Tình người trong thơ nôm nguyễn khuyến

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 43 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN ‫ﻫﻫ‬ PHAN THỊ HỒNG DI MSSV: 6095766 TÌNH NGƯỜI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS. TẠ ĐỨC TÚ Cần thơ, 05 - 2013 1 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nguyên cứu PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: ĐÔI NÉT VỀ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT TRONG DÒNG VĂN CHƯƠNG TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Mốc xuất hiện của thơ Nôm Đường luật trong nền văn chương trung đại Việt Nam 1.1.1 Điều kiện thơ Nôm Đường luật ra đời 1.1.1.1 Điều kiện văn học 1.1.1.2 Điều kiện ngoài văn học 1.2 Thơ Nôm Đường luật 1.2.1 Khái niệm thơ Nôm Đường luật 1.2.2 Sự đóng góp về thơ Nôm Đường luật của các nhà thơ CHƯƠNG II: NGUYỄN KHUYẾN VÀ TẬP THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN 2.1 Tiểu sử Nguyễn Khuyến 2.1.1 Thời đại 2.1.2 Đôi nét về tiểu sử 2.1.3 Sự nghiệp sáng tác 2.2 Về tập thơ chữ Nôm của Nguyễn Khuyến 2.2.1 Nội dung thơ chữ Nôm Nguyễn Khuyến 2.2.1.1 Nỗi lòng của tác gia Nguyễn Khuyến 2 2.2.1.2 Nhà thơ của làng quê 2.2.1.3 Thái độ phê phán, phản kháng đối với xã hội nửa thực dân phong kiến 2.2.2 Thơ Nôm trong văn học trung đại và trong sáng tác của Nguyễn Khuyến CHƯƠNG III: TÌNH NGƯỜI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN 3.1 Tình người được hiểu như thế nào? 3.2 Một tâm hồn giàu cảm xúc yêu thương 3.3 Những biểu hiện của tình người trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến 3.3.1 Nỗi đau trước sự thống khổ của nhân dân 3.3.2 Tình cảm đối với gia đình, bạn bè và xóm giềng sâu nặng 3.3.3 Vị trí của biểu hiện tình người trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến KẾT LUẬN TÀI LIỆU KHAM KHẢO MỤC LỤC 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Quay ngược thời gian về thời đầu công nguyên cho đến một ngàn năm Bắc thuộc sau đó, người Việt chúng ta đã có những cơ hội tiếp xúc với người Hán, văn hóa Hán và cả với chữ Hán. Mọi người đã dần đưa chữ Hán vào hành chính và giáo dục, và đều đặc biệt là trong sáng tác văn chương. Đó là những yếu tố để hình thành nên chữ Hán. Song song với sự phát triển của nền văn học này người Việt chúng ta đã sáng tạo ra chữ viết cho dân tộc mình. Đó là hệ thống chữ viết ô vuông theo hình mẫu chữ Hán, được gọi là chữ Nôm. Với sự phát triển của chữ Nôm đã hình thành một nền văn chương chữ Nôm và không tách rời nền văn chương chữ Hán. Trong lĩnh vực sáng tạo văn chương chữ Nôm gắn liền với ngôn ngữ của dân tộc đã sáng tác nên những tác phẩm có giá trị, chiếm vị trí cao trong nền văn học trung đại Việt Nam. Không phải chỉ có chữ Hán mới làm nên tên tuổi của những tác gia thời bấy giờ mà chữ Nôm cũng không kém với nhiều nhà thơ lớn của dân tộc như Đại thi hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm và không thể không nhắc đến tác gia Nguyễn Khuyến. Là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, một tài năng kiệt xuất và có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học của dân tộc, những đóng góp đó rất có ý nghĩa và rất đáng được trân trọng. Sau khi về ẩn cư ở Yên Đỗ ông không bị mọi người quên lãng mà được đón nhận rất nhiệt tình, thơ văn của ông nhất là thơ Nôm, đã được mọi người đua nhau ghi chép rất cẩn thận. Làm nên giá trị thơ văn của ông là toàn bộ sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, trữ tình cũng như tráo phúng. Để làm nên phong cách và hồn thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến ta phải kể đến mảng thơ chữ Nôm. Sánh ngang tầm với thơ Nôm Nguyễn Khuyến như Đại thi hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan. Có thể nói, thơ Nôm đã trải dài trong sự nghiệp sáng tác của ông, đó là những sáng tác bất hủ làm nên cái đặc sắc riêng trong phong cách thơ Nguyễn Khuyến bao gồm những bài thơ trữ tình lẫn trào phúng, là những bài thơ bộc lộ được tấm lòng, tâm tư tình cảm, những nỗi niềm trăn trở, những yêu thương đối với con người, và thái độ của ông trước thời cuộc cũng như thể hiện được phong cách của mình. Đi vào tìm hiểu đề tài Tình người trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến sẽ giúp chúng ta có những cảm nhận sâu 4 sắc về những vần thơ đặc sắc mà ông đã đặt tâm huyết của mình vào đó. