Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (doanh số, thị trường) 1

  • Số trang: 40 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TIỂU LUẬN: Thực trạng: Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (doanh số, thị trường) Lời mở đầu Sau thời kỳ mở cửa, đặc biệt là từ những năm 90 trở lại đây, Việt Nam không ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác hữu nghị, giao lưu, buôn bán với các nước bên ngoài. Những mối quan hệ này phát sinh từ các lợi ích kinh tế là chủ yếu; và trong đó thì hoạt động xuất khẩu của Việt Nam là hoạt động mang tầm quan trọng chiến lược. Cơ sở cho việc lựa chọn chiến lược thương mại quốc tế của Việt Nam phải xuất phát từ điều kiện môi trường kinh tế quốc tế hiện tại và những điều kiện thuận lợi vốn có của Việt Nam để tham gia vào sự phân công lao động quốc tế một cách đúng đắn nhất. Trong giai đoạn đầu, sự phân công lao động đó cần dựa trên lợi thế so sánh của từng quốc gia để sản xuất các sản phẩm và trao đổi với nhau. Xuất phát từ những lợi thế so sánh của Việt Nam và các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu này, Việt Nam sẽ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thô và sản phẩm nông nghiệp, một số sản phẩm sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình, sử dụng ít vốn ngoại tệ thu được thông qua hoạt động xuất khẩu đó, Việt Nam sẽ có tiền đề cho hoạt động nhập khẩu tư liệu sản xuất và công nghệ. Thông qua việc ứng dụng các tư liệu sản xuất và công nghệ tiên tiến sẽ góp phần giúp Việt Nam đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) đã xác định đường lối đối ngoại: “độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá”, và sau Đại hội Đảng lần thứ VIII (7/1996) là: “Xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu…Chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp”. Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác, chiến lược phát triển trong tương lai phải nhanh chóng chuyển từ việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế sang sản phẩm chế biến. Muốn vậy, ta cần phải đẩy mạnh tính hiệu quả từ hoạt động xuất khẩu; đặc biệt là các mặt hàng chủ lực bởi các mặt hàng này hiện chiếm một tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta. Đề tài này sẽ nghiên cứu về thực trạng và từ đó tập trung đề ra các biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của nước ta. Về kết cấu nội dung của đề án, nội dung đề án chia làm 2 phần (ngoài lời mở đầu và kết luận) như sau: Phần I: Cơ sở lý luận chung (Tổng quan về lý thuyết) 1- Vai trò của xuất khẩu hàng hoá 2- Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu Phần II: Thực trạng và giải pháp 1- Thực trạng: Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (doanh số, thị trường) 2- Các vấn đề trong hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực 3- Các giải pháp Để có thể hoàn thành được vấn đề nghiên cứu đặt ra này với tư cách là đề án của môn học Kinh Tế Thương Mại, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tụy của Thầy giáo, Thạc sỹ Nguyễn Việt Cường; nhờ đó mà đề án này được hoàn thành một cách trọn vẹn hơn. Phần I: Tổng quan về lý thuyết 1/ Vai trò của xuất khẩu:  Khái niệm hàng xuất khẩu: Hàng hoá xuất khẩu được hiểu gắn với khái niệm thương mại hàng hoá theo quy ước của Liên Hợp Quốc và WTO là những sản phẩm hàng hoá hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất và các khu chế xuất với mục đích tiêu thụ tại thị trường ngoài nước (xuất khẩu) đi qua hải quan Hàng tạm nhập tái xuất cũng được coi là hàng hoá xuất khẩu, hàng hoá quá cảnh không thuộc diện khái niệm hàng hoá xuất khẩu.  Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia: - Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn nước ngoài có thể được hình thành từ các nguồn như: Đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, các hoạt động du lịch, xuất khẩu sức lao động…tuy vậy, các nguồn này không ổn định và phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu. - Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi hơn. Ví dụ, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông, thuốc nhuộm; phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu (dầu, thực vật, chè..) sẽ kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo ra thiết bị phục vụ cho nó. Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường hàng tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển ổn định. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới. Qua xuất khẩu, hàng hoá nước ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh thị trường quốc tế về giá và lượng; do vậy, ta sẽ phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất phù hợp, thích nghi được với thị trường. Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh. Xuất khẩu đóng góp tích cực vào việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân. Việc sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập khá; việc xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một linh hoạt hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Ngoài ra, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước. Bản thân xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế,… mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này phát triển lại tạo những điều kiện thuận lợi khác cho mở rộng xuất khẩu, đó là mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động này. 2/ Các biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Thị trường cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam cũng như nhiều nước khác luôn luôn gặp khó khăn. Vấn đề thị trường không phải vấn đề của một nước cá biệt nào mà là vấn đề trọng yếu của nền kinh tế thị trường. Do vậy, việc hình thành một hệ thống các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu trở thành công cụ quan trọng nhất để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, nhằm hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu với những chi phí thấp, tạo điều kiện cho người xuất khẩu tự do cạnh tranh trên thị trường nước ngoài. Các nhóm biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu bao gồm: - Nhóm biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấu xuất khẩu - Nhóm biện pháp tài chính - Nhóm biện pháp thể chế - tổ chức. 2.1 Các biện pháp lớn để tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu  Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Mặc dù có chính sách đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, một nước không chỉ chuyên vào xuất khẩu một vài sản phẩm, nhưng các quốc gia đều có chính sách xây dựng các mặt hàng chủ lực- những con chủ bài của kinh tế ngoại thương. Trong nền kinh tế thương mại của một nước, người ta thường chia các mặt hàng xuất khẩu thành các loại : hàng xuất khẩu chủ lực, hàng xuất khẩu quan trọng và hàng xuất khẩu thứ yếu. Hàng xuất khẩu quan trọng là hàng chiếm tỷ trọng không cao trong kim ngạch xuất khẩu, nhưng đối với từng thị trường, từng địa phương lại có vị trí quan trọng. Hàng thứ yếu gồm nhiều loại, kim ngạch của chúng thường nhỏ. Hàng chủ lực là loại hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi. Vấn đề xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã được Nhà nước đề ra từ cuối những năm 1960. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi chúng ta tiếp xúc mạnh mẽ với nền kinh tế thị trường của thế giới, chúng ta mới thực sự chú trọng đến vấn đề này một cách nghiêm túc. Sự hình thành của Hàng xuất khẩu chủ lực: Trước hết, nó được hình thành qua quá trình thâm nhập vào thị trường nước ngoài, qua những cuộc cọ sát cạnh tranh mãnh liệt trên thị trường thế giới. Cuộc hành trình này đi vào thị trường thế giới kéo theo việc tổ chức sản xuất trong nước trên quy mô lớn với chất lượng phù hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng. Nếu đứng vững được thì mặt hàng đó liên tục phát triển. Do vậy, một mặt hàng chủ lực ra đời ít nhất cần có 3 yếu tố cơ bản: 1- Có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên thị trường đó. 2-Có nguồn lực để tổ chức sản xuất và sản xuất với chi phí thấp để thu được lợi trong buôn bán. 3- Có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước. Vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn. Một mặt hàng ở thời điểm này có thể được coi là hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng ở thời điểm khác thì không, có thể chỉ là hàng xuất khẩu quan trọng. Ví dụ, vào những năm 1960 thì than có thể được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng đến nay thì không mà có thể coi dầu thô là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Vai trò của việc xây dựng các mặt hàng chủ lực: - Mở rộng qui mô sản xuất trong nước, trên cơ sở đó kéo theo việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, mở rộng và làm phong phú thị trường nội địa. - Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. - Tạo điều kiện giữ vững, ổn định thị trường xuất nhập khẩu - Tạo cơ sở vật chất để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với các nước bên ngoài.  