Tình hình tội trộm cắp tài sản, những bất cập trong giải quyết vụ án trộm cắp tài sản và các giải pháp hoàn thiện

  • Số trang: 53 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 2
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ðẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN ........... 2 1.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản.......................................................................... 2 1.2. ðặc ñiểm, nguyên nhân, ñiều kiện của tội trộm cắp tài sản ............................. 2 1.2.1. ðặc ñiểm của tội trộm cắp tài sản ................................................................. 2 1.2.2. Nguyên nhân, ñiều kiện của tội trộm cắp tài sản........................................... 5 1.3. Phương thức, thủ ñoạn hoạt ñộng của tội trộm cắp tài sản .............................. 7 1.4. Lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản… ........................................................................................................................ 9 1.4.1. Giai ñọan từ nguồn gốc ñến nhà Trần ........................................................... 9 1.4.2. Giai ñoạn từ thời kỳ nhà Hồ ñến thời kỳ nhà Lê Sơ.................................... 10 1.4.3. Giai ñoạn thời kỳ nhà Nguyễn..................................................................... 12 1.4.4. Giai ñoạn sau Cách mạng tháng 8 ñến thống nhất ñất nước ....................... 13 1.4.5. Giai ñoạn từ khi ñất nước thống nhất cho ñến trước khi ban hành bộ luật hình sự 1985 .......................................................................................................... 13 1.4.6. Giai ñoạn từ khi bộ luật hình sự năm 1985 ra ñời cho ñến trước khi ban hành bộ luật hình sự 1999...................................................................................... 13 1.5. Tội trộm cắp tài sản trong quy ñịnh của luật hình sự một số nước ................ 14 1.5.1. Tội trộm cắp tài sản trong quy ñịnh của luật hình sự Nhật Bản.................. 14 1.5.2. Tội trộm cắp tài sản trong quy ñịnh của luật hình sự Thụy ðiển................ 14 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu CHƯƠNG 2: TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM...................................................................................................................... 16 2.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản........................................................................ 16 2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản ................................................ 17 2.2.1. Về mặt chủ thể của tội phạm ....................................................................... 17 2.2.2. Về mặt khách thể của tội phạm ................................................................... 17 2.2.3. Về mặt khách quan của tội phạm ................................................................ 17 2.2.4. Về mặt chủ quan của tội phạm ................................................................... 18 2.3. Các trường hợp phạm tội cụ thể ..................................................................... 19 2.3.1. Phạm tội trộm cắp tài sản không có các tình tiết ñịnh khung hình phạt...... 19 2.3.2. Trộm cắp tài sản thuộc các trường hợp quy ñịnh tại khoản 2 ðiều 138 Bộ luật hình sự ............................................................................................................ 21 2.3.3. Trộm cắp tài sản thuộc các trường hợp quy ñịnh tại khoản 3 ðiều 138 Bộ luật hình sự ........................................................................................................... 