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài này. 2. Lịch sử vấn đề Khi nhắc đến thơ Nôm không ai có thể quên tác gia Nguyễn Khuyến cây đại thụ của nền văn học nước nhà, cuộc đời cũng như sự nghiệp thơ văn của ông từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu. Thơ văn Nguyễn Khuyến được đăng tải đầu tiên là trên tạp chí Nam Phong, đăng trong mục thơ ca Yên Đổ phải đợi đến gần hai chục năm sau thì công trình văn học sử trên đường hành trình mới tìm đến Nguyễn Khuyến. Với công trình Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (Nhà học chính Đông Pháp xuất bản, Hà Nội, 1943). Trên tiến trình nguyên cứu tác gia tài hoa này, có thể thấy tiến trình ấy có nhiều giai đoạn với sự ảnh hưởng khác nhau. Giai đoạn đầu là trước 1945. Ở giai đoạn này, Nguyễn Khuyến còn ít được biết đến và nếu có được biết đến thì chủ yếu qua phần thơ Nôm của ông. Người có ý kiến sớm nhất về Nguyễn Khuyến có lẽ là Phan Kế Bính, trong công trình Việt – Hán văn khảo (1930) khi luận về phép làm thơ. Giai đoạn thứ hai từ năm 1945 đến năm 1970. Trong giai đoạn này việc giới thiệu và tìm hiểu nguyên cứu về Nguyễn Khuyến đã có bước phát triển mới. Giai đoạn trước ông được mọi người biết đến với tư cách là một nhà thơ trào phúng xuất sắc thì đến giai đoạn này tài năng không bị mai một mà vẫn tiếp tục được khẳng định trên văn đàn với nhiều chức danh khác nhau: nhà thơ trữ tình – yêu nước, nhà thơ thiên nhiên, thi sĩ của mùa thu,.. được phát hiện và tìm hiểu trên nhiều khía cạnh. Tìm hiểu những phương diện ấy trong tư tưởng, tài năng của Nguyễn Khuyến, các nhà nguyên cứu, phê bình cũng đã ít nhiều biết đến nội dung và bút pháp nghệ thuật của nhà thơ. Công trình nguyên cứu về Nguyễn Khuyến chặng đường này là của Văn Tân với tên gọi Nguyễn Khuyến – nhà thơ Việt Nam kiệt xuất gồm 204 trang. Phần lớn là nói về nghệ thuật thơ của Nguyễn Khuyến. Giai đoạn thứ ba từ năm 1971 đến 1984. Bắt đầu từ năm 1971, NXB Văn học Hà Nội cho in cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến dày đến 500 trang do Xuân Diệu giới thiệu. Kể từ đây việc nhìn nhận, đánh giá Nguyễn Khuyến đã mở ra một giai đoạn mới. Vào năm 1984, Nguyễn Khuyến – tác phẩm, công trình sưu tầm biên dịch, giới thiệu về Nguyễn Khuyến khá đầy đủ nhất ra đời do Nguyễn Văn Huyền thực hiện 5 (NXB Khoa học xã hội Hà nội, 1984) có thể coi đây là viên gạch đầu tiên để xây đắp lên công trình và đây cũng là thử thách cho chúng ta theo dấu bước chân quay về lịch sử tìm hiểu về tác gia Nguyễn Khuyến. Giai đoạn tiếp theo từ năm 1985 đến nay. Đây là giai đoạn gặt hái được nhiều thành công khi tìm hiểu về tác gia Nguyễn Khuyến, đầu tiên được đánh dấu bằng Hội nghị khoa học lớn kỷ niệm 150 năm ngày sinh nhà thơ (do Viện văn học phối hợp với sở Văn hóa Thông tin Hà Nội và Hội văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh tổ chức 15 – 2 – 1985). Qua tổ chức lần này chúng ta đưa ra nhiều phát hiện và ý kiến mới có giá trị trong khảo cứu khi nhận định về Nguyễn Khuyến từ con người trong lịch sử đến con người được công bố, sau này được lựa chọn và tập hợp trong quyển thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994). Có thể nói đây là công trình chuyên khảo quy mô nhất về Nguyễn Khuyến. Gần đây, cuối năm 1998, cuốn sách Nguyễn Khuyến, về tác gia tác phẩm do Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, đã tập hợp một cách rộng rãi những bài viết và công trình khoa học tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Khuyến từ xưa đến nay. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu, khảo sát một số công trình nguyên cứu khác về con người cũng như thơ văn của Nguyễn Khuyến. Đặc biệt tìm hiểu về nội dung thơ hay cái hay trong nghệ thuật để làm nên phong cách thơ của ông. Trong đó, đã có nhiều công trình nguyên cứu về nội dung thơ văn của Nguyễn Khuyến, nhưng theo khảo sát của chúng tôi thì chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu Tình người trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến. Vì vậy, đến với đề tài này, chúng tôi không đi sâu tìm tòi những vấn đề mà thế hệ trước đã nói. Ở đây đứng trên phương diện là công chúng tiếp nhận, chúng tôi hi vọng sẽ góp một phần công sức của mình về việc khám phá mới về tình người đã được ông thể hiển hiện như thế nào qua thơ văn của mình nhằm làm phong phú hơn những hiểu biết về tác gia Nguyễn Khuyến. 