Gia công xuất khẩu Gia công: là sự cải tiến đặc biệt các thuộc tính riêng của các đối tượng lao động (vật liệu) được tiến hành một cách có sáng tạo và có ý thức nhằm đạt được một giá trị sử dụng mới nào đó (theo từ điển kinh tế-CHDC Đức). Gia công xuất khẩu là một hoạt động mà một bên-bên đặt hàng-giao nguyên vật liệu, có thể cả máy móc, thiết bị và chuyên gia cho bên nhận gia công để sản xuất ra một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt hàng. Sau khi sản xuất xong, bên đặt hàng nhận hàng hoá đó từ bên nhận gia công và trả tiền công cho bên làm hàng gọi là hoạt động gia công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia thì gọi là gia công xuất khẩu. Như vậy gia công xuất khẩu là đưa các yếu tố sản xuất (chủ yếu là nguyên liệu) từ nước ngoài về để sản xuất hàng hoá, nhưng không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do tiền công đem lại. Gia công xuất khẩu gồm: gia công sản phẩm công nghiệp xuất khẩu (cả tiểu thủ công nghiệp) và gia công sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (cả trồng trọt và chăn nuôi). Lợi ích của gia công xuất khẩu Gia công xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, góp phần tăng thu nhập quốc dân và đặc biệt tăng nguồn thu ngoại tệ; thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong nước nhanh chóng thích ứng với đòi hỏi của thị trường thế giới, cải tiến quy trình sản xuất trong nước theo kịp trình độ quốc tế; tạo điều kiện thâm nhập thị trường các nước tránh hoặc giảm thiểu những biện pháp hạn chế nhập khẩu do các nước đề ra (như tiêu chuẩn kỹ thuật); khắc phục khó khăn do thiếu nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là trong ngành công nghiệp nhẹ, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài. Những điểm cần lưu ý trong gia công xuất khẩu Về mặt hàng gia công: Tập trung vào những mặt hàng tiêu dùng truyền thống như thủ công mỹ nghệ, công nghiệp nhẹ, cũng như một số ngành lắp ráp hàng công nghiệp tiêu dùng. Về lựa chọn khách hàng gia công: Tìm đến những khách hàng có nhu cầu gia công lớn, có tính chất lâu dài và ổn định. Giải quyết một số khó khăn trong nước như: đầu tư thiết bị, máy móc hiện đại cho các cơ sở gia công; khắc phục tình trạng làm ăn tuỳ tiện của các cơ sở gia công về quy cách, phẩm chất, thời gian giao hàng,…  Đầu tư cho xuất khẩu Trong một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn là phổ biến, để tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, chúng ta không thể chờ vào việc thu gom những của cải tự nhiên, cũng không thể chỉ dựa vào việc thu mua những sản phẩm thừa mà bấp bênh của nền sản xuất nhỏ, phân tán hoặc bằng lòng với năng lực sản xuất của các cơ sở công nghiệp hiện có mà cần phải xây dựng thêm nhiều cơ sở sản xuất mới tạo ra nguồn hàng xuất khẩu dồi dào, tập trung, có chất lượng cao hơn, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, đầu tư vốn là biện pháp cần được ưu tiên để gia tăng xuất khẩu. Trước khi ra quyết định đầu tư, cần làm rõ những vấn đề : Sự cần thiết và mức độ cần thiết phải đầu tư; quy mô đầu tư và hiệu quả đầu tư. Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu ở nước ta hiện gồm vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nguồn vốn từ bên ngoài là quan trọng nhưng đầu tư cho xuất khẩu cần khai thác từ các nguồn vốn trong nước là chủ yếu (vốn Nhà nước và vốn tư nhân). Thu hút nguồn vốn tư nhân là việc lâu nay chưa được nhiều người coi trọng tương đương với việc bỏ qua một nguồn lực hết sức tiềm năng. Việc Nhà nước ban hành luật đầu tư trong nước sẽ là cơ sở pháp lý để các thành phần kinh tế năng động an tâm bỏ vốn ra đầu tư, nhất là đầu tư vào sản xuất ra hàng xuất khẩu. Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích bỏ vốn đầu tư ra hàng xuất khẩu, các chính sách thể hiện sự ưu tiên như: Cho phép vay vốn với lãi suất thấp (lãi suất ưu đãi, giảm hoặc miễn nộp thuế giá trị gia tăng một số năm; những sản phẩm tiềm năng làm ra những năm đầu chưa có lãi hoặc lãi suất thấp (so với kinh doanh trong nước) Nhà nước có thể áp dụng chính sách trợ cấp có điều kiện,…  Lập các khu chế xuất (KCX) KCX là khu vực công nghiệp tập trung chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu. Tính đến đầu năm 2003 đã có trên 100 KCX trên thế giới; riêng ở Đông Nam và Nam á có tới hơn 40 KCX. Nhà nước ta đã cấp giấy phép cho xây dựng các