Tính toán thiết kế xưởng sửa chữa ô tô du lịch dưới 7 ch, năng suất sửa chữa 300 xe một năm

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC THUÛY SAÛN KHOA CÔ KHÍ BOÄ MOÂN ÑOÄNG LÖÏC TAØU THUYEÀN ---oOo--- ÑOÀ AÙN TOÁT NGHIEÄP TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XƯỞNG SỬA CHỮA Ô TÔ DU LỊCH DƯỚI 7 CH, NĂNG SUẤT SỬA CHỮA 300 XE MỘT NĂM Ngaønh : CÔ KHÍ ÑOÄNG LÖÏC TAØU THUYEÀN Maõ ngaønh : 18.06.10 Maõ TN : 6/ ÑTTN/ 43 CKDL GVHD SVTH MSSV Lôùp : NGUYỄN QUỐC HIỆP : NGUYỄN TRỌNG HIẾU :43S1017 : 43DLTT- SG Nha Trang 6/2006 SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 1 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, với sự phát triển kinh tế của đất nước, mức sống của người dân cũng được nâng cao rỏ rệt. Các nhu cầu mua sắm, sinh hoạt của người dân càng được nâng cao. Ở các thành phố lớn và các trung tâm quận huyện, số lượng người dân có xe hơi ngày càng gia tăng nhanh. Cùng với sự gia tăng về số lượng xe ô tô du lịch thì nhu cầu bảo dưởng sửa chữa xe cũng tăng nhanh. Ngoài các trung tâm bảo hành của các hảng xe thì các trung tâm sửa chửa xe du lịch bên ngoài cũng phát triển nhanh. Nhìn chung, xe hơi du lịch là một phương tiện đắt tiền và các công việc liên quan đến sửa chửa bảo dưỡng xe du lịch lịch cũng mang lại một nguồn thu nhập lớn cho người thợ sửa chữa và các trung tâm sửa chữa. Với đề tài tốt nghiệp được giao “ Tính toán thiết kế xưởng sửa chữa xe du lịch dưới 7 chổ, công suất sửa chữa 300 xe 1 năm”. Qua nghiên cứu và tìm hiểu tôi đã hoàn thành đề tài với 5 nội dung cơ bản sau: Những yêu cầu chung khi thay thế và sửa chữa ô tô du lịch Tính toán thiết kế số lượng máy móc thiết bị dùng trong sửa chữa Tính toán thiết kế mặt bằng xưởng Tính toán số lượng công nhân Phụ lục về các loại ô tô du lịch dưới 7 chổ Với sự nổ lực cố gắng của bản thân để hoàn thiện tốt đề tài được giao nhưng trên thực tế không tránh khỏi những khó khăn về chuyên môn cũng như khả năng phân tích, nhìn nhận vấn đề và thời gian thực hiện. Rất mong được quý thầy cô và các bạn thông cảm và đóng góp ý kiến để hoàn thiện hơn. Nhân đây, tôi xin phép gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Nguyễn Quốc Hiệp đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu, ý kiến cũng như thông tin giá trị trong quá trình thực hiện đề tài. Xin cảm ơn! Nha Trang, ngày 15 tháng 6 năm 2006. Sinh viên thực hiện SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 2 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Nguyễn Trọng Hiếu Chương 1 NHỮNG YÊU CẦU CHUNG KHI THAY THẾ, SỬA CHỮA Ô TÔ DU LỊCH DƯỚI 7 CHỖ SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 3 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ Ô TÔ VÀ CẤU TẠO Ô TÔ 1.1.1 GIỚI THIỆU CHUNG Ô tô là phương tiện vận tải đường bộ rất cơ động và mang lại hiệu quả cao. Ngoài việc vận chuyển hàng hoá nó còn là phương tiện vận chuyển người an toàn và cơ động. Hiện nay có rất nhiều loại ô tô đang sử dụng trên thị trường, có thể phân ra thành ô tô chuyên dùng, ô tô tải, ô tô khách, ô tô con ( xe du lịch). Trong xe chuyên dùng lại có thể chia thành: xe chữa cháy, xe cẩu, xe cứu thương, xe chở rác, xe đua. Trong xe tải có thể chia thành: xe đơn, xe kéo móc, xe đầu kéo. Hoặc chia theo tải trọng: xe tải trọng cực nhỏ < 0,5 tấn ; tải trọng nhỏ 0,5- 2,0 tấn ; tải trọng vừa từ 2,0-5,0 tấn ; tải trọng lớn 5,0-15 tấn và xe có tải trọng cực lớn > 15 tấn. Hoặc chia: xe bệ gổ, xe tự đổ, xe ướp lạnh, xe container, xe xitéc, xe chở cấu kiện xây dựng. Trong xe khách có thể chia ra: xe đơn, xe kéo móc, xe 2 tầng, xe nửa móc. hoặc chia: xe có chiều dài cực ngắn< 5m, xe có chiều dài ngắn 6,0-7,5m ; chiều dài vừa 8,0-9,5m ; chiều dài lớn 10-12m ; chiều dài cực dài > 16m. Hoặc chia xe chạy trong thành phố, xe chạy liên tỉnh, xe đưa rước. Hoặc chia theo số ghế khách ngồi có các loại xe 52 ghế, xe 48 ghế, xe 46 ghế, xe 32 ghế, xe 24 ghế, xe 16 ghế, xe 12 ghế, xe 6 ghế. Trong xe con lại có thể chia thành: xe 2 cửa, xe 4 cửa, xe 5 cửa, xe 2 chỗ, xe 4 chỗ, xe 6 chỗ, xe 7 chỗ. Hoặc có thể chia theo thể tích công tác của động cơ: xe