc nộp lệ phí cấp giấy phép kinh doanh theo qui định tại Điều 65 của Luật Chứng khoán [40 ]. Khi được cấp giấy phép KDCK công ty phải tiến hành công khai hóa hoạt động thông qua 8 việc công bố thành lập trên phương tiện thông tin của UBCKNN và các phương tiện thông tin đại chúng theo qui định Điều 66 của Luật Chứng khoán [40]. CTCK hoạt động và thực hiện các nghiệp vụ về KDCK với tính chất đa dạng, phong phú và phức tạp; nó đồng thời liên quan đến lợi ích của công ty, nhà đầu tư và nhà nước. Vì vậy, KDCK là nghề kinh doanh đặc biệt có phạm vi rộng và mức độ ảnh hưởng đến toàn xã hội; có rủi ro kinh doanh cao. Do vậy, pháp luật các quốc gia đều qui định rất chặt chẽ về mô hình hoạt động của CTCK tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, trên thế giới tồn tại phổ biến ba mô hình về CTCK căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và chủ sở hữu chi phối CTCK. * Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh CTCK chuyên doanh là những công ty độc lập được thành lập theo qui định của pháp luật, chuyên môn hoá trong lĩnh vực KDCK. Công ty đảm nhiệm một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ KDCK trên TTCK. Về nguồn tài chính của các công ty theo mô hình này chủ yếu do chủ sở hữu đóng góp như: Phát hành cổ phiếu, trái phiếu; vốn góp của các thành viên tham gia thành lập công ty, … Ngoài ra, công ty còn huy động từ nguồn vốn vay ngân hàng và các tổ chức, nguồn vốn liên doanh; liên kết,… Mô hình này được áp dụng ở nhiều các nước như: Mỹ, Nhật bản, Hàn Quốc, Việt Nam,… và có những ưu, nhược điểm cơ bản sau: Một là: Tự chủ trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. CTCK chuyên doanh hoàn toàn độc lập hoạt động mà không cơ quan chủ quản nào chi phối cả về tổ chức nhân sự cũng như chiến lược hoạt động kinh doanh. Từ đó phát huy được khả năng chủ động, sáng tạo, nhạy bén trong kinh doanh và tổ chức kinh doanh linh hoạt phù hợp với hoạt động của TTCK, nền kinh tế thị trường. Hai là: Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính. CTCK chuyên doanh được thành lập theo qui định của pháp luật và hoạt động độc lập trên cơ sở vốn của công ty để thực thi các nghiệp vụ KDCK. Các ngân hàng, tổ chức tài chính không bị chi phối vốn vào lĩnh vực KDCK (đặc biệt là hệ thống ngân hàng) mà chỉ tham gia thị trường với tư cách là khách hàng. Do đó, hạn chế đầu tư của ngân hàng, tổ chức tài chính vào lĩnh vực chứng khoán có rủi ro, đồng thời giảm được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính trong nền kinh tế. Ba là: Hạn chế đầu tư vốn nhà nước vào KDCK của các Tổng công ty. 9 Các Tổng công ty nhà nước, Tập đoàn giữ vai trò quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước như: Điều tiết nền kinh tế, bình ổn giá cả,… CTCK chuyên doanh không thuộc Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước; vốn kinh doanh chủ yếu là của công ty mẹ, do đó hạn chế có sự chuyển đổi mục đích cũng như sử dụng vốn nhà nước để KDCK, tạo nên sự tách bạch trong quản lý kinh tế tài chính. Bốn là: Hạn chế tính san bằng rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng và các Tổng công ty, Tập đoàn. Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại, Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước chỉ thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh theo qui định của pháp luật và tham gia TTCK với tư cách là khách hàng mà không đầu tư vốn vào KDCK qua các CTCK thuộc đơn vị quản lý; do đó, khi hoạt động kinh doanh chính bị rủi ro thua lỗ thì không có sự chi phối bù đắp lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh. Năm là: Hạn chế về vốn, công nghệ, cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn và mạng lưới khách hàng. Trong giai đoạn đầu hoạt động, các công ty này sử dụng chủ yếu là vốn của bản thân những chủ sở hữu đóng góp mà không có đơn vị chủ quản nào cấp, do đó về một mặt nào đó sẽ hạn chế về vốn kinh doanh. Từ đó dẫn đến việc đầu tư cho công nghệ hiện đại, cơ sở vật chất trong tác nghiệp các nghiệp vụ cũng gặp nhiều khó khăn hơn những công ty có chủ quản là các ngân hàng, Tổng công ty nhà nước. Về chuyên môn, lĩnh vực KDCK là rất nhạy cảm và phức tạp đòi hỏi cán bộ phải có trình độ cao, có đạo đức tốt để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư. Các CTCK chuyên doanh phải tuyển mới nhân viên, chưa sẵn có cán bộ trình độ cao, nhiều kinh nghiệm; do đó, trong giai đoạn đầu hoạt động cán bộ nhân viên của những công ty này còn hạn chế nhất định về trình độ chuyên môn cũng như trình độ quản lý. Về mạng lưới khách hàng, các CTCK chuyên doanh mới được thành lập và chưa có danh tiếng, chưa có mạng lưới khách hàng như các công ty được hình thành từ các ngân hàng và Tổng công ty lớn. Những công ty này phải xây dựng mạng lưới khách hàng ngay từ những khách hàng đầu tiên, do đó cần phải có chiến lược quảng cáo thu hút khách hàng cũng như thực hiện công tác quản trị công ty tốt để tăng cường uy tín bằng chất lượng phục vụ trong quá trình thực thi các nghiệp vụ về KDCK. * Mô hình công ty chứng khoán đa năng một phần 10 CTCK đa năng được thành lập theo qui định của pháp luật và hoạt động KDCK độc lập với hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường đã được thừa nhận - Đó là CTCK đa năng một phần. TTCK ra đời và ngày càng phát triển tạo môi trường thuận lợi để thực hiện các nghiệp vụ KDCK. Khi đó các ngân hàng, tổ chức tài chính, doanh nghiệp lớn muốn KDCK phải thành lập công ty con có tư cách pháp nhân để hoạt động trong lĩnh vực này. Các công ty con được thành lập chuyên thực hiện các nghiệp vụ KDCK và vẫn chịu sự chi phối của công ty mẹ (các ngân hàng thương mại hoặc các tập đoàn, Tổng công ty); đồng thời được đầu tư ban đầu khá đầy đủ về vốn, tài sản hoạt động, nguồn nhân lực và địa bàn hoạt động kể cả những khách hàng có quan hệ thường xuyên trong kinh doanh để thực hiện các nghiệp vụ KDCK. Mô hình này có những ưu, nhược điểm sau: Một là, hoạt động kinh doanh độc lập với công ty mẹ. CTCK được thành lập theo qui định của pháp luật, có tư cách pháp nhân riêng và hoạt động kinh doanh, hạch toán độc lập tương đối với công ty mẹ, đồng thời phải chịu trách nhiệm bằng vốn chủ sở hữu của công ty. Vì vậy, kết quả hoạt động của CTCK không ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công ty mẹ và cũng không gây ra rủi ro cho hoạt động kinh doanh của công ty mẹ. Hai là, điều kiện về vốn, công nghệ và khách hàng. CTCK đa năng một phần tuy hoạt động kinh doanh, hạch toán độc lập với công ty mẹ nhưng vẫn chịu sự chi phối nhất định của công ty mẹ về nhân sự, chiến lược kinh doanh, đầu tư và phân phối. Tuy nhiên, những công ty này được tạo điều kiện về vốn đầu tư, công nghệ tác nghiệp và mạng lưới khách hàng từ công ty mẹ nên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn đối với CTCK chuyên doanh. Ba là, quyền huy động vốn. CTCK đa năng một phần không có quyền huy động vốn để kinh doanh, không tham gia hoạt động tín dụng mà phụ thuộc vào công ty mẹ. Do vậy, tuy độc lập trong hoạt động kinh doanh nhưng việc mở rộng qui mô về vốn cũng như lĩnh vực đầu tư kinh doanh còn phải lệ thuộc vào công ty mẹ là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hoặc Tổng công ty thành lập, chủ quản. Bốn là, mô hình này thường có qui mô nhỏ, bị lệ thuộc về vốn, nhân sự từ công ty mẹ. Người lãnh đạo của công ty như Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc, 11 Tổng giám đốc hoặc các vị trí quan trọng khác thường là người của công ty mẹ quản lý cho nên càng bị lệ thuộc vào chiến lược kinh doanh chung của công ty mẹ. * Công ty chứng khoán đa năng toàn phần TTCK phát triển mạnh ở Mỹ và Châu Âu thế kỷ 18, 19 do sự phát triển rầm rộ của các công ty cổ phần dẫn tới cổ phiếu các công ty được phát hành ồ ạt tạo điều kiện cho các nghiệp vụ KDCK phát triển. Các ngân hàng, tổ chức tài chính, các Tổng công ty được phép vừa sản xuất kinh doanh thông thường vừa thực hiện nghiệp vụ KDCK. Mô hình này không tách biệt về mặt pháp lý đối với lĩnh vực KDCK và kinh doanh tiền tệ; tính kết hợp đa năng về nghiệp vụ rất cao; giảm bớt được rủi ro trong hoạt động kinh doanh; có khả năng chịu được những