3. Mục đích nghiên cứu Chúng ta đều biết trong làng thơ văn học Việt Nam, Nguyễn Khuyến như một ngôi sao đang tỏa sáng trên bầu trời thơ văn trung đại. Ông đã để lại cho người đời sau những sáng tác đồ sộ, phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng. Những công trình ấy, làm cho các nhà nguyên cứu tốn không biết bao nhiêu công sức và giấy mực. Nhưng dường như chưa đủ để nói hết những gì ông đã cống hiến cho đời qua những sáng tác 6 của mình. Đến với đề tài Tình người trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, chúng tôi biết sức mình có hạn và không có tham vọng sẽ vượt qua các công trình nguyên cứu trước mà chúng tôi chỉ hi vọng đóng góp một phần nhỏ sức mình để tìm ra những cái hay cái độc đáo mới vào các công trình nguyên cứu trước, nhằm làm nổi bậc phần nào về tác gia Nguyễn Khuyến. Và cũng như đề tài đã hạn định rõ Tình người trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nên trọng tâm chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu về vấn đề tình người đã được nhà thơ thể hiện như thế nào qua vần thơ Nôm của tác giả để góp phần hiểu thêm về nội dung thơ Nôm của ông. Bên cạnh đó, chúng tôi có những phần khác nhằm giúp ích cho việc tìm hiểu nội dung thơ Nôm của ông. 4. Phạm vi nghiêm cứu Nguyễn Khuyến được đánh giá là một tác gia lớn trên vườn hoa văn học trung đại. Là một nhà thơ lớn, ông viết khá nhiều ở hai mảng thơ chữ Nôm và thơ chữ Hán nhưng ở đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu và khảo sát về thơ Nôm của Nguyễn Khuyến thể hiện những cung bậc tình cảm yêu thương con người, sống nghĩa tình và chan hòa với thiên nhiên. 5. Phương pháp nguyên cứu Qua quá trình tập hợp tư liệu từ các bài viết, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến cùng với việc sắp xếp trình bày có hệ thống những nhận xét, những ý kiến đánh giá có liên quan đến đề tài “Tình người trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến”, trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp tiếp cận sau: Phương pháp diễn dịch: Là phương pháp đưa ra những ý kiến nhận định rồi sau đó dùng dẫn chứng, lập luận riêng của mình để chứng minh cho vấn đề đã đề cập đến nhằm làm rõ nội dung vấn đề. Phương pháp phân tích: Là quá trình chia tách những sự kiện, vấn đề thành các yếu tố, bộ phận nhỏ hơn nhằm khai thác hết những nội dung mà đề tài đưa ra. Phương pháp tổng hợp: Là gắn kết lại tổng thể các yếu tố, bộ phận thành một vấn đề mang tính chất tổng thể nhằm có cái nhìn toàn diện hơn. Phương pháp so sánh: Là đi vào so sánh ở một số khía cạnh nào đó có liên quan đến vấn đề cần chứng minh. 7 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I ĐÔI NÉT VỀ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT TRONG DÒNG VĂN CHƯƠNG TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Mốc xuất hiện của thơ Nôm Đường luật trong nền văn chương trung đại Việt Nam Trong dòng lịch sử văn học việt nam, thơ Nôm Đường luật có vị trí quan trọng bởi đóng góp của nó đối với văn học dân tộc. Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thể thơ này bởi thơ Nôm Đường luật là một thể thơ tuy có nguồn gốc ngoại lai nhưng lại có vị trí đáng kể trong nền văn học dân tộc, nó cùng phát triển song song với các thể thơ khác. Nghiên cứu thơ Nôm Đường luật như một thể loại văn học với các công trình chuyên sâu vẫn còn là công việc mới mẻ đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về thể thơ Nôm Đường luật này. Trong cuốn Thơ Nôm Đường luật Lã Nhã Thâm có tập hợp: “vấn đề nghiên cứu thơ Nôm Đường luật đã xuất hiện từ rất sớm”. Quốc văn tùng ký do Hải Châu Từ (Nguyên Văn San) biên soạn có đề cập đến thời điểm ra đời của thơ Nôm Đường luật: “Hàn luật khơi thủy từ nhà Trần đời vua Nhân Tông (1255) có ông Nguyễn Thuyên …” tác giả nhận định “ấy là văn chương của nước ta, non sông tinh tú về ra mặt biết bao nhân tài chứ không đâu được như vậy”. Và đến năm 1943, cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quang Hàm xuất bản, ông nhận định “Thơ Nôm làm theo phép tắc thơ Tàu mà âm thanh tiếng ta cũng tương tự tiếng Tàu (…) nên thi pháp của ta cũng tức là thi pháp của Tàu và niêm luật của Ta cũng phỏng theo thơ Tàu cả”. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của tác giả có những đóng góp đáng trân trọng. Đây là những tư liệu nghiên cứu quý đối với nhiều thế hệ. Theo cuốn Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn thì thơ Nôm Đường Luật ra đời có lẽ cuối thế kỷ XIII. Đại Việt sử kí toàn thư ghi lại: “Nhâm Ngọ (Thiên Bảo) năm thứ tư (1282). Mùa thu, tháng 8… bấy giờ cá sấu đến sông Lô. Vua sai Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) làm văn ném xuống sông… Hàn Thuyên là người giỏi làm thơ phú Quốc âm. Nước ta thơ phú dùng nhiều Quốc âm, thực bắt đầu từ đây”. Vì vậy có thể kết luận thơ Nôm hình thành từ thế kỷ XIII, thời Trần và 8 Hàn Thuyên là người mở đầu cho dòng thơ Nôm Đường luật nhưng những tác phẩm của ông bị thất lạc. Và văn học viết đầu tiên của thể thơ Nôm hiện nay vẫn còn giữ được là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Thơ Nôm Đường luật hình thành và phát triển kéo dài hơn bảy thế kỷ, bắt đầu từ Hàn Thuyên thế kỷ XIII và kết thúc ở đầu thế kỷ XX với cây đại thụ lớn là Nguyễn Khuyến. Thơ Nôm Đường luật đã để lại những thành tựu to lớn trong lịch sử văn hóa dân tộc. Cũng giống như nhiều thể loại văn học khác, thơ Nôm Đường luật cũng có giai đoạn hình thành, phát triển và kết thúc. Thơ Nôm Đường luật trải qua hai giai đoạn: giai đoạn từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất, nhờ có giai đoạn này mà thơ Nôm Đường luật khẳng định vị trí của mình trong lịch sử văn học dân tộc. Giai đoạn sau Hồ Xuân Hương là giai đoạn tiếp tục sự phát triển của thể thơ Nôm nhưng thành tựu không nổi bậc bằng giai đoạn đầu mặc dù cũng có những đóng góp rất đáng kể. 1.1.1 Điều kiện thơ Nôm Đường luật ra đời Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã có những đóng góp đáng trân trọng đó là tư liệu quý đối với nhiều thế hệ. Như chúng ta đã biết, thơ Nôm Đường luật ra đời là do kết quả của những điều kiện văn học và ngoài văn học. 1.1.1.1 Điều kiện văn học Có hai tiền đề tác dụng đến việc ra đời của thơ Nôm đó là ngôn ngữ và thể loại Ngôn ngữ: Tiếng Việt và tiếng Hán có sự tương đồng ở ba phương diện: không biến hình, đơn âm và tuyến tính, thêm vào đó là sự gần gũi về thanh điệu. Thơ Đường luật vốn có kết cấu chặt chẽ, có tính ổn định khá cao về thanh, vần, từ và câu. Chỉ cần có thể khác một trong bốn điểm trên sẽ không thể hình thành nên thơ Nôm Đường luật. Đối với thơ Đường luật, điều đáng lưu ý là sự thay đổi phần đuôi từ vì phần này tạo nên vần thơ, sự thay đổi về âm thanh, đặc biệt là phần đuôi từ tạo nên vần là phần không thể chấp nhận ở sáng tác thơ Đường luật, một thể thơ có tính cố định rất cao về vần. Ngoài ra, tiếng đa âm khó sáng tác thơ Đường luật vì thơ Đường luật là thơ có chữ số cố định, mỗi chữ đồng thời là một âm tiết trong câu. Đối với tiếng Việt và tiếng Hán, trật tự trước sau giữa là vô cùng quan trọng. Thơ Đường luật là thơ không thể chấp nhận bất kì sự lộn xộn nào dù là trật tự trong 9 câu. Bởi vì, không những làm đảo lộn hoặc phá vỡ nội dung thông báo mà còn không bảo đảm trật tự quy định rất chặt chẽ về niêm và luật, thay đổi trật tự từ, sẽ thay đổi luật bằng trắc nghiêm ngặc của thơ Đường luật. Đồng thời tiếng Việt có khả năng đáp ứng hoàn toàn luật bằng trắc của thơ Đường luật. Sự gần gũi về mặt thanh điệu là đặc điểm quan trọng thứ tự giữa tiếng Việt và tiếng Hán, và nó cũng rất quan trọng cho sự ra đời thơ Nôm Đường luật và sự gần gũi, tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Hán là điều kiện có ý nghĩa quyết định để có thể tiếp thu thơ Đường luật Trung Quốc chuyển hóa thành thơ Nôm Đường luật. Thể loại: Ta vốn biết thơ Đường luật là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của nền văn học Trung Quốc, là đỉnh cao của nền văn học nhân loại, từ góc độ thể loại thì thơ Đường luật là thể thơ hoàn thiện và độc đáo nên thơ Đường luật càng có khả năng “mở” trong giao tiếp văn học. Lựa chọn thơ Đường luật làm đối tượng tiếp nhận để sáng tạo nên thơ Nôm Đường luật – một trong những thành tựu được xem là xuất sắc nhất của nền văn học dân tộc. 1.1.1.2 Điều kiện ngoài văn học Những điều kiện ngoài văn học cũng có tác động mạnh mẽ đến xuất hiện thơ Nôm Đường luật. Trước hết là điều kiện lịch sử, sự giao lưu ảnh hưởng về tư tưởng văn hóa và tinh thần dân tộc. Vào thế kỷ X, lịch sử Việt Nam đã thực hiện một bước ngoặc hết sức quan trọng và ý nghĩa: Độc lập dân tộc và tự chủ đất nước. Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, mở ra thời kỳ phục hưng của Đại Việt và công cuộc đó được các triều kế tiếp Đinh, Tiền, Lê, Lý, Trần tiến hành. Trước thế kỷ X, trong hoàn cảnh đất nước bị giặc đô hộ, để khẳng định tính độc lập của văn hóa dân tộc, ý thức của nhân dân chủ yếu hướng vào việc giữ gìn, bảo vệ truyền thống để chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Sau thế kỷ thứ X đất nước giành quyền tự chủ, bên cạnh giữ gìn tinh hoa văn hóa dân tộc thì việc tiếp thu thành tựu nước ngoài là yếu tố góp phần cho việc ra đời thơ Nôm Đường luật. Tầng lớp trí thức có vị trí quan trọng như: Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố- những người mà lịch sử còn ghi lại với công đầu sáng tác và sử dụng thơ Quốc âm. 10 Với tinh thần dân tộc cao độ, những người lãnh đạo, các trí thức Nho học đã sáng tạo ra loại chữ của dân tộc mình và dựa vào đó để sáng tác thơ văn, thi cử. Không có chữ Nôm thì không có thơ Nôm đường luật. Thế kỷ XIII nền văn học viết tiếng Việt ra đời và sự ra đời của thơ Nôm Đường luật nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc. Dù còn nhiều hạn chế về mặt tư tưởng phong kiến nhưng thơ Nôm Đường luật vẫn thể hiện khí thế đi lên của lịch sử và để lại những tựu to lớn như: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông,... 