cở nhỏ 1,2 L , xe nhỏ 1,2-1,8 L , xe vừa 1,8-3,5 L . Hoặc chia: xe tư , xe công, xe công vụ. Vì xe con là loại sang trọng, đắt tiền , thiết kế nhỏ gọn, đẹp mắt và rất thuận tiện cho hộ gia đìng sử dụng nên gọi là xe du lịch. Chúng chủ yếu dùng để chở người với số ghế từ 2 chỗ đến 7 chỗ. 1.1.2 CẤU TẠO CHUNG CỦA Ô TÔ Theo quan điểm động học có thể chia ô tô thành các phần sau: SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 4 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp + Động cơ (ĐC): Nguồn năng lượng cơ học, phần lớn sử dụng động cơ đốt trong, động cơ điện kèm theo nguồn điện, ít dùng động cơ hơi nước. Ngày nay một số ô tô còn sử dụng năng lượng mặt trời và gas . + Thân vỏ(TV): là phân công tác hửu ích của ô tô, dùng chở khách và hàng hoá. Đối với xe tải là buồng lái và thùng xe, đối với xe khách và xe con là chỗ của người lái và khách hàng. + Gầm Bệ (GB): Bao gồm: * hệ thống truyền lực: có các cơ cấu và tổng thành làm nhiệm vụ truyền momen xoắn từ động cơ đến bánh xe chủ động, thay đổi giá trị và chiều xoay của mô men xoắn tuỳ theo trạng thái chuyển động của ô tô. Hệ thống truyền lực bao gồm: li hợp, hộp số, hộp phân phối, truyền lực các đăng, truyền lực chính, vi sai, nửa trục. * Bộ phận vận hành: là nơi lắp đặt tất cả các tổng thành của ô tô và đưa xe chuyển động trên đường, gồm: khung xe, dầm cầu, hệ thống đàn hồi (còn gọi là hệ thống treo). * Các hệ thống điều khiển phương hướng chuyển động của ô tô, điều khiển sự dừng khẩn cấp hoặc làm chậm dần tốc độ: Hệ thống lái, Hệ thống phanh. Hình 1.1.2 Sơ đồ cấu tạo ô tô 1- động cơ; 2- Bánh trước; 3lò xo (nhíp); 4- li hợp; 5- hộp số; 6- trục truyền động trung tâm; 7- truyền động các đăng; 8- bánh xe chủ động sau; 9cầu sau; 10- bộ vi sai; 11khung gầm xe; 12- thùng xe; 13- buồng lái; 14- tay lái; 15vỏ xe. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 5 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp 1.1.3 NHỮNG YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI Ô TÔ 1.1.3.1 YÊU CẦU VỀ THIẾT KẾ CHẾ TẠO - Xe phải mang tính hiện đại, kích thước nhỏ gọn, bố trí hợp lý, phù hợp với điều kiện đường, khí hậu. - Vỏ xe phải đẹp, phù hợp với thẩm mỷ công nghiệp. - Vật liệu chế tạo các chi tiết phải có độ bền cao, độ chống mòn chống ghỉ cao nhằm nâng cao tính tin cậy và tuổi thọ của xe. Nên tăng vật liệu nhẹ để giảm tự trọng của xe. - kết cấu các chi tiết phải có tính công nghệ cao, số nguyên công chế tạo ít. 1.1.3.2 YÊU CẦU VỀ SỬA DỤNG - Xe phải có tính năng động lực cao (tốc độ quay trung bình cao nhằm quay vòng xe nhanh,nâng cao năng suất vận chuyển) , thời gian gia tốc và quảng đường gia tốc ngắn, dễ khởi động. - Xe phải có tính an toàn cao, đặc biệt đối với hệ thống phanh và hệ thống lái. - Xe phải đảm bảo tính tiện nghi cho lái xe và hành khách, thao tác nhẹ nhàng dể dàng, đảm bảo tầm nhìn tốt. - Mức tiêu hao nhiên liệu, dầu mở bôi trơn, xăm lốp và các vật liệu chạy xe ít. - Kích thước thùng xe phù hợp với tải trọng để nâng cao hệ số sử dụng tải trọng. - Kích thước và hình dạng xe phải đảm bảo cho công tác xếp dở hàng hoá được thuận tiện hơn và nhanh chóng. - Xe chạy phải êm, không ồn, giảm lượng độc hại khí thải. 1.1.3.3 NHỮNG YÊU CẦU VỀ BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA Do giờ công bảo dưỡng và sửa chữa xe rất lớn so với chế tạo ( với cả đời xe thời gian bảo dưỡng sửa chữa gấp từ 30-50 lần so với thời gian chế tạo), nên mọi chi phí cho đời xe từ khi chế tạo cho đến khi thanh lý 100% thì các phần chi phí được phân bổ như sau: - chi phí thiết kế chế tạo: 1,4 - Bảo dưỡng ô tô: - Sửa chữa thường xuyên: 46,0 SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu 45,4 Trang 6 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp - GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp sửa chữa lớn: 7,2 Muốn giảm khối lượng , công việc sửa chữa bảo dưỡng , kéo dài chu kỳ bảo dưỡng, ô tô phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Số lượng các điểm bôi trơn phải ít để giảm giờ công bôi dầu mở, thay thế các điểm bôi trơn vú mỡ bằng các điểm bôi trơn vĩnh cửu, vú mở bố