biến động lớn của thị trường, ổn định sản xuất kinh doanh. Mô hình này được áp dụng nhiều ở các nước: Anh, Canada, Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ,… và có những ưu, nhược điểm sau: Một là, kết hợp đa năng rất cao trong kinh doanh. Mô hình CTCK đa năng toàn phần là sự kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại, Tổng công ty và chủ yếu là hoạt động kinh doanh tiền tệ (huy động tiền gửi, cho vay, thanh toán,…), kinh doanh bảo hiểm và KDCK, do đó sẽ giảm bớt được các chi phí quản lý cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng gánh chịu những sự biến động lớn của thị trường nói chung và TTCK nói riêng. Hai là, đảm bảo về vốn và trình độ chuyên môn. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc kinh doanh không tách biệt về mặt pháp lý, cho nên các CTCK đa năng toàn phần sử dụng ngay các nhà quản trị trong Hội đồng quản trị, Ban điều hành và nhân viên đã có nhiều kinh nghiệm về quản lý kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm, đầu tư trong hoạt động KDCK. Mặt khác, vốn và cơ sở vật chất của công ty cũng được ưu tiên đầu tư đầy đủ để kinh doanh, dự trữ chứng khoán, điều đó làm tăng khả năng sinh lợi cho hoạt động kinh doanh chung. Ba là, rủi ro trong kinh doanh và quyền tự chủ. Cũng từ nguyên tắc kinh doanh không tách biệt, nếu hoạt động KDCK gặp rủi ro sẽ có thể dẫn đến rủi ro lớn cho các ngân hàng, tổ chức tài chính đặc biệt khi hoạt động kinh doanh đầu tư lớn vào KDCK. Hơn nữa, công ty không được tự quyết định đầu tư và chiến lược kinh doanh mà phụ thuộc vào khuynh hướng kinh doanh của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị có khuynh hướng đầu tư KDCK là 12 chiến lược thì hoạt động KDCK được mở rộng và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong kinh doanh. Ngược lại, nếu khuynh hướng Hội đồng quản trị nghiêng về kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm,… là chiến lược thì hoạt động KDCK giảm đi và như vậy có thể sẽ không đạt được mục tiêu phát triển TTCK xét trên toàn bộ nền kinh tế. Bốn là, quản trị doanh nghiệp và kiểm soát nội bộ. Xuất phát từ nguyên tắc không tách bạch giữa nghiệp vụ KDCK với nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, kinh doanh bảo hiểm,… dẫn đến công tác quản lý kinh doanh và quản trị doanh nghiệp rất phức tạp. Điều này có thể dẫn đến tình trạng không kiểm soát được mọi lĩnh vực kinh doanh, các bộ phận thiếu sự phối kết hợp trong quá trình hoạt động, các nhân viên có thể lợi dụng trục lợi hoặc kinh doanh sai lệch chiến lược chung mà các nhà quản trị điều hành không kịp thời phát hiện và chấn chỉnh. Tóm lại, CTCK là một loại hình định chế tài chính đặc biệt và việc xác định mô hình CTCK phù hợp với hệ thống tài chính, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực KDCK là rất cần thiết. Tuy nhiên, mỗi một mô hình CTCK được áp dụng đều có những ưu nhược điểm nhất định và phù hợp với những giai đoạn phát triển khác nhau của TTCK nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung. 1.1.3.2. Vai trò của công ty chứng khoán CTCK là trung gian và tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và TTCK nói riêng; nó là cầu nối giữa những người có vốn nhàn rỗi và những chủ thể cần vốn sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Bằng các loại nghiệp vụ kinh doanh trên TTCK, các CTCK đã thể hiện vai trò quan trọng đối với sự phát triển của TTCK và các chủ thể tham gia trên TTCK, cụ thể như sau: Một là, CTCK tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế CTCK là một trong những tổ chức tài chính trung gian với vai trò huy động vốn cho nền kinh tế, nhờ đó mà chứng khoán của các tổ chức phát hành đến được với các nhà đầu tư và được lưu thông trên thị trường; qua đó một lượng lớn vốn được huy động từ những nguồn vốn nhàn rỗi đưa vào đầu tư phát triển nền kinh tế. Có thể thấy TTCK là nơi "chạy tiếp sức cho vốn" nhằm tập hợp vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi thành lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển sản xuất; tập hợp các nguồn vốn có