1.2 Thơ Nôm Đường luật 1.2.1 Khái niệm về thơ Nôm Đường luật Thơ Nôm Đường luật chính là thành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam. Đó là những bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể Đường. Tuy nhiên để thưởng thức được cái hay, cái đẹp của những tác phẩm thơ Nôm Đường luật cần phải nắm rõ bản chất thơ Nôm Đường luật về phương diện nội dung. Trước hết cần nắm được đặc điểm của thơ Nôm Đường luật. Điểm mấu chốt tạo nên cái hay của mỗi bài thơ Nôm Đường luật là sự kết hợp hài hòa giữa “yếu tố Nôm” và “yếu tố Đường luật”. Hai yếu tố này hòa quyện, đan xen vào nhau tạo nên giá trị của mỗi tác phẩm thơ Nôm Đường luật. Mỗi một yếu tố có những giá trị biểu đạt, biểu cảm, giá trị thẩm mỹ khác nhau. “Yếu tố Nôm” trong thơ Nôm Đường luật được xây dựng bằng hai nội dung: thứ nhất, đó là những gì thuộc về dân tộc. Thứ hai, là những gì thuộc về dân dã, bình dị (Nôm là đọc biến âm của Nam và Nôm còn được hiểu là nôm na, dân dã). “Yếu tố Nôm” được biểu hiện ở các mặt đề tài, chủ đề là hướng tới những vấn đề của đất nước, dân tộc biểu hiện về mặt ngôn ngữ là chữ Nôm, từ Việt, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống còn về hình ảnh là những hình ảnh chân thực, bình dị, dân dã, về câu thơ là những câu năm chữ, sáu chữ đan xen bài thất ngôn, về nhịp điệu là cách ngắt nhịp ¾ trong câu thơ bảy chữ (lẻ trước, chẵn sau) khác với cách ngắt nhịp 2/3, 4/3 (của thơ Đường luật). Xét ở chủ đề thiên nhiên trong thơ Nôm Đường luật chúng ta thấy rõ “yếu tố Nôm” được sử dụng chủ yếu trong việc xây dựng những bức tranh thiên nhiên dân dã, bình dị, giàu chất dân tộc, không có những bức tranh hoành tráng, kì vĩ. Có thể khảo sát “yếu tố Nôm” trong thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Trãi – một tấm lòng yêu thiên nhiên mà theo Xuân Diệu “lòng yêu thiên nhiên tạo vật là một kích thước để đo 11 một tâm hồn”. “Cây chuối” là một bài thơ viết về đề tài thiên nhiên trong Quốc âm thi tập. Tuy nhiên, với việc chọn hình ảnh cây chuối làm đối tượng biểu đạt thì Nguyễn Trãi đã có sự cách tân so với nghệ thuật truyền thống – tức tác giả đã sử dụng yếu tố Nôm trong việc chọn đề tài. Bởi bút pháp quy phạm của văn học trung đại đã quy định một số loài cây, hoa để làm đối tượng biểu đạt. Nếu là cây phải là: tùng, cúc, trúc, mai…; là hoa phải là: đào, sen, lan, huệ…Như Bác từng khái quát: Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông Việc xuất hiện một số hình ảnh bình thường trong cuộc sống như bè muống, lãnh mùng, kê, khoai, lạc…trở thành đề tài ngâm vịnh quả thực rất hiếm thấy. Tuy nhiên, hình ảnh cây chuối là một ngoại lệ, nó khiến cho thơ của Nguyễn Trãi đậm chất dân tộc hơn tạo nét riêng trong dòng văn học trung đại. Chủ đề của bài “Cây chuối” cũng khác hẳn so với sự ước lệ trong văn học trung đại. Cây chuối với cảm hứng “Thiền” là biểu tượng của cái tâm hư không, thanh tịnh của những người tu hành nói riêng và con người nói chung. Còn với cảm hứng Nho đó là biểu tượng phẩm chất người quân tử kiên trinh. Khi vào thơ Nguyễn Trãi, cây chuối được thể hiện với cảm hứng khác, sâu sắc, kín đáo nhưng không kém phần rạo rực, sôi nổi: cảm hứng về tình yêu và tuổi trẻ. Ta lại bắt gặp một bức tranh hết sức mộc mạc, bình dị về cảnh làm lụng, sinh hoạt như một “lão nông tri điền” ở bài Thuật hứng 24: Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ương sen Bên cạnh những hình ảnh hết sức thanh thoát, tao nhã như “đìa thanh” và vẻ cao quý của hoa sen. Chúng ta cũng thấy những hình ảnh “muống”, “cỏ” hết sức chân thực, và nhiều từ Việt được dùng để miêu tả cuộc sống dân quê mộc mạc khiến cho câu thơ thấm đẫm phong vị dân tộc. Với việc dùng tiếng mẹ đẻ, Nguyễn Trãi đã miêu tả thành công một bức tranh thôn quê hết sức tự nhiên, sống động với chính ngôn ngữ của dân tộc. 12 1.2.2 Sự đóng góp về thơ Nôm Đường luật của các nhà thơ Lịch sử có những thay đổi theo dòng chảy của thời gian kéo theo văn hóa xã hội cũng có những thay đổi nhất định. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến đề tài, chủ đề, nội dung tư tưởng của thơ Đường luật có sự thay đổi qua từng thời kỳ. Ở giai đoạn trước nổi bậc là những đề tài, chủ đề gắn liền với cuộc sống, với những suy tư về cuộc đời, những quan niệm và lí tưởng của cuộc sống buộc phẩm chất của kẻ sĩ phải sống hết mình vì dân, nêu cao khí tiết của người quân tử… Những đề tài, chủ đề này thường hướng tới mục đích giáo dục như: tu tâm rèn luyện phẩm chất, triết lý nhân sinh, răn dạy cách sống, đề cao đạo lý nhân nghĩa… Trong kho tàng lịch sử văn học những tác phẩm hay và những tập thơ Nôm Đường luật còn lại rất ít. Thời kỳ đầu chỉ còn ba tập thơ của ba tác gia nổi tiếng đó là: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông, Bạch vân quốc âm thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong đó, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có niên đại lâu nhất. Tuy là giai đoạn khai sáng, mới hình thành nhưng tác gia này đã có những đóng góp đáng ghi nhận. Chính Nguyễn Trãi là người có công đầu tiên đặt viên gạch xậy dựng nên lối thơ Việt Nam. Với Quốc âm thi tập, lịch sử văn học Việt Nam đã thật sự bước sang trang mới hình thành nên một thể thơ mới: thơ Nôm Đường luật. Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi gồm 254 bài thơ. Để sáng tạo một thể thơ mới trên cơ sở tiếp thu vận dụng một thể thơ đã có sẵn trong văn học Trung Quốc, nhà thơ đã cố gắng tìm hướng đi cho mình thoát khỏi những gò bó của thơ Nôm đường Luật làm nên xu hướng dân tộc hóa. Vì vậy, trong Quốc âm thi tập có hiện tượng thơ sáu chữ, sử dụng thành ngữ, tục ngữ, những hình ảnh đậm đà tính dân dã và mang màu sắc dân tộc trong sáng tác thơ Nôm. Chúng ta không thể phủ định những đóng góp của Ức Trai trong nền văn học chính người đã thổi làn gió mới vào thơ ca trung đại. Trên thực tế nhà thơ đã sáng tạo ra thể thơ mới, đồng thời khẳng định sự hiện diện của thơ Nôm với tư cách là thể thơ dân tộc. Cái nhận biết đầu tiên là về đề tài, chủ đề, hình thức kết cấu câu thơ. Một người tài giỏi như Ức Trai – ông có hàng trăm bài thơ viết bằng chữ Hán, khảo sát hiếm thấy một lỗi về luật thì không thể là người tùy tiện khi sử dụng thơ sáu chữ. Đây là một dạng thơ Nôm biến thể, một ý thức tinh thần dân tộc của ông cha ta. 13 Nói đến thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, trước hết chúng ta cần đặt trong mối quan hệ qui chiếu với cuộc đời của nhà thơ để giải mã rõ hơn cảm hứng cụ thể trong từng tác phẩm của ông. Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thiên nhiên được miêu tả rất phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc. Nhưng ở giai đoạn này, thiên nhiên được miêu tả còn mang tính ước lệ, phong hoa tuyết nguyệt. Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén Ngày vắng xem hoa bẻ cây (Ngôn chí bài 10) Nếu như trong thơ chữ Hán, ta gặp nhiều địa danh gắn với quãng đời sôi nổi, với hoài bão “trí quân trạch dân”, với tầm nhìn bao quát lịch sử, chiêm nghiệm thời thế một cách cụ thể thì ở thơ chữ Nôm lại là những cảm xúc tinh lọc thăng hoa trong những đề tài tưởng như mòn cũ vì ước lệ “tùng, trúc, cúc, mai”, “phong, hoa tuyết, nguyệt”. Nhưng dù cho đề tài cụ thể hay trừu tượng thì Nguyễn Trãi điều thể hiện con người đầy cá tính của ông một cách rõ nét trước thiên nhiên. Nguyễn Trãi là một người nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, sống chan hòa với thiên nhiên. Nhưng hình ảnh thiên nhiên còn mang tính cổ kính, uyên bác, cao rộng, sử dụng nhiều hình ảnh tượng trưng ước lệ. Quãng đời lui về ẩn cư quê ngoại Côn Sơn giúp Nguyễn Trãi có dịp hoà nhập với thiên nhiên hết mình hơn, khi “công danh đã được hợp về nhàn”, những cảm xúc thiên nhiên trong chùm thơ Mạn thuật, Thuật hứng, những cảm nhận về hoa cỏ trong Hoa mộc môn…cũng bộc lộ con người ông thật bình dị gần gũi. Thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi là cả một không gian bát ngát tình người, tràn căng sức sống “thế giới đông lên ngập một bầu”. Bên cạnh những hình ảnh ước lệ, ta bắt gặp trong thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi có những sản vật, cây cỏ, có những cảnh sinh hoạt nông thôn hiện lên một cách hài hòa, bình dị: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then… 14 Ông thả hồn mình phiêu lãng với những vần thơ Nôm bình dị bên cạnh đó nhà thơ cũng rất thoải mái khi viết những câu vượt ra khỏi mọi ràng buộc câu thúc lễ nghi để thật sự hoà đồng cùng cây cỏ đất trời: Già chơi dầu có của no dùng, Chén rượu câu thơ ấy hứng nồng. Ngỏ tênh hênh nằm cửa trúc, Say lểu thểu đứng đường thông… Ta nhận ra một Nguyễn Trãi thật tự do phóng khoáng giữa đất trời, thật táo bạo với những từ ngữ thuần Việt đắt giá “tênh hênh”, “lểu thểu” mà vẫn không suồng sã, tưởng khó thành thơ mà vẫn lộ rõ cốt cách thanh cao nhưng giản dị của Nguyễn Trãi. Thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi thường nói về cảnh nhàn, cuộc sống nhàn rỗi bất đắc dĩ nhưng không vì thế làm mất đi vẻ thư thái tự tin của nhà thơ: “Quét trúc bước qua lòng suối – Thưởng mai về đạp bóng trăng”. Về nội dung tư tưởng trong thơ ông mang tính giáo huấn, văn dĩ tải đạo. Thơ ông thường thể hiện ý chí khí phách hiên ngang, tầm vóc của người quân tử, lòng yêu nước sâu nặng. Là người quân tử phải có trách nhiệm yêu nước thương dân, có lòng nhân nghĩa, phò minh chúa, phò đạo thánh hiền. Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt bao trùm của văn học trung đại: Bui có một lòng trung với hiếu Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen (Thuật hứng bài 24) Về nghệ thuật, hồn thơ ấy cũng không gò bó câu thức trong khuôn khổ thơ luật Đường mà tìm cách thể hiện cá tính của mình trong những phá cách lục ngôn. Nghiêm cấm trong thơ chữ Hán bao nhiêu thì ông lại phóng túng trong thơ chữ Nôm bấy nhiêu, đó cũng là dấu ấn đặc sắc của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập. Mặt khác, thơ Nguyễn Trãi đã đúc kết khá nhuần nhuyễn những tri thức, những điều rút ra từ sách vỡ 15 hoặc khai thác trong kho tàng văn học dân gian. Có thể nói, yếu tố tục ngữ, ca dao khá đậm đà trong nhiều câu, nhiều bài thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi: Chân tay dầu đứt bề khôn nối Xống áo chẳng còn mô dễ xin! (Bảo kính cảnh giới bài 15) Thoát thai từ câu ca dao: Anh em như thể tay chân Yếu tố tục ngữ, ca dao trong thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi xuất hiện với tần số rất nhiều, giúp cho thơ ông dễ hiểu, gần với ngôn ngữ của người dân. Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đưa vào thơ ca bác học nguồn thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, ca dao. Ông góp phần làm cho thơ tiếng Việt, thứ tiếng mẹ đẻ ngày càng phong phú, càng có vị trí xứng đáng trên văn đàn. Gió nhặt đưa qua trúc ổ Mưa tuôn phủ rợp thư phòng (Thuật hứng bài 6) Vì đây là giai đoạn thử nghiệm nên thể thơ này không thành công lắm, và ít được sử dụng trong sáng tác của các nhà thơ sau này, nhưng đây cũng là đóng góp đáng ghi nhận của Nguyễn Trãi, ông đã cố gắng sáng tạo ra một thể thơ mới của dân tộc. Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thường phù hợp diễn đạt những chân lý cuộc sống, những quyết tâm hành động, cùng những cung bậc tình cảm của nhà thơ. Nguyễn Trãi là người tiêu biểu cho xu hướng chủ đạo xây dựng một nền văn học viết bằng tiếng nói của dân tộc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Về thơ Nguyễn Trãi chúng ta nên quý trọng hơn nữa chữ Nôm, tiếng ta của Nguyễn Trãi, đó là vốn quý của dân tộc”. Người thứ hai chúng tôi muốn nhắc đến đó chính là Lê Thánh Tông mẫu ông vua hoàn thiện nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông và triều đại của ông đã thoả mãn được điều mà Nguyễn Trãi khao khát một đời nhưng không có diễm phúc được chứng kiến: “Ước một tôi hiền, chúa thánh minh”. Là vị vua sáng và vô cùng 16 hiển hách, Lê Thánh Tông đồng thời là nhà thơ nhà văn Hán – Nôm đích thực. Thơ nôm của ông cho thấy hình ảnh của một ông vua hiền minh hoà quyện tuyệt diệu với hình ảnh một nhà thơ. Xưa nay rất hiếm có ông vua nào viết được những câu thơ đằm thắm lạ thường như thế này: Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương, Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường. Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt, Gót vàng dận dạn máy âm dương. Thơ Lê Thánh Tông là thơ “tải đạo”. Đạo là quy luật tự nhiên của càn khôn và xã hội. Ở loài người, đạo hàm nghĩa đạo đức mà gốc của đức là chữ nhân. Thơ ông tràn ngập nhân đức và do đó tràn ngập vẻ đẹp. Chính lòng nhân đức đã cho ông con mắt nhìn thế gian khác nhiều so với những nhà thơ khác trong Hội Tao Đàn. Vận dụng triết lí vạn vật nhất thể và nghệ thuật khẩu khí, ông cố tình xóa nhoà ranh giới giữa cao và thấp, giữa sang và hèn nhằm mục đích nâng đỡ, an ủi, khích lệ, làm nở nụ cười trên môi những người mang số phận hẩm hiu: Góp giang sơn xách một quai, Lượng bằng sông