trí thẳng hàng, cùng phía để thuận tiện khi bảo dưỡng. - Giảm giờ công kiểm tra, siết chặt bằng cách sử dụng các bu lông ốc vít có tính tự hảm cao (Spring washer, walve washer, thoother washer, castle mits, lock mits…) , dùng theo tiêu chuẩn và ít chủng loại để đở thay đổi dụng cụ đồ nghề. - Giảm giờ công điều chỉnh bằng cách thay đổi các khâu điều chỉnh bằng tay bằng điều chỉnh tự động hoặc dễ điều chỉnh. - Kết cấu khung xe phải đảm bảo cho việc tháo lắp dễ dàng, thuận tiện sửa chữa và thay thế phụ tùng. - Kết cấu và vật liệu của các chi tiết có độ hao mòn lớn phải đủ bền sau khi phục hồi sửa chữa, các mặt chuẩn ( chuẩn công nghệ, chuẩn định vị) của chi tiết phải được bảo toàn, tạo điều kiện cho gia công cơ khí sửa chữa đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật. 1.1.4 BỐ TRÍ CHUNG TRÊN Ô TÔ Bố trí chung trên ô tô bao gồm việc bố trí động cơ và các tổng thành. Việc bố trí này phải thoả mản các yêu cầu sau: - Hệ số sử dụng chiều dài λ phải lớn. λ = l/L Ở đây: l - chiều dài buồng chứa, thùng chứa(m). L - chiều dài toàn bộ ô tô (m). - Chỗ ngồi của người lái phải đảm bảo an toàn, dễ thao tác và vệ sinh công nghiệp. Có chỗ để chăm sóc bảo dưỡng các tổng thành. sự phân bố tải trọng lên các cầu phải hợp lý, hài hoà các yêu cầu về kéo, bám, thắng, chuyển hướng, ổn định và êm dịu. Bố trí chung động cơ trên xe con: SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 7 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp 1.2 CÁC LOẠI Ô TÔ DU LỊCH DƯỚI 7 CHỔ HIỆN CÓ Ở NƯỚC TA Ô tô du lịch dưới 7 chỗ gồm có các kiểu là loại 5,4 chỗ và 2 chỗ. Loại 4 chỗ rất thông dụng còn loại 2 chỗ là xe thể thao hiện chưa có bán trên thị trường việt nam mà chỉ nhập khẩu nguyên chiếc nên số lượng rất han chế. Các loại xe bốn chỗ phổ biến ở Việt Nam chủ yếu thuộc các hãng xe như Toyota, Ford, Deawoo, Fiat, Mercedes-Benz, Honda, BMW, và một số xe nhập khẩu khác.. Hiện nay, nước ta đã cho phép nhập khẩu xe ô tô củ trong đó ô tô du lịch đang được người dân trông chờ vì có giá rẻ hơn. Tuy nhiên, các loại xe hơi củ này đều có đời từ năm 2000 về sau, nghĩa là đều thuộc thế hệ xe hiện đại. Theo các dòng xe của các hãng ô tô đang kinh doanh tại Việt Nam, ta có các loại xe ô tô du lịch dưới 7 chỗ như sau: - Hãng TOYOTA với các kiểu xe: Toyota Camry, Toyota Corolla Altis, Toyota Vios. - Hãng Ford với các kiểu xe: Ford Laser, Ford Mondeo, Ford Focus. - Hãng Deawoo với các kiểu xe: Matiz, Lacetti, Lanos, Magnus, Nubira. - Hãng Mercedes-Benz với các kiểu xe: C180K classic, C180K Elegance, C180K Sport, C240 Advangarde, C280 Advangarde, E200K Elegance,, E280 Elegance. - Hãng MEKONG với một số kiểu xe: Fiat siena, Fiat Albea. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 8 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Trên đây là các hãng xe nổi tiếng và chiếm số lượng xe ô tô du lịch dưới 7 chỗ chủ yếu ở nước ta. Các dòng xe của những hãng này đều thuộc dòng xe hiện đai, thời gian hoạt động tại việt nam không quá 10 năm nên hiện còn mới, ít hư hỏng nặng. Ngoài các kiểu xe ô tô du lịch dưới 7 chỗ kể trên, có một số rất ít xe con khác đang hoạt động. Các loại xe này có thời gian sử dụng lâu hơn , thậm chí có xe được mang vào từ thời pháp. mặc dù chúng là xe 4 chỗ nhưng do quá củ nên không còn được gọi là xe du lịch. Một số xe mới hơn nhưng thời gian sử dụng cũng đã trên 10 năm, đây là những chiếc xe nếu sửa chữa cho mới lại cần phải sửa chữa lớn. Số xe củ này cũng chỉ có một số lượng nhỏ và phhân bố rải rác khắp các tỉnh thành. 1.3 CÁC TRANG THIẾT BỊ TRONG XE Ô TÔ DU LỊCH DƯỚI 7 CHỔ 1.3.1 CÁC BỘ PHẬN VÀ THIẾT BỊ CƠ BẢN Ô tô du lịch chủ yếu dùng động cơ xăng làm nguồn động lực để xe hoạt động. Cũng giống hầu hết các loại ô tô khác, các bộ phận cơ bản của ô tô du lịch chỉ nhỏ gọn và nhẹ hơn thôi. Các bộ phận cơ bản cửa ô tô du lịch gồm: - Máy và các hệ thống máy. - Hệ thống truyền lực: ly hợp, hộp số, hộp phân phối(đối với xe 2 cầu), truyền lực các đăng, truyền lực chính, vi sai, nửa trục. - Hệ thống lái, hệ thống phanh. - Hệ thống điện, đèn, còi. - Khung xe, gầm xe, cửa xe.. 1.3.2 CÁC BỘ PHẬN VÀ THIIẾT BỊ HIỆN ĐẠI Các ô tô du lịch ngày nay, không chỉ là những chiếc xe biết chạy mà còn là 1 công cụ đầy tiện nghi tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho người đi trên xe. + Các trang bị thông thường của một chiếc xe hiện đại gồm có: hệ thống điều hoà nhiệt độ, hệ thống lái trợ lực, hệ thống phanh điện tử, hệ thống phun xăng điện tử, dàn âm thanh, các túi khí an toàn, các tủ đá đựng thực phẩm..v.v. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 9 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp + Ở một số xe hiện đại, ngoài các trang thiết bị kể trên, chúng còn được gắn thêm nhiều thiết bị điện tử như hệ thống định vị toàn cầu, các hệ thống phòng tránh tai nạn, khoá xe tự động khi người lái xe có nồng độ rượu cao..v.v. Những thiết bị hiện đại này không những được các nhà chế tạo lắp trên xe mà người chơi xe có thể tự mua về trang trí cho xe mình. Việc có nhiều thiết bị hiện đại, điều khiển điện tử trên xe làm cho xe có khả năng hoạt động tốt hơn, các hư hỏng cũng ít xảy ra. Khi có hư hỏng thì cũng chỉ có những hư hỏng nhỏ thuộc phần bảo dưỡng xe. 1.4 CÁC HƯ HỎNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC Để dể dàng cho việc xác địng các loại hư hỏng và cách khắc phục sửa chữa, cũng như cách sắp xếp bố trí công nhân, thông thường người ta phân loại ô tô gồm có các bộ phận sau: - Đồng sơn ( Body and paint): gồm các bộ phận như vỏ thân xe, khung xe, cửa xe. - Máy ( engine): động cơ , các hệ thống phục vụ động cơ và các cơ cấu và bộ phân chính của động cơ. · Các hệ thống phục vụ động cơ gồm: hệ thống nhiên liệu, hệ thống khởi động,hệ thống đánh lửa, hệ thống bôi trơn, hệ thống làm mát, hệ thống xã. · Các cơ cấu và bộ phận chính của động cơ: thân máy, nắp máy, xilanh, lót xilanh, cơ cấu piston- thanh truyền- trục khuỷu, cơ cấu phân phối khí. - Gầm bệ: bao gồm các hệ thống và bộ phận: · Hệ thống truyền lực: Li hợp, hộp số, hộp phân phối, truyền lực các đăng, truyền lực chính, vi sai, nửa trục. · Bộ phận vận hành: khung xe, dầm cầu, hệ thống đàn hồi( hệ thống treo), bánh xe. · Hệ thống điều khiển: hệ thống lái, hệ thống phanh. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 10 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp - GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Điện, đèn, còi: các hệ thống điện trong xe bao gồm điện lạnh, điện sưởi ấm, điện thông tin, đèn xe, còi xe. - Nội thất xe: các trang thiết bị phục vụ cho con người và trang trí như ghế nệm, dàn lạnh, dàn âm thanh, dàn video, ngăn đá. 1.4.1 CÁC HƯ HỎNG THUỘC VỀ MÁY. 1.4.1.1. NHỮNG HƯ HỎNG VÀ SỰ BIẾN XẤU TÌNH TRẠNG KỸ THUẬT CỦA ĐỘNG CƠ Ô TÔ Trong quá trình sử dụng ô tô, các bộ phận của ô tô nói chung và động cơ nói riêng dần dần bị thay đổi các đặc tính kỹ thuật. Quá trình thay đổi ấy có những nguyên nhân tác động trong thời gian dài như qua trình làm việc diễn biến theo quy luật tự nhiên (thí dụ như: quy luật hao mòn tự nhiên của cặp chi tiết tiếp xúc, quá trình lảo hoá, quá trình ôxi hoá làm gỉ các chi tiết máy…). Nhưng cũng có những nguyên nhân làm thay đổi đột ngột trạng thái kỹ thuật không tuân theo quy luật (thí dụ như: gãy xécmăng, đứt bulông thanh truyền, kẹt vở bánh răng…) gây nên những hư hỏng nặng. Quá trình thay đổi trạng thái kỹ thuật của động cơ trong điều kiện bình thường đều do nguyên nhân hao mòn các bề mặt làm việc và sự suy giảm độ bền do quá trình lý, hoá gây nên. Để đánh giá tình trạng kỹ thuật của động cơ người ta thường dùng các thông số chung như: công suất, mômen xoắn, số vòng quay của trục khuỷu, tiêu hao nhiên liệu… Ngoài những thông số chung để đánh giá tình trạng hư hỏng và biến xấu tình trạng kỹ thuật của động cơ người ta còn dùng các thông số riêng như: + Giảm độ kín buồng cháy. Sau một thời gian sử dụng độ kín của buồng cháy bị giảm có thể do các nguyên nhân sau: - Nắp máy và thân máy không kín khít, các đai ốc bị lỏng, nắp máy bị vênh, gioăng đệm bị hỏng… SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 11 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp - GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Suppáp