KCX Sóc Sơn (Hà Nội), KCX Hải Phòng, KCX Tân Thuận (Tp HCM),… và một số khu khác đang được xem xét. Hoạt động của KCX là nơi tập trung sản xuất hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ các mặt, do chủ đầu tư chủ yếu là người nước ngoài đảm nhận. Vật tư nguyên liệu để sản xuất đều mang từ nước ngoài vào và cũng có thể là tài nguyên của nước sở tại bán cho chủ đầu tư sau khi qua các thủ tục của nước chủ nhà. KCX là một đô thị độc lập, là một khu kinh tế xuất khẩu và là nơi giao dịch thương mại quốc tế. Trong KCX, mọi sinh hoạt, mua bán đều sử dụng ngoại tệ và ngoại tệ này cấm không được lưu hành rộng rãi trong nội địa. Vì vậy, KCX phải được tách biệt với nội địa bằng các ranh giới thiên nhiên hoặc nhân tạo. Sự giao lưu giữa KCX với nội địa được kiểm soát chặt chẽ. Những lợi ích của KCX: Thu hút vốn và công nghệ, tăng cường khả năng xuất khẩu tại chỗ, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động,góp phần hội nhập kinh tế nước chủ nhà với nền kinh tế thế giới và các nước trong khu vực. 2.2 Nhóm các biện pháp tài chính, tín dụng nhằm khuyến khích sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu Những biện pháp chủ yếu: Tín dụng xuất khẩu; trợ cấp xuất khẩu; áp dụng chính sách tỉ giá hợp lý; miễn, giảm hoặc hoàn lại thuế.  Nhà nước đảm bảo tín dụng xuất khẩu Để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, nhiều doanh nghiệp thực hiện việc bán chịu và trả chậm hoặc dưới hình thức tín dụng hàng hoá với lãi suất ưu đãi đối với người mua hàng nước ngoài. Việc bán hàng như vậy thường có những rủi ro (do nguyên nhân kinh tế hoặc chính trị) dẫn đến sự mất vốn. Trong trường hợp đó, để khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn xuất khẩu hàng bằng cách bán chịu, quỹ bảo hiểm xuất khẩu của Nhà nước có thể đứng ra bảo hiểm, đền bù nếu bị mất vốn. Tỉ lệ đền bù có thể lên đến 100% vốn bị mất, nhưng thường ở mức 60-70% khoản tín dụng để các nhà xuất khẩu phải quan tâm đến việc kiểm tra khả năng thanh toán của các nhà nhập khẩu và quan tâm đến việc thu tiền bán hàng sau khi hết thời hạn tín dụng. Nhà nước đứng ra đảm bảo tín dụng xuất khẩu, ngoài việc thúc đẩy xuất khẩu còn nâng được giá bán hàng bởi giá bán chịu bao gồm cả giá bán trả tiền ngay và phí tổn đảm bảo lợi tức. Đây là một hình thức khá phổ biến trong chính sách ngoại thương của nhiều nước để mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường.  Nhà nước thực hiện cấp tín dụng xuất khẩu Nhà nước trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để nước vay sử dụng số tiền đó mua hàng của nước cho vay. Nguồn vốn cho vay thường lấy từ ngân sách Nhà nước. Việc cho vay này thường kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có lợi cho nước cho vay. Tác dụng: Giúp cho doanh nghiệp nước cho vay đẩy mạnh được xuất khẩu vì sẵn có thị trường. Các nước cho vay thường là những nước có tiềm lực kinh tế, hình thức Nhà nước cấp tín dụng cho nước ngoài trên khía cạnh nào đó giúp các nước này giải quyết tình trạng dư thừa hàng hoá ở trong nước. Nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước. Vốn bỏ ra cho việc sản xuất và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thường là rất lớn. Người xuất khẩu cần có được một số vốn cả trước khi giao và sau khi giao hàng để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi người xuất khẩu cũng cần có thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dành cho người mua nước ngoài. Đặc biệt, khi bán hàng theo phương thức bán chịu thu tiền hàng xuất khẩu sau thì việc cấp tín dụng xuất khẩu trước khi giao hàng hết sức quan trọng. Nhiều chương trình phát triển xuất khẩu không thể thiếu được việc cấp tín dụng của Chính phủ theo những điều kiện ưu đãi. Điều đó càng làm giảm bớt chi phí xuất khẩu. Các ngân hàng thường hỗ trợ cho các chương trình xuất khẩu bằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước và sau khi giao hàng. Vấn đề đặt ra là làm sao để đảm bảo mọi lô hàng xuất khẩu đều có thể được cấp tín dụng cả trước và sau khi giao hàng. Người xuất khẩu cần có được các loại bảo đảm về tài chính của phía ngân hàng bằng các loại trái phiếu, hoặc là sự bảo lãnh của ngân hàng,…Điều đó có nghĩa là cần có sự bảo lãnh đối với hầu hết 100% các dịch vụ xuất khẩu một cách gián tiếp, khâu này còn phụ thuộc vào khả năng và uy tín của người xuất khẩu.  