thời gian nhàn rỗi khác nhau (ngắn hạn, dài hạn) thành nguồn vốn dài hạn cho đầu tư phát triển. Các CTCK thực hiện những nghiệp vụ kinh doanh trên TTCK, kinh 13 nghiệm nghề nghiệp sẽ giúp cho các tổ chức phát hành chứng khoán thành công, đáp ứng nhu cầu huy động vốn, nhu cầu sử dụng vốn, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, từ đó mà góp phần làm tăng lượng cung chứng khoán trên TTCK. Hai là, CTCK cung cấp cơ chế giá và bình ổn giá cả chứng khoán trên TTCK CTCK bằng các nghiệp vụ kinh doanh giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác giá trị các khoản đầu tư của mình. Toàn bộ các lệnh mua bán chứng khoán của nhà đầu tư được tập hợp tại SGDCK thông qua các CTCK; trên cơ sở đó, giá chứng khoán sẽ được xác định theo qui luật cung cầu. Hơn nữa, thông qua hoạt động tự doanh và các yêu cầu qui định của pháp luật hoặc của Nhà nước, các CTCK có chức năng quan trọng là có thể can thiệp vào TTCK góp phần điều tiết giá chứng khoán, tạo nên sự ổn định giá chứng khoán và góp phần tạo lập thị trường cho những chứng khoán mới phát hành. Khi CTCK thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán thì đã thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường mức giá chứng khoán phát hành thường do các CTCK xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu, thoả thuận với các nhà đầu tư tiềm năng trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành. Ba là, CTCK tạo điều kiện chuyển từ chứng khoán thành tiền và ngược lại Mong muốn của các nhà đầu tư là có được khả năng chuyển số vốn tạm thời nhàn rỗi thành chứng khoán hoặc ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định, công bằng và minh bạch. Trên TTCK nhờ hoạt động của các CTCK mà các nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển nhanh chóng các khoản tiền nhàn rỗi thành chứng khoán và ngược lại, điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán các loại chứng khoán với giá tốt nhất ở mỗi phiên giao dịch trên TTCK. Bốn là, CTCK góp phần tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới trên TTCK Trong khi thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, CTCK có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và phản ánh với các doanh nghiệp, các tổ chức phát hành chứng khoán nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Kết quả của quá trình này tạo ra sự đa dạng của các sản phẩm, dịch vụ; đa dạng hoá được cơ cấu khách hàng và với phí dịch vụ thấp sẽ ngày càng huy động được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội phục vụ cho đầu tư phát triển. 14 Năm là, CTCK góp phần giảm chi phí giao dịch, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư cho các nhà đầu tư Hàng hoá trên TTCK là những hàng hoá đặc biệt, những sản phẩm tài chính bậc cao nên để thẩm định chất lượng và xác định giá của chúng thường phải chi phí lớn trong việc thu thập, xử lý thông tin, đào tạo nhân viên, kỹ năng phân tích và thực hiện qui trình giao dịch trên thị trường tập trung. Những khoản chi phí này được các CTCK trang trải do tính chuyên nghiệp hoạt động và qui mô đủ lớn; qua đó CTCK giúp các nhà đầu tư tiết kiệm chi phí trong từng giao dịch cũng như trong tổng thể thị trường, giúp nâng cao qui mô giao dịch và góp phần nâng cao tính thanh khoản của chứng khoán. Đồng thời, CTCK cũng giúp các nhà đầu tư giảm được rủi ro trong quá trình mua bán chứng khoán; các nhà đầu tư khi mua chứng khoán được đảm bảo sẽ nhận được chứng khoán thật, và các nhà đầu tư bán chứng khoán sẽ được đảm bảo nhận được tiền sau khi giao chứng khoán hoàn thành, từ đó các nhà đầu tư có niềm tin và sẵn sàng mua bán chứng khoán vì khả năng sinh lời. Sáu là, CTCK giúp cơ quan nhà nước quản lý, giám sát hoạt động của TTCK. CTCK cung cấp thông tin về TTCK cho các nhà đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm quản lý TTCK hoạt động có hiệu quả. CTCK vừa là người bảo lãnh phát hành chứng khoán đối với những chứng khoán mới, lại vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch mua bán của nhà đầu tư trên thị trường; do vậy, các