mòn không đều, mặt làm việc bị rỗ có muội than bám vào hoặc mặt côn làm việc của suppáp và đế suppáp không kín khít, vì không có khe hở nhiệt… - Khe hở lắp ghép giửa piston-xécmăng-xilanh lớn, khe hở miệng xécmăng, khe hở cạnh xecmăng với rãnh piston tăng lên do bị mòn nhiều làm hơi lọt xuống cácte dầu. Độ kín của buồng cháy giảm làm áp suất cuối kỳ nén giảm , áp suất hửu ích giảm, làm giảm công suất của động cơ, giảm mômen xoắn của động cơ, giảm số vòng quay trục khuỷu, tăng tiêu hao nhiên liệu. + Giảm chất lượng nạp hổn hợp và thải khí xả. Cơ cấu phân phối khí được thiết kế để việc nạp hỗn hợp cháy (đối với động cơ xăng) hoặc không khí (đối với động cơ diesel) và thải khí xả tốt nhất ở mọi chế độ làm việc của động cơ. Trong qua trình sử dụng các chi tiết do bị mòn dẫn đến suppáp đóng không kín, hành trình nâng, thời gian đóng mở suppáp không đúng tiêu chuẩn… đó là những nguyên nhân làm giảm chất lượng nạp hỗn hợp (hoặc không khí) và thải khí xả. + Giảm khả năng làm mát. Khả năng làm mát động cơ giảm sẻ dẫn đến nóng máy, nước bị sôi, máy dễ bị khích nỗ làm các chi tiết của nhóm trục khuỷu thanh truyền-piston-xilanh, cơ cấu phân phối khí bị mòn nhiều, chi phí cho dầu nhờn nhiên liệu bị tăng lên. Nguyên nhân làm giảm khả năng làm mát có thể do: - Dây đai dẫn động bị chùng làm giảm năng suất bơm và quạt gió. - Đứt dây dai dẫn động hhệ thống làm mát, gãy cánh quạt, thủng, nứt, chảy két làm mát nước. - Cặn nước ngưng động trong hệ thống làm mát nhiều, dẫn đến giảm khả năng truyền nhiệt. - Nước trong két nước làm mát thiếu. + Tăng tổn hao cơ khí. Đánh giá bằng giảm hiệu suất cơ khí. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 12 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Nguyên nhân chủ yếu do bị mòn nên khe hở lắp ghép giửa các chi tiết tăng lên làm cho bôi trơn kém, hoặc do các phần tử lọc dầu bẩn, dầu bị bẩn, trong dầu có nhiều hạt mài.. làm ma sát giửa các cặp chi tiết chuyển động tăng, làm tăng lực cản, tăng tổn hao cơ khí. Những hư hỏng gặp rất nhiều trong sử dụng nhưng ta có thể quy về các dạng hư hỏng chính và cách phát hiện sơ bộ như sau: - Hư hỏng thuộc về hệ thống cung cấp nhiên liệu: máy đang làm việc bỗng nhiên mất ổn định, lịm dần, ga không bốc, có hiện tượng “hắt hơi”, có tiếng nổ lẹt đẹt trong chế hoà khí hoặc động cơ diesel có hiện tượng phụt khói đen. - Hư hỏng thuộc về hệ thống đánh lửa: thường máy yếu không phát huy hết công suất, có một vài bugi bỏ lửa, có một số trường hợp hư hỏng điện khác thường máy chết ngay. - Hư hỏng thuộc về cơ giới: những hư hỏng này có khi giống như hư hỏng thuộc về hệ thống nhiên kiệu và hệ thống đánh lửa, thường khó phát hiện, hư hỏng này làm máy yếu và kèm theo có tiếng gỏ kim loại. 1.4.1.2 HƯ HỎNG CỦA CÁC BỘ PHẬN VÀ CƠ CẤU CHÍNH + Thân máy: là nơi lắp đặt các bộ phận và cơ cấu , thường rất ít khi bị hư hỏng. Các hư hỏng nếu có thì thường rất nghiêm trọng như nứt, bể. Khắc phục bằng cách hàn lại sau đó đem gia công như mài, đánh bóng theo hình dáng ban đầu. + Nắp máy: là nơi lắp đặt cơ cấu phân phối khí, cùng với thân máy và xilanh, piston tạo thành buồng đốt. Các hư hỏng có thể là bị cong vênh do áp lực cháy cao, lực xiết các bulông không điều. Phần bệ đở đế xuppáp bị mòn, tróc, xước do va đập với xuppáp hoặc do tác động lý hoá của hổn hợp nhiên liệu. Khắc phục bằng cách ép cho phẳng, rà lại phần bệ đở đế xuppáp. + Xilanh và sơ mi xilanh: bị mòn, xước do ma sát với xecmăng piston là chính. Sửa chữa bằng cách doa và đánh bóng lại. Nếu hết cốt sử dụng thì thay mới sơmi xi lanh. + Cơ cấu piston- thanh truyền-trục khuỷu: - Piston bị nứt, cháy do va đập và quá nhiệt. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 13 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp - GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Xéc măng mòn, cháy, gãy, rãnh xécmăng bị mòn do bôi trơn không tốt , do ăn mòn hoá học, do quá nhiệt. - Chốt piston mòn do ma sát và bôi trơn không tốt. - Thanh truyền bị cong, vênh, nứt, gãy do quá tải, chấn động. Bạc lót 2 đầu thanh truyền bị mòn do ma sát. - Trục khuỷu bị cong, nứt, gãy do chịu quá tải momen xoắn, bạc lót cổ trục khuỷu mòn do bôi trơn không tốt, do ma sát. + Cơ cấu phân phối khí: bao gồm các xuppáp hút và xã, cam, cò mổ, lò xo cò mổ, con đội, lọc gió…chúng thường bị mòn do ma sát khi làm việc. Đặc biệt với xuppáp thì còn bị biến dạng nhiệt và mòn do bị ăn mòn hoá học. Ngoài ra ở một số động cơ có trang bị thêm bộ phận tăng áp khí nạp hay bộ nạp turbo còn gặp các hư hỏng: - Đối với bộ nạp cao áp có 2 loại là bộ nạp cao áp Roots dùng các bánh răng và bộ nạp cao áp kiểu xoắn của công ty volkswagen dùng vòng xoắn. Các loại bộ nạp này đều dẫn động từ trục chính của đông cơ và khi làm việc có ma sát do đó hư hỏng chủ yếu của 2 loại bộ nạp này là mòn ở các chi tiết tiếp xúc , các thiết bị truyền động cho nó (nếu truyền động đai thì đai có thể giản, đứt, nếu truyền động xích thì xích bị mòn..), bị rò rỉ không khí do xiết không chặt hay do chỗ nối bị ăn mòn hoá học. - Đối với bộ nạp turbo được truyền động bằng khí xã của động cơ thường bị bó kẹt ở các trục quay, rò rỉ không khí, cánh bị mòn, gãy. 1.4.1.3 HƯ HỎNG Ở CÁC HỆ THỐNG PHỤC VỤ CHO ĐỘNG CƠ + Hệ thống nhiên liệu: Hệ thống cung cấp nhiên liệu dùng trên ô tô nói chung và động cơ xăng nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến tính động lực của động cơ, tiêu hao nhiên liệu, độ tin cậy, độ bền lâu…của động cơ. Hiện nay động cơ xăng thường sử dụng loại có chế hoà khí và loại phun xăng điện tử , bởi vậy khi nghiên cứu hệ thống cung cấp nhiên liệu có nhiều điểm chung nhưng cũng có nhiều điểm riêng khác nhau. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 14 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Trên thực tế, các loại ô tô dưới 7 chỗ hay còn gọi là xe con ( xe du lịch) sản xuất sau năm 1980 đều sử dụng hệ thống phun xăng điện tử EFI. Các bộ phận chính của hệ thống phun nhiên liệu điện tử bao gồm: bình nhiên liệu, bơm nhiên liệu chạy bằng điện, lọc nhiên liệu, đường ống nhiên liệu, bộ phun nhiên liệu, các cảm biến, bộ điều khiển ( ECM hoặc PCM). Các hư hỏng ở hệ thống phun xăng điện tử thường là hư hỏng ở bơm xăng chạy điện, bộ phun nhiên liệu bị nghẹt do nhiên liệu dơ hoặc muội than làm nghẹt đầu phun, lọc nhiên liệu nghẹt do cặn bẩn, các cảm biến bị hư, bộ điều khiển bị hư. Các bộ phận chính của hệ thống nhiên liệu kiểu chế hoà khí bao gồm: thùng xăng, lọc xăng, bơm xăng, các đường ống dẫn, bộ chế hoà khí, hệ thống điều khiển ga. Sự hư hỏng chủ yếu của hệ thống nhiên liệu dùng bộ chế hoà khí thì ngoài các hư hỏng ở thùng chứa, bơm xăng, lọc xăng thì bộ chế hoà khí thường bị hư do mòn các chi tiết, tắc nghẽn các đường ống, tắc gíclơ, hoặc bộ chế hoà khí điều chĩnh không chính xác các chế độ. + Hệ thống khởi động: Động cơ ô tô phải dựa vào lực bên ngoài để khởi động. Đối với xe du lịch chỉ dùng động cơ điện để khởi động. Các bộ phận cơ bản của hệ thống khởi động bao gồm ắcquy, nút khởi động, máy khởi động. Trong đó máy khởi động là một động cơ điện. Các hư hoảng thường xảy ra đối với hệ thống khởi động gồm những hư hỏng thuộc về ắcquy và máy khởi động. Ắc quy có thể bị thiếu điện áp, hết nước bình, bị cháy, lủng các bản cực… Các đường dây điện và các mối nối có thể bị đứt, gỉ, rò rỉ điện. Máy khởi động làm việc lâu ngày có thể các chi tiết bị mòn, rơ, chỗi than bị mòn,gây bó cứng không làm việc được. Đặc biệt nếu thời gian khởi động lâu, máy khởi động bị nóng có thể dẫn đến cháy các cuộn dây điện. + Hệ thống đánh lửa: Hệ thống đánh lửa có nhiệm vụ tạo tia lửa điện cao áp từ 12-14kv để đốt cháy hoà khí trong động cơ ô tô. Có hai loại hệ thống đánh lửa thông dụng là đánh lửa điện tử SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 15 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp và kiểu tiếp điểm. Trên ô tô du lịch hiện nay chỉ dùng kiểu đánh lửa điện tử (từ năm 1975). Trong quá trình làm việc của động cơ xăng nói chung và ô tô du lịch nói riêng, hư hỏng thuộc về hệ thống đánh lửa là phổ biên nhất, hay gặp trên đường nhất. Phần lớn các hư hỏng thuộc vào tình trang kỹ thuật của bôbin, đen cô, bugi, các đường dây cao áp. Tình trạng