24 2.3.4. Trộm cắp tài sản thuộc các trường hợp quy ñịnh tại khoản 4 ðiều 138 Bộ luật hình sự ............................................................................................................ 26 2.3.5. Hình phạt bổ sung ñối với người phạm tội trộm cắp tài sản ....................... 27 2.4. So sánh tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm sở hữu khác trong Bộ luật hình sự ................................................................................................................... 28 2.4.1. So sánh tội trộm cắp tài sản với tội cưỡng ñoạt tài sản ............................... 28 2.4.2. So sánh tội trộm cắp tài sản với tội lừa ñảo chiếm ñoạt tài sản .................. 29 2.4.3. So sánh tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản.................. 30 i CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN, NHỮNG BẤT CẬP TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ..................................................................................................... 33 3.1. Tình hình tội trộm cắp tài sản trên cả nước .................................................... 33 3.2 Tình hình tội trộm cắp tài sản trên một số ñịa bàn nhất ñịnh .......................... 33 3.3. Những bất cập trong giải quyết vụ án trộm cắp tài sản và các giải pháp hoàn thiện ....................................................................................................................... 35 3.3.1. Những bất cập trong giải quyết vụ án trộm cắp tài sản ............................... 35 3.3.2. Các giải pháp hoàn thiện ............................................................................ 41 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 51 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu ii Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo LỜI MỞ ðẦU 1. Tính cấp thiết của ñề tài Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước ñể ñấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần ñắc lực vào việc bảo vệ ñộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, ñảm bảo giữ vững thành quả của cách mạng, duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo ñảm cho mọi công dân ñược sống trong một môi trường xã hội lành mạnh. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, tình hình tội phạm không giảm mà luôn có chiều hướng gia tăng ñặc biệt là tội trộm cắp tài sản ñã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước. ðây là ñiều cấp thiết cần ñược quan tâm và cũng là lý do ñể em chọn ñề tài. 2. Mục ñích nghiên cứu Mục ñích mà em chọn ñề tài này là nhằm ñể hiểu sâu hơn về tội trộm cắp tài sản, từ ñó cũng muốn tuyên truyền cho mọi người hiểu hơn về phương thức, thủ ñoạn của tội phạm này, không phải chỉ nhờ vào cơ quan chức năng không mà tự mình cũng phải biết cách phòng chống. 3. Phạm vi nghiên cứu ðiều 15 Hiến pháp năm 1992 quy ñịnh: “Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo ñịnh hướng xã Học hội chủ nghĩa. cấu kinh nhiều thành các hình thức tổ chức Trung tâm liệu ĐHCơCần Thơtế @ Tài liệuphần họcvàtập và nghiên cứu kinh doanh ña dạng dựa trên chế ñộ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong ñó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể giữ vai trò nền tảng”. Quyền sở hữu ñối với tài sản là quyền quan trọng ñược pháp luật bảo vệ. Vì vậy, ñề tài mà em chọn ñể nghiên cứu là các tội xâm phạm về sở hữu mà cụ thể là tội trộm cắp tài sản. 4. Phương pháp nghiên cứu ðề tài ñược trình bày với phương pháp là luận văn thu thập