Trợ cấp xuất khẩu Là những ưu đãi tài chính mà Nhà nước dành cho người xuất khẩu khi họ bán được hàng hoá ra thị trường nước ngoài. Mục đích của sự trợ cấp là giúp nhà xuất khẩu tăng thu nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu và do đó đẩy mạnh được xuất khẩu. Có hai loại trợ cấp cho xuất khẩu, đó là - Trợ cấp trực tiếp: áp dụng thuế suất ưu đãi đối với mặt hàng xuất khẩu, miễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu; cho các nhà xuất khẩu được hưởng các giá ưu đãi cho đầu vào của sản xuất như điện, nước, thông tin liên lạc, vận tải, trợ giá xuất khẩu - Trợ cấp gián tiếp: dùng ngân sách Nhà nước để giới thiệu, triển lãm, quảng cáo, tạo điều kiện cho các giao dịch xuất khẩu hoặc giúp đỡ kỹ thuật và đào tạo chuyên gia  Chính sách tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái: là giá cả tại đó mà ngoại hối được mua và bán. Tỷ giá hối đoái và chính sách của tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, tác động mạnh đến xuất khẩu. Vấn đề đối với nhà xuất khẩu và những người cạnh tranh với hàng nhập khẩu là có được hay không một tỷ giá chính thức, được điều chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát xảy ra tại các nền kinh tế của các bạn hàng của họ. Nếu tỷ giá hối đoái chính thức là cố định và chỉ số giá cả trong nước tăng lên nhiều hơn so với chỉ số giá cả nước ngoài thì tỷ giá hối đoái thực tế là tăng lên hay đồng tiền trong nước lên giá. Do vậy nhà xuất khẩu cần không ngừng quan tâm tới tỷ giá hối đoái thực tế. Khi tỷ giá hối đoái quá cao ở trong nước, đồng tiền một quốc gia trở nên rất cao tương đối so đồng tiền nước nhập khẩu sẽ dẫn tới các hậu quả: Hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so sản phẩm nội địa mà chúng phải chịu chi phí tăng lên do lạm phát; các nhà xuất khẩu bán hàng ra nước ngoài khi đó với mức giá cao hơn so mức giá quốc tế và điều này nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, họ sẽ bị thiệt. Kết quả chung là nhập khẩu tăng lên và xuất khẩu giảm đi. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trong việc phát triển nhanh xuất khẩu là ý chí và sự khéo léo của Chính phủ trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức, thuế quan và trợ cấp để duy trì tỷ giá thực tế kích thích cho việc xuất khẩu về lâu dài và ngăn ngừa tỷ giá ở mức nhập khẩu vọt lên cao so xuất khẩu. Việc tỷ giá hối đoái của đồng đô-la Mỹ ngày càng tăng nhẹ so đồng Việt Nam (tuy ảnh hưởng phần nào tới lạm phát ở nước ta) cũng ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ và nay xu hướng đó vẫn tiếp tục, mang tính có lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.  Miễn thuế, giảm thuế và hoàn lại thuế - Hàng xuất khẩu được miễn thuế: Hàng xuất khẩu trả nợ nước ngoài của Chính phủ. - Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được xét miễn thuế để khuyến khích xuất khẩu: Hàng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài và xuất khẩu theo các hợp đồng gia công cho nước ngoài; hàng xuất khẩu của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và của bên nước ngoài hợp tác kinh doanh. - Hàng được xét hoàn thuế: Hàng đã kê khai và nộp thuế nhưng thực tế không xuất khẩu nữa hoặc xuất khẩu ít hơn; hàng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ xuất khẩu thành phẩm và hàng nhập khẩu để tái xuất, tạm xuất tái nhập để tham dự hội chợ triển lãm. 2.3 Các biện pháp thể chế, tổ chức Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu bằng việc áp dụng các biện pháp thâm nhập thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá ở nước ngoài: Lập các Viện nghiên cứu cung cấp thông tin cho các nhà xuất khẩu Lập các cơ quan Nhà nước ở nước ngoài để nghiên cứu tại chỗ tình hình thị trường hàng hoá, thương nhân và Chính phủ nước sở tại. Đứng ra ký kết các hiệp định thương mại, hiệp định hợp tác kỹ thuật, vay nợ, viện trợ,…trên cơ sở đó để thúc đẩy xuất khẩu. 2.4 Các biện pháp tạo thị trường Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị ngày 03/ 01/ 1996 về "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng XHCN" đã nêu 3 quan điểm chỉ đạo: Một là, phát huy tính tích cực của các thành phần kinh tế trong lưu thông hàng hoá, xây dựng thương nghiệp quốc doanh và HTX mua bán nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của thương nghiệp quốc doanh trong những lĩnh vực và địa bàn trọng điểm. Hai là, mở rộng thị trường ngoài nước gắn với việc phát triển ổn định thị trường trong nước, lấy thị trường trong nước làm cơ sở, đặt hiệu quả kinh doanh thương nghiệp trong hiệu quả kinh tế - xã hội của toàn bộ nền kinh tế. Ba là, việc quản lý nhà nước phải thể hiện trong toàn bộ sự vận động lưu thông hàng hoá. Các cơ quan quản lý nhà nước phải chủ động tác động đến mọi hoạt động của các doanh nghiệp. Nguyên tắc chung để chỉ đạo là: khuyến khích, phát huy mạnh mẽ các mặt tích cực, đồng thời có biện pháp hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định quan điểm của Đảng là "Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế của nước ta … và xác định “đẩy mạnh xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường”. Để thị trường hàng hoá - dịch vụ Việt Nam phát triển, cần thực hiện tốt một số giải pháp như sau. Hạn chế việc bảo hộ thị trường trong nước bằng các biện pháp hành chính khuyến khích sản xuất và xuất khẩu hàng hoá chất lượng cao, thông qua chế biến, sản phẩm hàng hoá mang thương hiệu Việt nam. Thực hiện các biện pháp mạnh trong việc chống gian lận thương mại và các hoạt động kinh doanh phi pháp như lừa đảo, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế,... Khuyến khích các doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp về thuế đất, thuế giá trị gia tăng, xúc tiến thương mại, thành lập quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, mở rộng các nghiệp vụ bảo hiểm xuất khẩu. Luật hoá các thủ tục kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp và thị trường. Việc kiểm tra, thanh tra được tiến hành khi có dấu hiệu sai phạm, tránh tuỳ tiện, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Nâng cao trình độ và phẩm chất của cán bộ thanh, kiểm tra và quản lý thị trường cả về chuyên môn, chính trị, luật pháp và lương tâm nghề nghiệp. Đồng thời có chế độ đãi ngộ thoả đáng để họ yên tâm làm việc và tránh tiêu cực. Gắn chế độ đãi ngộ cao với những biện pháp kỷ luật nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm pháp luật. Xúc tiến thương mại, thông tin và tiếp thị: Tạo điều kiện để tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tham tán thương mại, tăng cường đại diện tham tán thương mại tại các khu vực thị trường trọng điểm nhằm góp phần giúp các doanh nghiệp trong nước xâm nhập thị trường nước ngoài. Khẩn trương hướng dẫn việc tổ chức các cơ quan xúc tiến thương mại, các trung tâm giới thiệu, quảng cáo hàng hóa ở địa phương và kể cả ở nước ngoài. Phần iI: Thực trạng và giải pháp 1.Thực trạng 1.1 Thực trạng chung xuất khẩu hàng hoá Kết quả xuất khẩu trong những năm qua đã từng bước phát triển cả về quy mô, tốc độ, thị trường và thành phần tham gia xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2004 đạt78,4 tỷ USD, tốc độ tăng xuất khẩu bình quân 4 năm đạt 16,7%. Đạt được quy mô xuất khẩu này là nhờ phần lớn sự tăng trưởng của tất cả các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2004 vừa qua so năm 2003 (Kim ngạch xuất khẩu năm 2004 đạt 26,5 tỷ, tăng 31,4%, là mức tăng cao nhất trong 8 năm trở lại đây). Xuất khẩu năm 2004 tăng lên mạnh mẽ là kết quả của việc tăng sản lượng xuất khẩu và tăng giá trị hàng hoá xuất khẩu, trong đó có thể kể đến dầu thô (tăng 48,3%), than đá (tăng 46,8%), gạo (tăng 30,7%), sản phẩm gỗ (tăng 86%), dây điện và cáp điện (tăng 46,4%),… Ngoài 4 mặt hàng truyền thống có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (thuỷ sản,dầu thô, hàng dệt và may mặc,giày dép các loại), năm 2004 đã xuất hiện thêm 2 nhóm hàng tham gia vào câu lạc bộ 1tỷ là điện tử-linh kiện máy tính và sản phẩm gỗ. Lượng xuất khẩu tăng mạnh ở hầu hết các mặt hàng (tăng 19% so năm 2003 tương đương 3,911 triệu USD) cho thấy sức sản xuất ngày càng được mở rộng, năng lực tiếp cận thị trường của hàng hoá xuất khẩu nước ta ngày càng cao. Mặt khác, giá xuất khẩu tăng đã góp thêm 1,916 triệu USD vào tổng kim ngạch. Điều này một phần nhờ giá thị trường thế giới tăng, mặt khác nhờ chất lượng hàng hoá xuất khẩu được nâng lên. Một điểm mạnh nữa trong xuất khẩu năm 2004 là thị trường xuất khẩu được mở rộng. Đến nay, hàng hoá xuất khẩu nước ta đã vươn tới hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ. Các thị trường xuất khẩu trọng điểm đều đạt được mức tăng trưởng cao như EU (tăng gần 34%), Nhật Bản (tăng 20%), Hoa Kỳ (tăng 27%),…Đây là những thị trường khó tính, đòi hỏi hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng được yêu cầu cao về chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh việc tập trung khai thác tối đa các thị trường trọng điểm, năm qua ta tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, hàng trăm chủng loại hàng hoá xuất khẩu đã vào được các thị