Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần vpp hồng hà

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24721 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Đề tài: Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ phần VPP Hồng Hà LỜI NÓI ĐẦU Nước ta từ sau Đại Hội Đảng lần thứ VI (1986) đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là một bước ngoặt có tính chất quyết định đối với sự phát triển của đất nước. Cơ chế thị trường đã có sự tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn tìm cách để hoạt động có hiệu quả và thu được nhiều lợi nhuận nhất. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải hoàn thiện tất cả các khâu vận hành của mình trong khả năng có thể, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến công cụ kế toán. Kế toán là công cụ quản lý hiệu quả tài sản, tiền vốn và quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, đồng thời là nguồn cung cấp thông tin và số liệu đáng tin cậy để Nhà nước điều hành vĩ mô nền kinh tế, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các ngành, các lĩnh vực. Vì vậy việc đổi mới, hoàn thiện công tác kế toán để phù hợp với yêu cầu của cơ chế quản lý mới là một vấn đề vô cùng cấp thiết. Trong công tác kế toán nói chung, kế toán “tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” là phân hệ quan trọng vì mục tiêu đặt ra của các doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm chất lượng tốt, với chi phí sản xuất tiết kiệm nhất và giá thành sản phẩm thấp ở mức có thể, một mặt làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động, mặt khác đảm bảo sự tồn tại và củng cố vị thế của doanh nghiệp trong cạnh tranh. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp cần tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác và kịp thời, đúng đối tượng, đúng phương pháp, và đúng chế độ quy định. Chính vì vậy công tác kế toán này luôn được sự quan tâm sâu sắc của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần VPP Hồng Hà. Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty Cổ phần VPP Hồng Hà đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện để tồn tại và đứng vững trên thị trường. Để hiểu rõ hơn nội dung và tầm quan trọng của công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm nên trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần VPP Hồng Hà, em đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu và lựa chọn đề tài:”Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ phần VPP Hồng Hà” Kết cấu luận văn của em gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Lý luận chung về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Văn phòng phẩm Hồng Hà. Chƣơng 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ phần Văn phòng phẩm Hồng Hà Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo cũng như các cô, các anh chị ở phòng kế toán của Công ty nhưng do thời gian tiếp cận thực tế còn ít và trình độ lý luận còn hạn chế nên bài luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em mong muốn được tiếp thu những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các cô, các anh chị phòng kế toán Công ty để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn – Thạc sỹ Mai Thị Bích Ngọc cùng toàn thể các cô, các anh chị trong phòng kế toán của Văn Công ty Cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà đã giúp em hoàn thành luận văn này. Chƣơng 1 Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 1.1. Sự cần thiết khách quan phải tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và xu thế mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp có sự chuyển biến đáng kể. Đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra một cơ hội lớn cho các Doanh nghiệp Việt Nam, nhưng bên cạnh đó thách thức cũng không nhỏ. Để tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường trong nước và các doanh nghiệp ngoài nước, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tận dụng, phát huy tối đa những lợi thế của mình so với các doanh nghiệp khác. Những lợi thế đó được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lợi thế về chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm. Để tạo ra lợi thế này, các doanh nghiệp cần quan tâm đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, vì trên thực tế, đó là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất luôn gắn liền với việc sử dụng vật tư, tài sản, và là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm, tiết kiệm được chi phí sản xuất là điều kiện để hạ giá thành sản phẩm. Kế toán chi phí sẽ giúp nhà quản lý có thể tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. 1.1.1. Khái niệm, bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm  Chi phí sản xuất Bất kỳ doanh nghiệp nào, để tiến hành sản xuất kinh doanh, cũng cần có đủ ba yếu tố cơ bản, đó là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất chính là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Chi phí sẽ phát sinh khi doanh nghiệp sử dụng các yếu tố trên. Đó là các chi phí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ( hao phí bằng tiền lao động vật hóa), chi phí nhân công( hao phí bằng tiền lao động sống), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. Để xác định và tổng hợp được các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong thời kỳ hoạt động thì mọi chi phí chi ra đều phải biểu hiện bằng thước đo tiền tệ. Trong quá trình sản xuất doanh nghiệp còn phải bỏ ra nhiều chi phí như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, nhưng chỉ những chi phí nào phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp mới được coi là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán và tập hợp theo từng thời kỳ: tháng, quý, năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ. Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ về hao phí lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ dịch vụ, trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất luôn biểu hiện ở 2 mặt: mặt định tính và mặt định lượng:  Mặt định tính của chi phí sản xuất được biểu hiện là các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để sản xuất bằng tiền hay hiện vật.  Mặt định lượng của chi phí sản xuất thể hiện ở mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí tham gia vào quá trình sản xuất để cấu tạo nên sản phẩm của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền. Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai nhân tố cơ bản:  Khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ.  Giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí Xét về thực chất thì chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.  Giá thành sản phẩm Để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần phải biết số chi phí đã chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu, số chi phí đã chi ra đã cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành là bao nhiêu… chỉ tiêu thỏa mãn được những thông tin mang các nội dung trên chính là giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định. Như vậy, bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào những sản phẩm nhất định đã hoàn thành. Giá thành có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như tính đúng đắn của các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản xuất, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giá bán cũng như xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất. Vì vậy các doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến việc quản lý chỉ tiêu này. 1.1.2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Về mặt bản chất thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất. Nhưng do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau trên hai phương diện:  Về mặt phạm vi: chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành.  Về mặt lượng: chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau khi có sản phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ. Cụ thể : chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm hoàn thành, sản phẩm làm dở, còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí liên quan đến sản phẩm hoàn thành, nó bao gồm cả chi phí kỳ trước chuyển sang và không bao gồm chi phí của sản phẩm làm dở cuối kỳ.Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ này thể hiện ở công thức giá thành tổng quát sau: Tổng giá thành sản Chi phí sản = phẩm xuất dở dang Chi phí sản + xuất phát sinh - đầu kỳ trong kỳ Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ Trong trường hợp đặc biệt khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ hoặc không có sản phẩm làm dở thì tổng giá thành bằng tổng chi phí sản xuất trong kỳ. Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau: Một bên chi phí sản xuất là đầu vào là nguyên nhân dẫn đến kết quả đầu ra là giá thành sản phẩm. Mặt khác số liệu của kế toán tập hợp chi phí là cơ sở để tính giá thành sản phẩm vì vậy tiết kiệm được chi phí sẽ hạ được giá thành sản phẩm. 1.1.3. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp sản xuất là phải tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Để thực hiện yêu cầu này, các doanh nghiệp cần sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp quản lý với công cụ kế toán mà cụ thể là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Việc phân tích đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ đạt được khi có giá thành sản phẩm chính xác, mà tính chính xác của giá thành sản phẩm lại chịu ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi phí sản xuất. Vì vậy, việc tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tượng, góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành sản phẩm. Do vậy, tổ chức tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất một cách chính xác, kịp thời đúng đối tượng, đúng chế độ qui định, đúng phương pháp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là yêu cầu cấp bách trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. 1.1.4. Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.  Nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán trong doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chi phí và tính giá thành.  Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý doanh nghiệp.  Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý dựa trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm của từng thành viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.  Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toán phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được yêu cầu thu nhận – xử lý – hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp.  Tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra được các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất – tiêu thụ sản phẩm  Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm làm dở khoa học hợp lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất trong kỳ một cách đầy đủ chính xác. 1.2. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Phân loại chi phí có rất nhiều tiêu thức, ở đây em xin chú trọng trình bày cách phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố và theo khoản mục. 1.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (theo yếu tố chi phí) Theo cách phân loại này, người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào. Vì vậy, cách phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố. Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam, khi quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo 5 yếu tố sau:  Chi phí nguyên liệu và vật liệu: yếu tố này bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác.  Chi phí nhân công: yếu tố này là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động.  Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.  Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.  Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên. Phân loại chi phí theo yếu tố có tác dụng cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí sản xuất, xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về lao động, vật tư, tài sản…trong doanh nghiệp. Nó còn là cơ sở để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, cung cấp số liệu để lập thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị. 1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế (theo khoản mục) Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí để sắp xếp những chi phí có cùng một mục đích và công dụng vào cùng một khoản mục chi phí, không xem xét nội dung kinh tế ban đầu của chi phí. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành 3 khoản mục:  Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.  Chi phí nhân công trực tiếp : bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.  Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau: + Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, nhân viên kinh tế…tại phân xưởng sản xuất. + Chi phí vật liệu: Bao gồm vật liệu các loại dùng cho nhu cầu sản xuất chung tại phân xưởng (tổ, đội) sản xuất. + Chi phí dụng cụ sản xuất: Là chi phí về dụng cụ, công cụ dùng cho nhu cầu sản xuất chung tại phân xưởng( tổ, đội) sản xuất. + Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của TSCĐ hữu hình, vô hình, TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất. + Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi phí về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng cho yêu cầu quản lý chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho kỳ sau. 1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp. Nghiên cứu chi phí theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thì toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ. - Chi phí ban đầu bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. - Chi phí luân chuyển nội bộ: là các chi phí phát sinh trong quá trình phân công và hợp tác lao động trong doanh nghiệp. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý vĩ mô cũng như đối với quản trị doanh nghiệp. Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào là cơ sở để lập và kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố, là cơ sở để lập kế hoạch cân đối trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như ở từng doanh nghiệp; là cơ sở xác định mức tiêu hao vật chất, tính thu nhập quốc dân cho nghành, toàn bộ nền kinh tế. 1.2.1.3 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành:  Chi phí sản phẩm  Chi phí thời kỳ. 1.2.1.4 Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng qui nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại :  Chi phí trực tiếp  Chi phí gián tiếp. 1.2.1.5 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh Bao gồm chi phí cơ bản và chi phí chung. Cách phân loại này giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được phương hướng tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm. 1.2.1.6 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với mức độ hoạt động - Chi phí biến đổi (biến phí) + Biến phí tỷ lệ. + Biến phí thay đổi không tỷ lệ trực tiếp - Chi phí cố định (định phí) + Định phí tuyệt đối. + Định phí cấp bậc. + Định phí bắt buộc. + Định phí không bắt buộc. - Chi phí hỗn hợp. Ngoài ra còn có các nhận diện khác về chi phí như: + Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được. + Các loại chi phí được sử dụng trong lựa chọn các phương án bao gồm:  Chi phí chênh lệch  Chi phí chìm  Chi phí cơ hội Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí khác nhau đều có một mục đích chung đó là làm sao quản lý được tốt nhất chi phí sản xuất và qua đó thực hiện nhiệm vụ tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp. 1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm được phân chia làm nhiều loại khác nhau, tùy theo các tiêu thức sử dụng để phân loại giá thành: 1.2.2.1. Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành. Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia làm 3 loại:  Giá thành sản phẩm kế hoạch: là giá thành được tính toán trên cơ sở sản lượng kế hoạch và chi phí sản xuất kế hoạch. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp để tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.  Giá thành sản phẩm định mức: được tính toán căn cứ vào định mức hiện hành và chỉ tính cho 1 đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức là thước đo việc sử dụng hợp lý tiết kiệm mọi nguồn lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định.  Giá thành sản phẩm thực tế: của sản phẩm được tính trên cơ sở sản lượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành và chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ. Giá thành thực tế là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm các loại chi phí và là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.2.2.2. Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành. Theo cách phân loại này, giá thành được chia thành 2 loại:  Giá thành sản xuất sản phẩm: bao gồm toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm đã sản xuất hoàn thành.  Giá thành sản xuất có tác dụng để ghi sổ kế toán Nhập – xuất kho thành phẩm và tính giá vốn của hàng bán và lãi gộp trong kỳ  Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: bao gồm giá thành sản xuất tính cho số sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ tính cho số sản phẩm này. Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán xác định lợi nhuận trước thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.3. Đối tƣợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tƣợng tính giá thành sản phẩm Việc xác định đúng đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo tính giá thành sản phẩm chính xác, giảm bớt khối lượng công việc kế toán, phát huy vai trò của kế toán trong công tác quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. 1.3.1. Đối tƣợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo phạm vi, giới hạn đó, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm. Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chính là xác định nơi các chi phí đó phát sinh hoặc các đối tượng gánh chịu chi phí. - Địa điểm phát sinh chi phí như: phân xưởng, đội trại sản xuất, bộ phận chức năng… - Đối tượng gánh chịu chi phí : sản phẩm, công việc hoặc lao vụ do doanh nghiệp đang sản xuất, công trình, hạng mục cụng trình, đơn đặt hàng… Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý và yêu cầu tính giá thành sản phẩm mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là: - Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng - Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất - Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp Ý nghĩa của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí: Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý là cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết… Bảo đảm cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành kịp thời chính xác. Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp xác định theo các đối tượng kế toán chi phí sản xuất sẽ là cơ sở đế tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo các đối tượng đã xác định. 1.3.2. Đối tƣợng tính giá thành sản phẩm  Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị. Việc xác định đối tượng tính giá thành căn cứ vào: - Đặc điểm tổ chức sản xuất( loại hình sản xuất) như sản xuất đơn chiếc, hay sản xuất hàng loạt - Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất : quy trình sản xuất giản đơn hay phức tạp kiểu liên tục - Yêu cầu và trình độ hạch toán - Tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể. Theo loại hình sản xuất: - Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm được xác định là đối tượng tính giá thành. - Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm là một đối tượng tính giá thành. Theo quy trình công nghệ sản xuất: - Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở cuối quy trình công nghệ. - Nếu quy trình công nghệ sản xuất và chế biến phức tạp kiểu liên tục hay song song thì đối tượng tính giá thành có thể là thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng, có thể là các loại nửa thành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn sản xuất, cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành. Tuy nhiên, nửa thành phẩm tự chế ở từng giai đoạn sản xuất và từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm có là đối tượng tính giá thành hay không, còn phải tính đến chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hay ngắn, nửa thành phẩm tự chế có phải là hàng hoá hay không, yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp đặt ra thế nào để xác định cho phù hợp.  Kỳ tính giá thành Kỳ tính giá thành là thời điểm bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất khác nhau thì kỳ tính giá thành là khác nhau: - Nếu doanh nghiệp sản xuất với khối lượng sản phẩm lớn, chu kỳ sản xuất xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là vào thời điểm cuối mỗi tháng. - Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt theo từng đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm hoặc loại sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất của sản phẩm hoặc loại sản phẩm đó thì kỳ tính giá thành thích hợp là thời điểm mà sản phẩm hoặc loạt sản phẩm đã hoàn thành. Xác định kỳ tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thích hợp, sẽ giúp cho tổ chức công việc tính giá thành sản phẩm được khoa học hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu thông tin về tính giá thành thực tế của sản phẩm lao vụ kịp thời, trung thực phát huy được vai trò kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế toán.  Ý nghĩa của việc xác định đối tượng tính giá thành: Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành sản phẩm là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức các bảng tính giá thành sản phẩm theo từng đối tượng đã được xác định. Là căn cứ để lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp để tổ chức công việc tính giá thành khoa học, hợp lý, phục vụ kiểm tra thực hiện kế hoạch giá thành. 1.3.3. Mối quan hệ giữa đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tƣợng tính giá thành sản phẩm Qua phân tích hai khái niệm trên cho thấy: đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm. Tuy vậy, giữa hai khái niệm này vẫn có sự khác nhau: Sự khác nhau về phạm vi: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có phạm vi rộng hơn đối tượng tính giá thành. Xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nơi phát sinh chi phí hoặc nơi chịu chi phí. Còn đối tượng tính giá thành chỉ là xác định nơi chịu chi phí. Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định phạm vi, giới hạn tổ chức kế toán chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ. Xác định đối tượng tính giá thành là xác định phạm vi, giới hạn của chi phí liên quan đến kết quả sản xuất đã hoàn thành của quy trình sản xuất. Sự khác nhau về tác dụng: Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở để mở các tài khoản cấp 2, cấp 3, để tổ chức kế toán tập hợp chi phí chi tiết theo đúng đối tượng nhằm kiểm tra, kiểm soát chi phí. Việc xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán mở các bảng tính giá thành và tổ chức tính giá thành theo đúng đối tượng. Mối quan hệ giữa hai khái niệm trên - Trường hợp 1 đối tượng tập hợp chi phí sản xuất tương ứng phù hợp với 1 đối tượng tính giá thành. - Trường hợp 1 đối tượng tập hợp chi phí sản xuất tương ứng phù hợp với nhiều đối tượng tính giá thành - Trường hợp nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất nhưng chỉ có một đối tượng tính giá thành - Trường hợp nhiều đối tượng tập hợp chi phí tương ứng với nhiều đối tượng tính giá thành. 1.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định. Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó. Tuỳ thuộc vào khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, kế toán sẽ áp dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp.Thông thường tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau: + Phương pháp tập hợp trực tiếp : Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định , công tác hạch toán, ghi chép ban đầu cho phép quy nạp trực tiếp các chi phí này vào từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí liên quan. + Phương pháp phân bổ gián tiếp: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, không tổ chức ghi chép ban đầu chi phí sản xuất phát sinh riêng cho từng đối tượng được. Trong trường hợp này, phải tập hợp chi phí sản xuất phát sinh chung cho nhiều đối tượng theo từng nơi phát sinh chi phí. Sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng chịu chi phí. Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự: - Xác định hệ số phân bổ: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp cần phân bổ Hệ số phân bổ = Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng Ci = Ti x H + Ci là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i + Ti là đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i + H là hệ số phân bổ Phương pháp phân bổ gián tiếp, mức độ chính xác của chi phí sản xuất tính cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phụ thuộc vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ đựợc lựa chọn sử dụng. 1.5. Phƣơng pháp kế toán chi phí sản xuất Chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp có thể tập hợp theo hai phương pháp kế toán tổng hợp hàng tồn kho. Phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ. 1.5.1.Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên. 1.5.1.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.  Nội dung: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… được dùng trực tiếp cho việc sản xuất, gia công, chế biến sản phẩm. Trường hợp doanh nghiệp mua nửa thành phẩm để gia công, lắp ráp thêm thì cũng được hạch toán vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được quản lý theo các định mức chi phí do doanh nghiệp xây dựng. Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào đối tượng có thể tiến hành theo phương pháp trực tiếp hoặc phân bổ gián tiếp. Đối với những nguyên vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, sản phẩm, lao vụ…) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó.
- Xem thêm -