kỹ thuật của hệ thống đánh lửa có ảnh hưởng lớn đến tính kinh tế, tính động lực, độ tin cậy và tuổi bền của xe. Đối với hệ thống đánh lửa điện tử, ngoài các cảm biến điện tử và hệ thống điều khiển điện tử ECM, còn có các bộ phận cơ khí như bộ phân phối hay bu gi. Các hư hỏng thường gặp nhất là ở bugi, chúng thường bị bám muội than, mòn khe hở điện cực. Các tiếp điểm trong bộ phân phối bị mòn, các cảm biến và IC đánh lửa bị hỏng. + Hệ thống bôi trơn: Hệ thống bôi trơn cung cấp dầu bôi trơn cho tất cả các bộ phận chuyển động trong đông cơ, làm giảm ma sát, tăng độ bền của chi tiết và tuổi thọ của máy. Hệ thống bôi trơn trong ô tô là loại bôi trơn cưỡng bức, với các bộ phận chủ yếu là bơm dầu, lọc dầu thô và tinh, két chứa dầu, lấy dầu. Ngoài ra còn có một số thiết bị an toàn và hiển thị điện tử như van điều áp, bộ cảm biến mức dầu thấp, bộ chỉ báo thay dầu,đèn áp suất dầu, đồng hồ áp suất dầu. Các hư hỏng thường gặp ở hệ thống bôi trơn như: - Dầu rò rỉ ra ngoài các te do các đệm kín bị hư, lực xiết bulông không đều. - Bơm dầu bị hư. Thông thường trên động cơ ô tô sử dụng bơm dầu bánh răng và bơm rôto, các hư hỏng có thể là do mòn nên tăng khoảng cách giửa các bề mặt làm giảm áp suất dầu. Bơm dầu được dẫn động từ trục khuỷu động cơ bằng dây đai hoặc bánh răng. Dây đai có thể bị chùng, đứt, các bánh răng có thể bị mòn làm giảm áp suất dầu. - Lọc dầu bị nhiểm bẩn, bị tắc. - Dầu bị nhiểm bẩn do lọt khí từ xylanh xuống. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 16 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp - Các thiết bị cảm biến, chỉ thị điện tử, van an toàn bị hư hay đưa sai thông số. + Hệ thống làm mát (nguội): Hệ thống làm mát trong động cơ ô tô phổ biển là loại làm mát bằng nước tuần hoàn cưỡng bức kín có quạt gió làm mát. Hệ thống làm mát duy trì động cơ ở nhiệt độ làm việc hiệu quả nhất, với mọi tốc độ và điều kiện vận hành. Hệ thống làm nguội còn giúp đưa động cơ nhanh chóng đạt đến trạng thái làm việc bình thường. Ngoài ra, hệ thống làm nguội còn cung cấp nhiệt cho thiết bị sưởi ấm khoang hành khách. Hệ thống làm mát trên động cơ ô tô du lịch thông thường có các bộ phận: két nước ngọt, nắp áp suất trên két nước ngọt,bình giản nở, bơm nước, bộ giải nhiệt tấm lưới, quạt làm mát, van hằng nhiệt, các đường ống và rãnh làm mát. Ngoài ra còn một số thiết bị chỉ báo như đèn chỉ báo nhiệt độ chất làm nguôi, đồng hồ báo nhiệt độ nước làm mát, bộ chỉ báo mực chất làm mát. Các hư hỏng thường gặp ở hệ thống làm mát là nắp cao áp (nắp két nước làm mát) không kín làm rò nước, van hằng nhiệt hỏng, cặn bẩn bám vào các vách làm mát, dây đai dẫn động quạt gió, bơm bị chùng, bơm nước hỏng, các thiết bị chỉ báo bị hỏng. + Hệ thống xã: Hệ thống xã thu thập khí xả, làm nguội, làm giảm tiếng ồn và làm sạch các khí xã từ động cơ. Hệ thốnh này đưa khí xã ra sau xe và xã ra khí quyển. Các bộ phận trong hệ thống xã bao gồm bộ góp khí xã, đường dẫn khí xã, bộ chuyển đổi xúc tác, bộ giảm âm, bộ cộng hưởng (trên 1 số xe) và ống xã. Để chống ăn mòn và tăng độ bền, nhiều hệ thống xã hiện nay được chế tạo bằng thép không rỉ. Các hư hỏng thường gặp là rò khí xã trên đường dẫn ống xã, hết chất xúc tác, hỏng bộ giảm âm, bộ cộng hưởng. Đường ống xã và ống xã bị ăn mòn, rỉ. 1.4.2 HƯ HỎNG THUỘC VỀ PHẦN ĐỒNG-SƠN (body and paint) SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 17 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp Chủ yếu là các hư hỏng về hình dáng thân xe, cửa xe như bị bóp méo, xước do va quẹt và tông xe, nứt bể kính xe. Những hư hỏng thuộc phần đồng sơn là những hư hỏng vào loại nhiều nhất và phổ biến nhất đối với các ô tô du lịch hiện nay. 1.4.3 CÁC HƯ HỎNG PHẦN GẦM BỆ 1.4.3.1 HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC v Ly hợp: Bộ ly hợp là một cơ cấu dùng để nối hoặc tách 2 trục có cùng một đường tâm. Bộ ly hợp được đặt giữa đường tâm và hộp số. Ly hợp đặt trên xe có thể là ly hợp ma sát, ly hợp thuỷ lực hoặc ly hợp điện từ nhưng thường dùng nhất là ly hợp ma sát. Bộ ly hợp có 4 nhiệm vụ cơ bản sau: - Nối êm dịu mối nối cơ khí giữa trục