trường mới, giảm dần xuất khẩu qua các thị trường trung gian (xuất khẩu vào châu á và ASEAN là các thị trường trung gian lớn chiếm tỷ trọng từ 60,5% và 17% năm 2001 xuống còn 47,7% và 13,9% năm 2004). Những thành tựu trên sẽ không đạt được nếu thiếu sự chủ động, tích cực của các doanh nhân, những người tham gia xuất khẩu. Năm 2004 khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng xuất khẩu với 2.157 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu (bằng 1/5 tổng số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu) nhưng đóng góp 33,2% vào tổng kim ngạch xuất khẩu, có xu hướng tăng dần qua các năm, dần trở thành động lực quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu của nước ta. Các thành phần khác tham gia xuất khẩu như khối doanh nghiệp Nhà nước, các công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã, ... cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao so năm 2003 và so kế hoạch đặt ra. 1.2. Các nhóm hàng chủ lực a. Nhóm nguyên nhiên liệu Hiện nay nhóm này với hai mặt hàng chính là dầu thô và than đá, đang chiếm hơn 20% kim ngạch xuất khẩu nước ta. Sau khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, lượng dầu thô xuất khẩu đã và đang giảm dần. Dự kiến năm 2005, lượng dầu thô xuất khẩu chỉ còn khoảng gần 12 triệu tấn; tuy nhiên thực tế qua năm 2003 và 2004, con số này đang tăng lên. Tới năm 2010, có hai phương án tuỳ vào lượng khai thác - Nếu khai thác 14-16 triệu tấn thì sẽ sử dụng trong nước khoảng 12 triệu tấn, xuất khẩu 2-4 triệu tấn. - Nếu khai thác 20 triệu tấn thì có khả năng xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn. Dù theo phương án nào, ta cũng đang phấn đấu giảm kim ngạch dầu thô đáng kể cho đến năm 2010. Thị trường xuất khẩu chính vẫn là Ô-xtrây-lia, Sing-ga-po, Nhật Bản, Trung Quốc và có thể thêm Hoa Kỳ. Về than đá, dự kiến nhu cầu nội địa sẽ tăng đáng kể nên xuất khẩu cũng sẽ chỉ dao động ở mức 6-7 triệu tấn/năm trong 10 năm tới. Nhìn chung, giá xuất khẩu than khó có khả năng tăng đột biến do nguồn cung trên thị trường thế giới tương đối dồi dào và nhu cầu đang có xu hướng giảm. Nhiệm vụ trong các năm tới là cố gắng duy trì những thị trường đã có như Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Âu,...và tăng cường thâm nhập vào thị trường Thái Lan, Hàn Quốc,... b. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản Hiện nay, những mặt hàng chủ lực trong nhóm hàng này là gạo, cà phê, cao su, chè, rau quả, thuỷ sản, hạt tiêu và nhân điều. Do sản xuất nông nghiệp phải chịu những hạn chế mang tính cơ cấu (như diện tích có hạn, khả năng khai thác và đánh bắt có hạn...) và thời tiết nên theo dự thảo Chiến lược chung, tốc độ tăng trưởng của nhóm này có thể chỉ ở mức 4%/năm trong toàn kỳ 2001-2010. Bên cạnh đó, nhu cầu của thị trường thế giới cũng có hạn, giá lại không ổn định. Vì vậy, dù kim ngạch tuyệt đối vẫn tăng nhưng tỷ trọng của nhóm dự kiến sẽ giảm còn 17,2% vào năm 2010. Hướng phát triển chủ đạo của nhóm hàng này trong 10 năm tới là chuyển dịch cơ cấu toàn lĩnh vực, trong mỗi ngành, thậm chí trong từng loại sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Hạt nhân tăng trưởng của nhóm sẽ vẫn là thuỷ sản bởi tiềm năng khai thác và nuôi trồng còn nhiều, nhu cầu thị trường thế giới tăng khá ổn định, thuế suất không cao. Năm 1985, xuất khẩu thuỷ sản thế giới mới là 17,2 tỷ USD, đến năm 1995 đã đạt 52 tỷ USD, tức là tăng bình quân mỗi năm trên 13%. Dự kiến đến năm 2010, thuỷ sản nước ta sẽ chiếm 40% tổng kim ngạch của nhóm nông lâm hải sản. Thị trường chính sẽ là Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc,... Về gạo, do nhu cầu thế giới tương đối ổn định, khoảng trên 20 triệu tấn/năm, nhiều nước nhập khẩu nay chú trọng an ninh lương thực, thâm canh tăng năng suất cây trồng, gia tăng bảo hộ, giảm nhập khẩu.Trong hoàn cảnh đó, dự kiến trong suốt thời kỳ 2001-2010, ta sẽ chỉ xuất khẩu được khoảng 4-4,5 triệu tấn/năm, thu về mỗi năm khoảng trên 1 tỷ USD, hiện ta đang tập trung khai thác các thị trường mới như Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ và ổn định các thị trường đã có như In-đô-nê-xi-a, Phi-lippin,...thông qua các hợp đồng, nghiên cứu khả năng phối hợp với Thái Lan để điều tiết nguồn cung, ổn định giá cả thị trường, tăng hiệu quả xuất khẩu gạo. Các đối thủ cạnh tranh đang lên là Mỹ và ấn Độ, và thực tế xuất khẩu gạo của Thái Lan trong những tháng đầu năm 2005 đã giảm đi. c. Sản phẩm chế biến và chế tạo Hiện nay, nhóm