tài liệu phân tích và tổng hợp. 5. Cơ cấu của ñề tài ðề tài có cơ cấu gồm ba chương: - Chương 1: Khái quát chung về tội trộm cắp tài sản. - Chương 2: Tội trộm cắp tài sản theo quy ñịnh của luật hình sự Việt Nam. - Chương 3: Tình hình tội trộm cắp tài sản, những bất cập trong giải quyết vụ án trộm cắp tài sản và các giải pháp hoàn thiện. Song ñề tài chưa thật sự toàn diện, em chỉ hy vọng rằng ñề tài sẽ giúp bạn ñọc trong việc nghiên cứu, học tập, tuyên truyền phổ biến và tuân thủ pháp luật hình sự. Vậy rất mong sự ñóng góp ý kiến của thầy cô và bạn ñọc, ñể ñề tài của em ñược hoàn chỉnh hơn. SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 1 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm ñoạt tài sản ñang có người khác quản lý. Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác. Hai dấu hiệu cho phép phân biệt hành vi trộm cắp tài sản với các hành vi khác xâm phạm sở hữu là các dấu hiệu phản ánh ñặc ñiểm của hành vi chiếm ñoạt và ñặc ñiểm của ñối tượng bị chiếm ñoạt. - Hành vi chiếm ñoạt của tội trộm cắp tài sản có tính chất lén lút, có nghĩa: Hành vi chiếm ñoạt có ñặc ñiểm khách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút. Hành vi chiếm ñoạt ñược coi là lén lút nếu ñược thực hiện bằng hình thức mà hình thức ñó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm ñoạt khi hành vi này xảy ra. Ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm ñoạt người ñó có ý thức che giấu hành vi ñang thực hiện của mình. Việc che giấu này chỉ ñòi hỏi ñối với người có trách nhiệm với tài sản. Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản cũng có thể là lén lút, che giấu ñối với người khác. - ðối tượng của hành vi lén lút chiếm ñoạt của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản ñang có người quản lý. ðó là những tài sản ñang nằm trong sự chi phối về mặt Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu thực tế của người có trách nhiệm hoặc là tài sản ñang còn trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản. ðây là dấu hiệu cho phép phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Hành vi trộm cắp tài sản chỉ bị coi là tội phạm khi thỏa mãn ñiều kiện ñược quy ñịnh cụ thể trong luật, thể hiện hành vi ñó có tính nguy hiểm ñáng kể của tội phạm. Những ñiều kiện ñó hiện nay là: - Tài sản bị trộm cắp phải có giá trị từ năm trăm nghìn ñồng trở lên, hoặc - ðã gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc - Chủ thể ñã bị xử phạt hành chính hoặc ñã bị kết án về hành vi chiếm ñoạt mà còn vi phạm. Hình phạt ñược quy ñịnh cho tội trộm cắp có mức cao nhất là tù trung thân (PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa – Từ ñiển pháp luật hình sự - NXB Tư Pháp – 2006 – Trang 283-285). 1.2. ðặc ñiểm, nguyên nhân, ñiều kiện của tội trộm cắp tài sản 1.2.1. ðặc ñiểm của tội trộm cắp tài sản Về phương diện lý luận, tội “trộm cắp tài sản” là một loại tội phạm có dấu hiệu hành vi khách quan khá ñơn giản: “trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm ñoạt tài sản của người khác”. Tuy nhiên trong thực tiễn, hành vi trộm cắp tài sản, mà cụ thể là hành vi “lén lút” ñược diễn ra rất ña dạng, biến hóa, gây nhiều tranh cãi trong vấn ñề ñịnh tội danh giữa các nhà áp dụng luật. Vì vậy, ñặc ñiểm dễ nhận biết SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 2 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo nhất, nổi bật nhất của tội “trộm cắp tài sản”, phân tích và làm sáng tỏ những dấu hiệu này ñể khi nhìn vào, chúng ta có thể biết ngay ñó là tội “trộm cắp tài sản”. 