bể chẳng từ ai! Vườn đào ngõ mận từng len lỏi, Gác tía lầu son mặc nghỉ ngơi… (Vịnh người ăn mày) Những bài thơ viết về những số phận đáng thương trong đời đủ cho thấy ông là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa đích thực không khác gì Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du sau này: Thờ chúa thờ chồng hết tấc thương, 17 Một mình lọn đạo việc cương thuờng. Non thiêng dễ hoá hồn Tinh Vệ, Nước biếc khôn nhìn mặt Phạm vương. (Vịnh Mị Ê) Lê Thánh Tông rất yêu quí những hiền tài quốc gia, những anh hùng có công với đất nước và thể hiện tình cảm sâu nặng của mình đối với các đại thần khi họ qua đời: Dẹp yên bốn cõi mới buông tay, Lồ lộ Thai tinh một đoá mây. … Thương ít tiếc nhiều khôn xiết chế, Miếu đường hầu lấy cột nào thay? (Điếu Lê Khôi) Lê Thánh Tông có ý thức sâu sắc xây dựng một nền văn hoá độc lập của dân tộc. Kế thừa di sản thơ quốc âm của Nguyễn Trãi, ông đặc biệt chú trọng xây dựng nền thơ Nôm để một mặt thoát khỏi sự phụ thuộc vào ngôn ngữ của Trung Hoa, mặt khác mang ý đồ đối thoại, sánh vai với nền văn chương Bắc quốc! Đó chính là tư tưởng có tầm chiến lược của một bậc minh quân vĩ đại trong thế kỉ XV. Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó khi đi sâu nghiên cứu thơ Nôm thời Hồng Đức. Hồng Đức Quốc âm thi tập là một bài thơ bát cú hơn 300 bài của Hội Tao Đàn có năm mục chính: Thiên địa môn; Nhân đạo môn; Phẩm vật môn; Nhàn ngâm chư phẩm. Thơ của Lê Thánh Tông thể hiện ý thức của giai cấp phong kiến về vai trò lịch sử của mình đồng thời cũng thể hiện lòng tự hào dân tộc sâu sắc. Trong thơ của Lê Thánh Tông cũng như nhân sĩ thời bấy giờ đã chú ý đến đời sống nhân dân nhưng vẫn trong chừng mực nhất định. Trong Hồng Đức Quốc âm thi tập có hình ảnh của con trâu, đún củi, cảnh thức khuya dậy sớm của người dân. Nhưng điểm nổi bật trong thơ 18 ông đó là lòng tự hào dân tộc. Thơ ông miêu tả cảnh núi non hùng vĩ, vịnh về sử và những nhân vật trong lịch sử. Các thành viên trong Hội Tao Đàn vịnh thiên nhiên theo đề tài nhất định: vịnh bốn mùa, vịnh 12 tháng, vịnh năm canh, vịnh đào nguyên bát cảnh, vịnh người chăn trâu, vịnh người đi cày, …) Tấc đất, tấc vàng yêu bấy giá Mồ hôi dồn dọi thuở đầu mom (Canh) Về phong cảnh, hội Tao Đàn ca ngợi cảnh non sông đất nước : núi Song Ngư, núi Thần Phù, song Bạch Đằng, chùa Non Nước,… Nọ đỉnh Thái Sơn rành rạch đó Nào hồn Ô Mã lạc loài đâu (Sông Bạch Đằng) Điểm nổi bật, điểm mới trong thơ của Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn là đề tài về tình yêu lứa đôi, viết về người phụ nữ. Ở thế kỉ XIV, ta chưa thấy bóng dáng người đẹp trong thơ ca đến thế kỷ XV Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân đã phần nào nói đến người đẹp trong thơ nhưng chỉ là vẻ thoáng qua, lời thơ thiếu đậm đà. Biểu hiện ở nửa sau thế kỷ thứ XV, các nhà Tao đàn đã nói nhiều đến phụ nữ, nhưng cố nhiên lại là những phụ nữ trong sử sách, hay trong truyện cổ dân gian: nói về Tiên Dung, Chữ Đồng Tử, Chức nữ, Ngưu lang, Chiêu Quân,… Các tác giả phần nào đã thấm thía tình yêu ly biệt, nỗi lạnh lùng của lứa đôi, của kẻ “trông chồng”, số kiếp của người phụ nữ. Chức nữ nhớ Ngưu lang: Đêm thanh lần tưởng hai phương nguyệt Ngày vắng buồn xem một dải song… Ngoài ra tập thơ này còn nói lên được khí phách hào hùng của dân tộc thông qua những trang sử oanh liệt và các nhân vật anh hùng hiển hách như Thánh Gióng, Trưng Vương, Triệu Ẩu, chiến thắng Bạch Đằng Giang … Trợ dân dẹp loạn trả thù mình, Chị nhủ cùng em cất nghĩa binh. 19 Tô Định bay hồn vang một trận, Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành… Còn nước còn non còn miếu mạo, Nữ trung đệ nhất đấng tài danh”. (Trưng Vương) Thêm vào đó tập thơ Hồng Đức Quốc âm thi tập còn ca ngợi đất nước An Nam gấm vóc, hoàn toàn không thua kém gì những danh thắng như Tiêu Tương bát cảnh của Trung Hoa: núi Thần Phù, động Bạch Nha, chùa Phật Tích, chùa Non Nước, chùa Trấn Võ… Muối pha bãi bạc sông sâu hoáy, Chàm nhuộm cây xanh núi tuyệt mù. Khói quán mây ngàn tuôn ngùn ngụt, Chợ quê sóng bể dức ù ù… Những vẻ tuyệt mĩ của thiên nhiên như trăng, hoa, thảo mộc, thời tiết bốn mùa, cảnh đẹp năm canh, lễ hội… đều được miêu tả một cách tỉ mỉ và đầy chất thơ: Mai gầy liễu guộc cỏ le te, Biết chạy làm sao khỏi nắng hè? Đậu lá, võ vàng con bươm bướm, Ấp cây, gầy guộc cái ve ve… (Vịnh nắng hè) Thơ Nôm thời Hồng Đức dành một mảng đáng kể chuyên miêu tả sinh hoạt dân dã với những vật hết sức thông thường, nhỏ mọn nhưng rất đỗi thân thương, gắn 20
- Xem thêm -