khuỷu động cơ và trục sơ cấp của hộp số khi xe bắt đầu lăn bánh và khi sang số. - Duy trì mối nối đó trong suốt thời gian xe chạy bình thường. - Tạm thời tách mối nối đó khi xe sang số. - Nhờ bộ ly hợp người lái có thể giảm tốc độ xe thậm chí cho xe dừng hẳn khi đông cơ vẩn hoạt động. Trên động cơ ô tô du lịch thường dùng loại ly hợp ma sát kiểu dây đai truyền động và ở một số xe hiện đại dùng ly hợp tự động điện từ. Kiểm tra chuẩn đoán và bảo dưỡng kỹ thuật ly hợp + Những hư hỏng thường gặp và nguyên nhân: - Đóng ly hợp hay bị giật: có thể do lái xe nhả nhanh bàn đạp ly hợp hoặc hành trình của bàn đạp không đảm bảo, vòng bi tê (bạc mở) không ép đều lên các đầu đòn mở, đĩa ép bị mòn, lò xo triệt tiêu giao động xoắn hỏng, động cơ bắt không chặt với khung xe… - Ly hợp trượt hoặc mở không hết mức: có thể do hành trình tự do lớn mà tổng hành trình của ly hợp nhỏ hoặc do chân lái xe luôn đặt trên bàn đạp ly hợp, hoặc không có hành trình tự do, hoặc lò xo ép yếu, gãy, bề mặt đĩa ma sát mòn, dính dầu mở… SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 18 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp + Kiểm tra, bảo dưỡng kỹ thuât: - Kiểm tra hành trình tự do của bàn đạp ly hợp. - Điều chĩnh hành trình tự do của bàn đạp ly hợp. - Thường xuyên tra dầu mở vào các khớp dẫn động hoặc bổ sung dầu vào bình chứa dầu (của các loại dẫn động thuỷ lực). Sửa chữa ly hợp: + Hư hỏng của ly hợp: ly hợp hay côn thường có những hư hỏng như trượt, bó và làm việc không êm. Trượt côn do các nguyên nhân: - Đĩa ma sát (pheradô), đĩa ép bị mài mòn mỏng làm giảm lực ép lò xo. - Điều chỉnh không đúng, không có hành trình tự do hay quá nhỏ. - Lò xo ly hợp bị mòn yếu, do đệm cách nhiệt bị hư hỏng làm cho lo xo quá nóng khi làm việc. - Đĩa ma sát dính dầu mở làm giảm ma sát khi làm việc. Bó côn là do các nguyên nhân: - Hành trình tự do của côn quá lớn. - Đĩa ma sát hay đĩa ép bị vênh hoặc chiều cao cần đẩy không đều. - Lực ép lò xo không đều. Nguyên nhân côn làm việc không êm: - Trục côn hay ly hợp và trục khuỷu động cơ không đồng tâm. - Đĩa ma sát hoặc đĩa ép bị vênh và chịu lực không đều. + Sửa chữa ly hợp: Khi ly hợp bị trượt và bó phải kiểm tra bàng mắt thường hoặc dùng dụng cụ đo để xác địng hư hỏng. Sửa chữa đĩa bị động: Đĩa bị động là một đĩa thép có gắn tấm ma sát (pherađô) ở bên ngoài bằng đinh tán. Khi bị mài mòn, tấm ma sát bị mỏng đi, đầu đinh tán nhô lên. SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 19 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG Đồ án tốt nghiệp GVHD: GVC Nguyễn Quốc Hiệp - Hư hỏng nhẹ: khi hư hỏng nhẹ, đĩa pherađô mòn ít, đầu đinh tán còn chìm sâu 0,5mm, ta tiếp tục sử dụng. Nếu đinh tán không chặt, ta phải tán lại bằng đinh tán mới. Trường hợp đĩa pheraddoo có dính dầu mở phải rửa sạch bằng xăng. Còn đĩa pherađô bị cháy ít, ta dùng giấy ráp đánh sạch. - Hư hỏng nặng: Khi hư hỏng nặng, đĩa pherađô mòn nhiều, đầu đinh tán nhô lên ta phải tháo ra và thay mới. Sửa chữa đĩa chủ động: - Hư hỏng nhẹ: Hư hỏng nhẹ hay bị vết xước nhỏ có thể dùng giấy ráp đánh bóng lại. - Hư hỏng nặng: hư hỏng nặng hay bị vết xước lớn, có chiều sâu quá 0,2-0,5mm, có thể láng trên máy tiện và đánh bóng bằng giấy ráp lại. v Hộp số: Hộp số là một cụm chi tiết cơ khí gồm các bánh răng đặt giữa 2 trục chủ động và thụ động có nhiệm vụ thay đổi tốc độ và có thể thay đổi cả chiều quay của trục thụ động khi tốc độ và chiều quay của trục chủ động vẫn không đổi. Nhiệm vụ của hộp số: gồm 3 nhiệm vụ sau - Thay đổi tỷ số truyền khi các lực cản của xe thay đổi. - Làm cho xe chạy chạy tiến và lùi bằng cách thay đổi chiều quay của trục thụ động. - Tách mối liên hệ truyền lực giửa bánh xe chủ động và động cơ trong một thời gian dài. Phân loại: Theo phương pháp thay đổi tỷ số truyền người ta chia thành hộp số có cấp và hộp số vô cấp. Trên ô tô du lịch chỉ dùng loại hộp số có cấp với 2 kiểu sang số tự động và sang số bằng tay. Hư hỏng và sửa chữa hộp số: + Hư hỏng của hộp số: SVTH: Nguyễn Trọng Hiếu Trang 20 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Lớp 43DLTT-SG
- Xem thêm -