1.2.1.1. Hành vi “lén lút” ðặc ñiểm riêng biệt có tính ñặc thù của tội “trộm cắp tài sản” là hành vi “lén lút”, không có việc lén lút thì không phải là trộm cắp. Nếu một hành vi chiếm ñoạt tài sản dưới sự chứng kiến của chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sản thì không thể coi ñó là hành vi trộm cắp mà hành vi trộm cắp phải ñược thực hiện một cách lén lút, cố giấu giếm, vụng trộm không ñể lộ ra do có ý gian ñối với chủ tài sản. Trong tội “trộm cắp tài sản”, hành vi “lén lút” chiếm ñoạt tài sản có ñầy ñủ những dấu hiệu này, thiếu một trong những dấu hiệu ñó sẽ không thể hiện ñược bản chất của sự “lén lút”, bởi nếu làm một việc quang minh thì không bao giờ phải lén lút. Nói cách khác, “lén lút” là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm bất minh, vụng trộm, giấu giếm không ñể lộ cho người khác biết, nhằm mục ñích chiếm ñoạt trái phép tài sản của họ. Tuy nhiên, nếu tất cả các hành vi “lén lút” của tội “trộm cắp tài sản” ñều ñược thực hiện một cách giấu giếm, vụng trộm, thì việc nhận biết chúng sẽ dễ dàng hơn và việc ñịnh tội danh cũng sẽ ñơn giản hơn. Nhưng thực tế hành vi “lén lút” có nhiều cách thể hiện. Có những hành vi lén lút ñược thực hiện một cách giấu giếm vụng trộm; nhưng cũng có những hành vi lén lút lại ñược thực hiện một cách công khai, trắng trợn không có ý che ñậy hay giấu giếm hành vi của người phạm tội. Sự công khai ở ñây có hai hình thức: - Công khai sự vi phạm pháp luật của hành vi: là trường hợp người phạm tội Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu chỉ thực hiện việc “lén lút” với chủ tài sản, còn những người xung quanh, người phạm tội không cần giấu giếm hay che ñậy hành vi vi phạm pháp luật của mình. - Công khai thực hiện hành vi, nhưng bản chất chiếm ñoạt của hành vi ñã ñược che ñậy: là trường hợp người phạm tội công khai thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bản chất tội phạm của hành vi ñã ñược che ñậy, ngụy trang bằng những thủ ñoạn khác nhau. Như vậy, hành vi “lén lút” không nhất thiết là việc làm mà không ai biết, nó có thể ñược thực hiện một cách giấu giếm, vụng trộm, nhưng cũng có thể ñược thực hiện một cách công khai, giữa nơi ñông người. Tuy nhiên việc giấu giếm hay công khai thì chúng ñều có một ñặc ñiểm chung là sự “lén lút” với chủ tài sản. Bởi nếu không “lén lút” với chủ tài sản thì hành vi của họ sẽ không còn là phạm tội “trộm cắp tài sản” nữa. 1.2.1.2. ðối tượng mà tội phạm hướng tới ñể thực hiện hành vi “lén lút” ðối tượng mà tội phạm hướng tới ñể thực hiện hành vi lén lút chiếm ñoạt tài sản mà ta cần làm rõ bao gồm: chủ sở hữu tài sản và người quản lý tài sản. SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo 1.2.1.3. Chủ sở hữu tài sản Theo pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản là người có ñầy ñủ ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền ñịnh ñoạt tài sản theo quy ñịnh của pháp luật. Có ñầy ñủ ba quyền này mới là chủ sở hữu hợp pháp ñối với tài sản và ñược pháp luật bảo vệ. Như vậy, với việc thực hiện ba quyền chiếm hữu, sử dụng và ñịnh ñoạt ñối với tài sản, thì chủ sở hữu tài sản là ñối tượng chủ yếu mà tội phạm hướng tới ñể thực hiện hành vi “lén lút”. 1.2.1.4. Người quản lý tài sản Người quản lý tài sản là người ñang nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản, nhưng lại không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền ñịnh ñoạt tài sản. ðể làm rõ vai trò, ý nghĩa của người quản lý tài sản trong việc xác ñịnh ñối tượng mà tội phạm hướng tới ñể thực hiện hành vi lén lút, ta có thể phân chia người quản lý tài sản theo những góc ñộ sau:  Xét về góc ñộ nắm giữ, kiểm soát tài sản: Có thể chia người quản lý tài sản thành hai dạng: trực tiếp và gián tiếp - Người quản lý tài sản trực tiếp: + Là những người ñược chủ sở hữu phân công quản lý tài sản, giao tài sản cho ñể quản lý, cho mượn, cho thuê, hoặc có ñược do kí kết các hợp ñồng giao dịch…và những tài sản này ñang trong vòng kiểm soát trực tiếp của người ñó. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu + Là trường hợp người quản lý tài sản giao tài sản cho người thứ ba ñể quản lý. + Là người sử dụng tài sản trong trường hợp không phải do chủ sở hữu giao, hay nói cách khác là chưa ñược sự ñồng ý của chủ tài sản. - Người quản lý tài sản gián tiếp: + Là người do tính chất công việc nên có trách nhiệm bảo vệ, trông coi, canh giữ tài sản nhưng không trực tiếp nắm giữ tài sản. + Là trường hợp người ñược giao nhiệm vụ quản lý những tài sản thuộc quyền sở hữu của các cơ quan, tổ chức Nhà nước ñược ñể ở những nơi công cộng ñể phục vụ sinh hoạt ñời sống, những công trình phúc lợi…  Xét về góc ñộ pháp lý: Chia thành hai trường hợp: người quản lý tài sản hợp pháp và người quản lý tài sản bất hợp pháp. - Người quản lý tài sản hợp pháp: là trường hợp người ñược chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản một cách hợp pháp. - Người quản lý tài sản bất hợp pháp: SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo + Người có ñược tài sản do phạm tội mà có + Người cố ý mua tài sản do người khác phạm tội mà có. + Người có ñược tài sản do hành vi gian dối, do vi phạm pháp luật nhưng chưa ñến mức là tội phạm hình sự.  Xét về góc ñộ sự kiện: Ta có thể chia thành hai trường hợp: người quản lý tài sản trong trường hợp bình thường và trong trường hợp ñặc biệt. - Người quản lý tài sản trong trường hợp bình thường: Là trường hợp người ñược giao quyền quản lý tài sản ñược diễn ra một cách hợp pháp, thuần túy và có sự ñồng ý của chủ sở hữu tài sản. - Người quản lý tài sản trong trường hợp ñặc biệt: ðây là vấn ñề phức tạp khi phân biệt ñối tượng mà người phạm tội hướng tới ñể thực hiện hành vi lén lút chiếm ñoạt tài sản. Xác ñịnh chính xác ñối tượng này, ta có thể làm rõ việc người phạm tội có thực hiện hành vi lén lút hay không, từ ñó cơ sở ñể ñịnh tội danh sẽ rõ ràng hơn, không bị lẫn lộn giữa tội “trộm cắp tài sản” với các tội khác có cùng tính chất chiếm ñoạt. Vậy dấu hiệu nào ñể phân biệt người quản lý tài sản trong trường hợp ñặc biệt với trường hợp bình thường? ðó chính là sự kiện làm phát sinh trách nhiệm quản lý tài sản của người ñó. Người này nếu không có một sự kiện nào ñó xảy ra thì họ không có trách nhiệm nghĩa vụ gì vớiliệu tài sản. vì và họ không phảicứu là Trung tâm Học liệu ĐHhay Cần Thơ @ñối Tài họcBởi tập nghiên chủ sở hữu tài sản, hay người quản lý tài sản nên không có trách nhiệm phải trông coi, quản lý tài sản. Còn có trường hợp họ không hề quen biết chủ tài sản hay người quản lý tài sản và thậm chí, người chủ tài sản còn không biết việc tài sản của mình ñang do người khác quản lý. Vậy tại sao chúng ta lại nghiên cứu vấn ñề này. Bởi vì, họ chính là một trong những ñối tượng mà tội phạm thường hướng tới ñể thực hiện hành vi “lén lút” và khi ta chưa xác ñịnh ñược rõ vai trò của họ trong loại tội này, thì sẽ còn nhiều vấn ñề cần tranh cãi khi ñịnh tội danh (http://ksob.bforum.biz/forum-f4/topic-ts4.htm - Tội trộm cắp tài sản). 