thông tin về nhà phát hành hay thông tin liên quan đến giao dịch mua bán chứng khoán, hàng hoá chứng khoán, thông tin về tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư và các thông tin liên quan khác được CTCK báo cáo các cơ quan quản lý nhà nước. Từ đó, các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng khoán và TTCK có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường, giá cả chứng khoán; nắm bắt được thực trạng TTCK để có các chính sách, giải pháp thích hợp, hiệu quả cho quá trình phát triển của TTCK và nền kinh tế nói chung. Bảy là, CTCK góp phần cải thiện môi trường đầu tư: CTCK góp phần hình thành văn hoá đầu tư: CTCK với hoạt động trung gian giữa người mua và người bán chứng khoán; do đó, khi CTCK đã đi sâu rộng vào cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức và các nhà đầu tư thì hoạt động của CTCK và nhân viên môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán là một yếu tố quan trọng góp phần hình thành văn hoá đầu tư trên TTCK với những đặc điểm sau: 15 - Tạo ý thức và thói quen đầu tư trong xã hội: Giai đoạn trước khi có TTCK và giai đoạn sơ khai thì tiền nhàn rỗi trong các gia đình, tổ chức thường sử dụng để mua vàng, bất động sản, gửi ngân hàng, liên doanh liên kết, mua các tài sản khác, trong khi đó nền kinh tế thiếu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. TTCK và CTCK ra đời và phát triển, các nhân viên môi giới tiếp cận với những khách hàng tiềm năng với những sản phẩm tài chính phù hợp, được các nhà đầu tư chấp nhận, nhân viên các CTCK sẽ giúp họ thực hiện qui trình, thủ tục đầu tư trên TTCK và thường xuyên chăm sóc khách hàng theo hướng có lợi nhất cho nhà đầu tư. Và như vậy, thay vì sử dụng tiền nhàn rỗi không có lợi cho nền kinh tế, người đầu tư sẽ chọn ưu tiên đầu tư vào tài sản tài chính. Dần dần hình thành ý thức đầu tư và cách hành xử của cả xã hội, và đó chính là nền tảng quan trọng tạo nên văn hoá đầu tư, một yếu tố không thể thiếu của nền kinh tế thị trường. - Tạo thói quen và kỹ năng sử dụng các dịch vụ đầu tư: Cùng với thời gian các nhà đầu tư nhận ra lợi ích của việc đầu tư, hình thành lòng tin và sự tín nhiệm đối với CTCK. Nhà đầu tư ý thức được những lợi ích từ các dịch vụ CTCK cung cấp và họ sẽ lựa chọn việc trả tiền để được hưởng các lợi ích đó như được cung cấp những ý kiến phân tích, cho lời khuyên về mua hoặc bán loại chứng khoán nào, thời điểm nào. - Tạo môi trường pháp lý, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật: Khi nhân viên CTCK thực hiện các nghiệp vụ KDCK là người chấp hành pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán. Đồng thời, CTCK cung cấp những kiến thức pháp luật cho nhà đầu tư, kịp thời phản ánh những bất cập, chưa hợp lý trong các qui phạm pháp luật đến các nhà làm luật để chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. - Tăng cường chất lượng và hiệu quả dịch vụ nhờ cạnh tranh: Các CTCK và từng nhân viên trong công ty cần phải thu hút được nhiều khách hàng mới, giữ được những khách hàng hiện có và ngày càng gia tăng khối lượng tài sản được uỷ thác. Để làm được điều đó đòi hỏi các nhân viên các CTCK không ngừng bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp; tuân thủ pháp luật và chấp hành đúng những qui trình nghiệp vụ và quản lý. Mỗi nhân viên có kỹ năng và trình độ cao góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các CTCK để cạnh tranh trên TTCK, do đó chất lượng các dịch vụ CTCK cung cấp ngày càng được nâng cao và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu của khách hàng. 16 1.1.4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán CTCK hoạt động trên TTCK thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán có ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhà đầu tư, các chủ thể trên thị trường và toàn xã hội. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, sự công bằng, khách quan giữa các chủ thể tham gia thị trường, CTCK khi thực hiện các hoạt động kinh doanh phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc chung được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật qui định đối với CTCK. Nguyên tắc hoạt động của CTCK gồm hai nhóm nguyên tắc cơ bản: Nhóm nguyên tắc về tài chính và nhóm nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp. Nguyên tắc tài chính: CTCK phải đáp ứng điều kiện về vốn pháp định cho các hoạt động kinh doanh được cấp phép hoạt động theo qui định; đảm bảo yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn, nguyên tắc hạch toán và chế độ báo cáo công khai theo qui định; phải tách biệt tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của công ty. Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: CTCK đặc biệt là các nhân viên phải tuân thủ đầy đủ bộ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm đảm bảo tính trung thực, công bằng, khách quan trong thực hiện nhiệm vụ như: Giao dịch công bằng và trung thực vì lợi ích của khách hàng; phải có kỹ năng, có tinh thần trách nhiệm cao; ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty; bảo mật các thông tin về khách hàng; không tham gia kinh doanh ngoài phạm vi giấy phép kinh doanh; không làm sai lệch thông tin về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán gây thiệt hại cho khách hàng; phải có hợp đồng khi thực hiện dịch vụ cho khách hàng. Hoạt động của CTCK trên thị trường thực hiện rất đa dạng về nghiệp vụ kinh doanh, nhưng cơ bản gồm: Hoạt động môi giới chứng khoán; hoạt động tự doanh chứng khoán; hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán; hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Các hoạt động của CTCK có thể chia thành hai nhóm chính là hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty và hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán. 1.1.4.1. Hoạt động tự doanh chứng khoán Hoạt động tự doanh là một trong những hoạt động cơ bản của CTCK, là việc CTCK đầu tư mua bán chứng khoán bằng vốn của mình nhằm mục đích lợi nhuận. Phần lợi nhuận CTCK thu được từ hoạt động tự doanh có thể từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán hoặc từ cổ tức, trái tức được trả từ nhà phát hành chứng khoán. 17 Khi CTCK thực hiện hoạt động tự doanh trên thị trường phi tập trung (OTC), việc mua bán được tiến hành trực tiếp giữa CTCK với các khách hàng thông qua thương lượng, thoả thuận thống nhất hoặc qua hệ thống máy vi tính kết nối mạng. Khi CTCK thực hiện hoạt động tự doanh trên SGDCK, việc mua bán chứng khoán của công ty giống như các nhà đầu tư khác trên thị trường, các lệnh mua bán chứng khoán của CTCK cũng được đưa vào hệ thống và thực hiện như các lệnh của các nhà đầu tư khác và có thể thực hiện việc mua bán với bất kỳ khách hàng nào. Tuỳ thuộc vào mục đính, tính chất đầu tư mà hoạt động tự doanh của CTCK bao gồm: Hoạt động tự doanh để hưởng lợi nhuận: Đầu tư thu lợi nhuận là một trong những mục tiêu chính của CTCK khi thực hiện hoạt động tự doanh. Các CTCK có kinh nghiệm đầu tư chứng khoán và thông tin phân tích thị trường nên có thể chấp nhận rủi ro đầu tư mua bán nhanh một hoặc một số loại chứng khoán nhằm thu lợi nhuận cao hoặc tiến hành hoạt động tự doanh trên các loại chứng khoán có mức độ an toàn cao với mục tiêu lâu dài nhằm hưởng lợi tức, trái tức từ nhà phát hành. Hoạt động tự doanh nhằm mục đích nắm quyền kiểm soát: Thực hiện mục tiêu này, CTCK tiến hành mua vào một hoặc một số loại chứng khoán nào đó theo chiến lược đầu tư đã định với mục tiêu đạt được số lượng chứng khoán nhất định để có thể tham gia vào việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành và có thể CTCK phải bỏ qua mục tiêu lợi nhuận trong ngắn hạn. Hoạt động tự doanh với mục tiêu quản lý tiền mặt: Các CTCK phải duy trì một lượng tiền mặt nhất định tại công ty nhằm đảm bảo khả năng chi trả cho hoạt động bình thường của công ty vừa đảm bảo khả năng sinh lời của vốn và để đáp ứng những mục tiêu đó CTCK thực hiện đầu tư vào kinh doanh chứng khoán ngắn hạn. Hoạt động tự doanh nhằm tạo lập thị trường: Đây là nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của hoạt động tự doanh của các CTCK, đòi hỏi CTCK phải luôn nắm giữ một số lượng chứng khoán đủ lớn để sẵn sàng bán khi có nhu cầu; đồng thời cũng phải dự trữ một lượng tiền nhất định để mua chứng khoán khi nhà đầu tư có nhu cầu bán. Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu mua bán một loại chứng khoán mà CTCK không tạo lập thị trường (không mua bán) thì CTCK sẽ tìm một kênh khác đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư và để thực hiện được vai trò này CTCK phải đồng thời tiến hành hoạt động môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán với hoạt động tự doanh. 18 Từ các mục đích khác nhau được trình bày trên đây, hoạt động tự doanh chứng khoán của các CTCK có những đặc điểm cơ bản sau: - Qui mô đầu tư lớn: CTCK phải đầu tư một lượng vốn lớn ở hình thức tiền mặt và chứng khoán để thực hiện các mục tiêu trong hoạt động tự doanh. - Hiệu quả đầu tư tự doanh: Phụ thuộc vào sự phát triển hay sa sút của TTCK. - Đội ngũ nhân viên: Nhân viên tự doanh có trình độ chuyên môn cao, tính nhạy cảm cao với thị trường, khả năng phân tích và đưa ra quyết định đầu tư hợp lý. - Tính chủ động: CTCK chủ động tham gia kinh doanh mua bán chứng khoán về phương thức giao dịch, hành vi giao dịch và giá cả giao dịch. - Tính thu lợi nhuận: Lợi nhuận đem lại từ hoạt động tự doanh phát sinh từ chênh lệch giá chứng khoán khi mua bán; hoặc thu từ lợi tức, trái tức. - Tính rủi ro: Tính rủi ro là một đặc trưng chủ yếu khi kinh doanh trên TTCK, hoạt động tự doanh là một hoạt động đầu tư, sử dụng vốn tự có và vốn huy động hợp pháp để mua bán chứng khoán. Bên cạnh việc có thể thu lợi nhuận, hoạt động tự doanh chứng khoán cũng chứa đựng nhiều rủi ro và có thể bị tổn thất lớn do biến động giảm của giá chứng khoán, rủi ro kinh doanh của nhà phát hành. CTCK thực hiện nhiều hoạt động khác nhau liên quan đến khách hàng, trong đó vừa với tư cách là nhà đầu tư vừa là nhà môi giới cung cấp các dịch vụ cho khách hàng thực hiện mua bán chứng khoán trên TTCK; có những hoạt động phát sinh xung đột về lợi ích giữa khách hàng với CTCK hoặc giữa khách hàng với nhau. Do đó, các CTCK tiến hành hoạt động tự doanh phải đảm bảo các yêu cầu do pháp luật qui định. Một là, phải tách biệt giữa hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Việc qui định tách biệt hoạt động môi giới chứng khoán với hoạt động tự doanh nhằm tránh xung đột lợi ích giữa khách hàng với công ty; đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động của CTCK. Sự tách biệt gồm các nội dung: Tách biệt về nhân viên thực hiện, không được phép vừa thực hiện hoạt động môi giới vừa thực hiện hoạt động tự doanh; tách biệt về qui trình nghiệp vụ; tách biệt về tài sản và tiền vốn của khách hàng với của công ty; công ty không được sử dụng vốn và tài sản của khách hàng để thực hiện KDCK. Việc qui định tách biệt hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán với hoạt động tự doanh nhằm đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư. Bởi vì, nếu không khi bộ phận tự doanh hoặc 19 nhân viên muốn mua loại chứng khoán nào thì bộ phận tư vấn có thể sẽ tư vấn cho khách hàng bán loại chứng khoán đó và ngược lại khi bộ phận tự doanh muốn bán loại chứng khoán nào đó thì họ lại tư vấn cho khách hàng mua loại chứng khoán đó. Hai là, phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của CTCK. Do tính đặc thù của ngành KDCK và khi thực hiện hoạt động tự doanh thì CTCK cũng là một nhà đầu tư và khả năng tiếp cận thông tin, trực tiếp nhận và khớp lênh, khả năng phân tích thị trường tốt hơn các khách hàng nhất là khách hàng cá nhân nên các CTCK có nhiều ưu thế hơn trong quyết định mua bán chứng khoán. Vì vậy, để đảm bảo tính công bằng, rõ ràng giữa CTCK và các nhà đầu tư, CTCK phải thực hiện nguyên tắc ưu tiên khớp lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty. Ba là, bình ổn giá cả thị trường. CTCK thực hiện hoạt động tự doanh có thể điều tiết cung cầu chứng khoán trên thị trường: Khi giá chứng khoán trên thị trường sụt giảm (cầu giảm), qua hoạt động tự doanh CTCK có trách nhiệm mua vào; khi giá chứng khoán tăng đột biến (cầu tăng) thì CTCK có