này đã có tới 4 mặt hàng đạt trên 4 tỷ USD/năm và đóng góp chung vào hơn 30% kim ngạch xuất khẩu của nhóm này trong các nhóm hàng xuất khẩu. Mục tiêu phấn đấu vào năm 2010 là đạt 20-21 tỷ USD, tăng hơn 5 lần so năm đặt ra kế hoạch, năm 2000 và chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu. Những mặt hàng chủ lực trong nhóm cho tới năm 2010 vẫn là 2 mặt hàng dệt may và giày dép, là những lĩnh vực có thể thu hút nhiều lao động. Kim ngạch mỗi mặt hàng phải đạt khoảng 7-7,5 tỷ USD. Như vậy, dệt may sẽ phải tăng bình quân 14%/ năm, giày dép tăng bình quân 15-16%/ năm. Ta đã ký được hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ thì mục tiêu tăng trưởng này là khả thi. Tuy nhiên, ta vẫn đang tiếp tục mở thêm thị trường Trung Đông và Đông Âu. Ta cần lưu ý với khả năng cạnh tranh rất lớn của Trung Quốc sau khi nước này trở thành thành viên của WTO, được hưởng những ưu đãi, các mặt hàng dệt may, giày dép của quốc gia này vốn đã mạnh sẽ gây những khó khăn không nhỏ cho hàng hoá của nước ta. Để khắc phục khó khăn, đẩy mạnh xuất khẩu, hướng phát triển cơ bản của hai ngành dệt may và giày dép trong 10 năm tới là gia tăng nỗ lực thâm nhập các thị trường mới, đặc biệt là thị trường Mỹ, Trung Đông và Châu Đại Dương; ổn định và tăng thị phần trên các thị trường quen thuộc Mỹ,EU, Nhật Bản. Sản phẩm gỗ, với thế mạnh về nhân công và tay nghề, đây là ngành có tiềm năng phát triển mạnh ở nước ta. Ngành có một thuận lợi là nhu cầu thế giới tăng khá ổn định (bình quân mỗi năm tăng khoảng 7-8%). Hiện ngành đã đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu gỗ được phục hồi nhờ nhiều vào chuyển hướng một phần sang sử dụng nguyên liệu nhập, ta có đầu tư thoả đáng hơn vào khâu trồng rừng và đơn giản hoá trong thủ tục xuất khẩu gỗ, nhất là sản phẩm gỗ rừng tự nhiên. d. Sản phẩm hàm lượng công nghệ và chất xám cao Đây là ngành hàng mới xuất hiện nhưng đã mang lại kim ngạch xuất khẩu khá lớn, khoảng 700 triệu USD năm 2000 và tới nay đã đạt hơn 1tỷ USD. Hạt nhân chính là hàng điện tử và tin học với kim ngạch xuất khẩu trong năm 2004 là 1.075 tỷ USD. Ta hoàn toàn có khả năng phát triển hơn nữa những mặt hàng này, trước mắt là gia công rồi tiến tới nội hoá dần. Vấn đề cốt lõi là có cơ chế chính sách khuyến khích, phát triển nguồn lực. Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đặt ra cho ngành đến năm 2010 là 6-7 tỷ USD, trong đó linh kiện điện tử và linh kiện máy tính vẫn là những mặt hàng chủ lực. 1.3 Những hạn chế chính trong hoạt động xuất khẩu Trước hết, cơ cấu kim ngạch xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào một số ít mặt hàng xuất khẩu. Tính riêng 6 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ đã chiếm 66% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc vào một số ít nhóm hàng hoá như trên trong điều kiện xuất khẩu nước ta chưa tạo được ảnh hưởng đến thị trường thế giới các mặt hàng này sẽ dẫn đến tổn thương cho xuất khẩu cả nước khi thị trường thế giới có những biến động, dễ dẫn đến nguy cơ bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá; quan trọng hơn là chưa khai thác hết tiềm năng xuất khẩu của các vùng sản xuất trong nước, đặc biệt là sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản phẩm của các làng nghề truyền thống. Thứ hai, trong khi một số mặt hàng xuất khẩu có mức tăng trưởng nhanh, tới 86% (gỗ) thì một số mặt hàng khác được đánh giá là có nhiều tiềm năng, tạo ra nhiều việc làm và đem lại hiệu quả xã hội cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội kinh tế lại có tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước như rau quả (tăng 10% so 2003), thủ công mỹ nghệ (tăng 16% so 2003), nhất là trong những năm qua Chính phủ và các Ban, Ngành đã dành nhiều sự quan tâm, đầu tư đáng kể, được bà con nông dân trông đợi nhiều nhưng đến nay xuất khẩu hai mặt hàng này hầu như chưa có sự chuyển biến mạnh. Thứ ba, chưa thiết lập được hệ thống các ngành công nghiệp bổ trợ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Kết quả là xuất khẩu tiếp tục phụ thuộc lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu, giá trị nhập khẩu nguyên, phụ liệu cho 2 nhóm sản phẩm dệt may, gia dày vẫn chiếm 67% tổng kim ngạch nhập khẩu (Nhập 4,7 tỷ/ xuất 7 tỷ USD); các mặt hàng khác cũng tương tự, nhập khẩu gỗ và nguyên liệu chiếm trên 50%. Sự lệ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu sẽ là nguyên nhân khiến xuất khẩu nước ta phải chịu ảnh hưởng
- Xem thêm -