1.2.2. Nguyên nhân, ñiều kiện của tội trộm cắp tài sản - Do nền kinh tế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó ñã dẫn ñến những thay ñổi lớn của xã hội, ñối tượng thất nghiệp gia tăng, nạn nghiện hút ngày càng lan rộng, trong khi ñó chúng ta lại chưa có những chính sách phù hợp ñể giải quyết tình trạng thất nghiệp, giải quyết tình trạng di dân tự do…Thất nghiệp và nghiện hút gia tăng là một trong những nguyên nhân dẫn số ñối tượng này vào con ñường trộm cắp tài sản. - Do bên bị hại có nhiều sơ hở, chủ quan tạo ñiều kiện cho số ñối tượng trộm cắp cơ hội ñể hoạt ñộng phạm tội. Hoặc do quá mải mê với việc làm ăn, họ không chú ý theo dõi trên các phương tiện thông tin ñại chúng ñã cảnh báo về các phương thức thủ ñoạn hoạt ñộng của bọn tội phạm trộm cắp tài sản. ðặc biệt, rất nhiều người bị mất tài sản nhưng không trình báo với cơ quan công an, vì vậy, cũng tạo cơ SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo sở cho bọn tội phạm có cơ hội di chuyển ñến các ñịa phương khác nhau tiếp tục hoạt ñộng phạm tội với cùng một thủ ñoạn. - Do lòng tham, ham muốn, ñua ñòi của một số người. Ví dụ: chỉ vì muốn có phương tiện ñi lại như bao người khác nhưng cuộc sống khó khăn không có tiền mua, mà Huỳnh H Kh ngụ tại ấp Phụng ðức A, xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre ñã thực hiện hành vi trộm cắp. Vào lúc 22 giờ Nguyễn Hùng Th ngụ tại thị trấn Mỹ An huyện Tháp Mười cùng nhóm bạn ñi nhậu tại một quán ở khu vực khóm 2, do bất cẩn nên Th không rút chìa khóa xe. Nghe tiếng ồn ào, Huỳnh H Kh ra xem và nhìn thấy chiếc xe của anh Th có ghim sẵn chìa khóa. Nảy sinh lòng tham Kh liền dẫn xe ra khỏi quán một ñoạn khoảng 200 mét chạy ñến ấp Mỹ Phú, xã Mỹ A. ðến 5 giờ sáng hôm sau, Kh vào nhà máy làm việc, sau ñó tìm kìm mở lấy biển số xe và chạy xuống nhà người thân ñể gửi. Trong lúc Kh và người em mang xe vào nhà thì có người nhìn thấy. Sau khi mất xe, anh Th ñến trình báo với công an, qua sàn lọc ñối tượng và sự hổ trợ tích cực của quần chúng nhân dân, công an thị trấn Mỹ An ñã nhanh chóng thu hồi tang vật trả lại tài sản cho anh Th và Kh thừa nhận hành vi phạm tội của mình. - Do công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác ñể phòng các thủ ñoạn của bọn tội phạm trộm cắp của các cơ quan chức năng chưa sâu rộng, chưa thực sự ñến ñược với ñại ña số quần chúng nhân dân. - Do hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, các dụng cụ có thể ñược sử dụng làm phương tiện trộm cắp: ñiện thoại di ñộng, kìm công lực, thang gấp, ñèn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu xì…cũng rất dễ kiếm. - Do công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan Công An có nhiều sơ hở. Nhiều ñối tượng trộm cắp chuyên nghiệp lợi dụng sự sơ hở này ñể di chuyển ñịa bàn hoạt ñộng, hay trà trộn vào các khu dân cư ñể ñể hoạt ñộng phạm tội, trốn tránh cơ quan pháp luật. - Do công tác ñấu tranh, ngăn chặn xử lý tội phạm trộm cắp tài sản của chúng ta vẫn chưa triệt ñể. Nhiều băng nhóm lưu manh chuyên trộm cắp vẫn chưa bị bóc gỡ. Nhiều ñối tượng có tiền án tiền sự bị bắt vào trại giam vẫn chưa ñược giáo dục tốt, vì vậy hết thời hạn tù lại tái phạm tội. ðặc biệt, chúng ta chưa xử lý nghiêm minh và triệt ñể những ñối tượng là kẻ tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có; những ñối tượng chứa chấp, bao che cho kẻ phạm tội. - Do sự khiếm khuyết của gia ñình là nguyên nhân cơ bản hình thành những nhân cách biến dạng, xuất hiện những hành vi lệch chuẩn với những chuẩn mực ñạo ñức, pháp luật và giá trị xã hội. Sự thờ ơ lạnh nhạt của xã hội và những người xung quanh cũng là một vấn ñề buộc chúng ta phải suy nghĩ. SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo Ví dụ: Trần Nhựt Thành sống cùng cha mẹ và sáu người em trên một chiếc ghe. Năm 1997 Thành và cha mẹ bị ñưa ra tòa lần ñầu tiên về tội trộm và lãnh án ba