trách nhiệm bán chứng khoán nhằm giữ giá chứng khoán không bị biến động lớn. Các CTCK thực hiện yêu cầu này là đã bỏ qua vai trò của nhà đầu tư với mục tiêu lợi nhuận và CTCK phải dành một phần nhất định trong các giao dịch cho mục tiêu bình ổn thị trường. Bốn là, tạo thị trường cho chứng khoán mới phát hành. CTCK thông qua hoạt động tự doanh tiến hành mua bán và tạo tính thanh khoản cho chứng khoán này trên thị trường thứ cấp - đây chính là tạo thị trường cho chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường phi tập trung (OTC) các CTCK thường xuyên có các nhân viên kinh doanh báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà đầu tư khác, qua đó tạo ra và duy trì một thị trường cho những loại chứng khoán mà họ kinh doanh. Ngoài ra, CTCK thực hiện hoạt động tự doanh còn góp phần vào việc điều tiết cung cầu các loại chứng khoán, định hướng toàn bộ thị trường nhất là những thị trường mới thành lập, những chứng khoán ít giao dịch; tạo đà duy trì và phát triển TTCK. Ngoài những yêu cầu trên đối với hoạt động tự doanh của CTCK cần tuân thủ một số qui định như: Không được thực hiện mua bán cùng một loại chứng khoán trong một ngày giao dịch; không cho người khác sử dụng tài khoản tự doanh của công ty; không được tiến hành giao dịch trá hình tức là giao dịch không làm dịch chuyển quyền sở hữu làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán; không được lợi 20 dụng các thông tin quyết định của khách hàng để mua bán trước; bị hạn chế đầu tư theo một tỷ lệ nhất định tuỳ theo loại chứng khoán lưu hành. Hoạt động tự doanh của CTCK là hoạt động đầu tư thu lợi nhuận, do đó công ty phải phân tích kỹ các thông tin trước khi ra quyết định đầu tư nhằm đạt hiệu quả cao. Do vậy, các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh theo một qui trình khoa học, gồm các bước như sau: Bước 01: Xây dựng chiến lược đầu tư: CTCK phải xây dựng được chiến lược đầu tư, lựa chọn được các lĩnh vực đầu tư và danh mục đầu tư hợp lý theo từng giai đoạn phát triển của thị trường cũng như của công ty. Chiến lược đầu tư kinh doanh của CTCK phụ thuộc vào bản lĩnh và quan điểm đầu tư của Ban lãnh đạo công ty là chấp nhận rủi ro hay mức độ an toàn cao; chủ động hay thụ động hay mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận; sự biến động của nền kinh tế; khả năng nắm bắt và xử lý thông tin; trình độ phân tích tài chính; chính trị - xã hội; tâm lý; khả năng điều hành. Bước 02: Khai thác, tìm kiếm cơ hội đầu tư: Trên cơ sở mục tiêu, chiến lược và danh mục đầu tư, CTCK triển khai tìm kiếm mặt hàng, nguồn hàng, khách hàng và các cơ hội đầu tư trên thị trường (thị trường sơ cấp và thứ cấp) để đạt mục tiêu đề ra. Bước 03: Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư: CTCK dựa vào các nguồn thông tin, các nguồn hàng và cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh (có thể sẽ kết hợp với bộ phận phân tích chứng khoán) tiến hành thẩm định, phân tích và đánh giá chất lượng các khoản đầu tư để tìm ra kết luận phù hợp về mỗi cơ hội đầu tư, loại chứng khoán đầu tư, giá cả, địa điểm và thời điểm,… theo một trình tự như sau: 1. Thu thập thông tin: Để chính thức đầu tư, nhân viên tự doanh phải dựa vào thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như Báo cáo tài chính của doanh nghiệp từ 2 - 5 năm gần nhất trước thời điểm đầu tư; Báo cáo tài chính thường niên của các công ty có tham gia tự doanh; các thông tin liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp như tình hình kinh tế ngành, các chỉ tiêu phát triển kinh tế về t ăng trưởng; tình hình lạm phát, biến động của tỷ giá hối đoái; các thông tin liên quan đến các dự án đầu tư. 2. Phân tích đánh giá: Đối với cổ phiếu, nhân viên tự doanh tập trung phân tích từng loại cổ phiếu với các mục đích khác nhau mà công ty đặt ra. Phương pháp phân tích là chủ yếu dựa vào phân tích cơ bản để lựa chọn được công ty tốt và chứng khoán tốt; thường xuyên phân tích kỹ thuật để lựa chọn thời điểm chứng khoán tăng giá hoặc giảm giá để quyết định tiến hành đặt lệnh giao dịch. Đối với
- Xem thêm -