năm tù, cha Thành bốn năm, mẹ Thành hai năm nhưng ñược hưởng án treo vì còn phải nuôi ba ñứa em của Thành. Sau ñó cha Thành bị bệnh chết trong tù, còn mẹ Thành cũng thất lạc từ ñó Thành không biết nơi mình sinh ra cũng như ai là họ hàng. Thành cũng không có một người bạn thân nào ở ngoài ñời. Sau khi ra tù Thành ñã nhiều lần tái phạm. Nguyên nhân từ ñâu? Câu trả lời của Thành trước hội ñồng xét xử: “Bị cáo biết trộm cắp là cái xấu là phạm pháp nhưng thật sự là mỗi lần ra trại bị cáo không tìm ñược việc làm, bị cáo lại không có nơi nào ñể nương tựa, mà người lạ ñâu ai thuê mướn một người vừa ra tù mà lại tù về tội trộm cắp, không ai tin bị cáo cả. ðói quá nên bị cáo ñi dọc theo bờ sông, bờ kênh tìm những nhà vắng chủ vào lấy trộm gạo, bắt gà chủ yếu là ăn ñể sống”. Lời sau cùng ñau xót, lời nói sau cùng của Thành trước khi tòa nghị án cũng lạ vì bị cáo không xin tòa giảm nhẹ mà chỉ nói: “Tôi chỉ xin quý tòa xem xét sau khi tôi chấp hành xong bản án mới này, bản thân mong mỏi có một chổ làm thuê ñể có cái ăn, cái mặt, tránh xa con ñường phạm pháp”. Phiên tòa kết thúc, Thành ñã quay lại trại giam với mức án năm năm tù. Thế nhưng những lời khai của Thành tại phiên tòa khiến những người thực thi pháp luật cũng như những ai dự khán không khỏi băn khoăn, ái ngại cho những mảnh ñời lầm lỗi có hoàn cảnh tương tự như Thành. Rõ ràng có quá ít cơ hội cho họ hòa nhập cộng ñồng. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Mong mỏi có một chổ làm thuê là quá ñơn giản, nhưng lại rất khó thực hiện ñối với Thành. Hình như chúng ta chỉ mới quan tâm quản lý giáo dục phạm nhân khi họ còn trong trại giam. Còn sau khi họ ñược trả tự do thì việc theo dõi, giúp ñỡ, tạo ñiều kiện cho họ hòa nhập cộng ñồng bị buông lỏng. Lâu nay chỉ quy ñịnh chung chung là giao về ñịa phương quản lý giáo dục nhưng giao làm sao, quản lý như thế nào và cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm chính thì không rõ. Thực tế cho thấy nếu họ có một gia ñình tốt thì ñó sẽ là nơi quan trọng, là ñiểm tựa vững chắc ñể họ làm lại cuộc ñời. Còn với những người sống lang thang không nơi nương tựa, không có ñược mái ấm gia ñình thì con ñường hòa nhập cộng ñồng của họ thực sự quá khó khăn. 1.3. Phương thức, thủ ñoạn hoạt ñộng của tội trộm cắp tài sản Hành vi trộm cắp có thể ñược bọn tội phạm thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc như: ở bến xe, nhà ga, khách sạn, nhà trọ, trong chợ, ngoài ñường, trong các công ty xí nghiệp, trộm ñêm, trộm ngày, trộm cắp trên các phương tiện giao thông…, và bằng nhiều thủ ñoạn khác nhau nhưng hầu hết là bọn tội phạm trộm cắp lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận, lợi dụng hoặc SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo tạo ra hoàn cảnh khách quan như chen lấn, xô ñẩy nhằm tiếp cận tài sản rồi lén lút chiếm ñoạt tài sản mà người quản lý tài sản không biết. Một số thủ ñoạn phổ biến hiện nay của bọn trộm cắp tài sản: - Bọn tội phạm trộm cắp xe honda thường lợi dụng sơ hở của người dân như: ñi làm rẫy, làm ruộng, cạo mủ cao su…ñể xe xa nơi làm, khuất tầm nhìn, không ai trông coi, bảo quản; phục sẵn ở các nơi công cộng như: chợ, bưu ñiện, các quán ăn, giải khát…ñợi cho nạn nhân vừa ñi tới không gửi xe hoặc không khóa cẩn thận, bọn chúng nhanh tay dùng chìa khóa “vạn năng” tự chế mở công tắt ñiện xe tẩu thoát. Có những vụ bọn trộm ñi rảo trên ñường, khu dân cư, cơ quan xí nghiệp…phát hiện xe honda không có người trông coi thì ra tay trộm cắp ngay; thậm chí có vụ bọn trộm giả dạng công nhân, thợ ñiện…ñể vào các cơ quan xí nghiệp ñể thực hiện hành vi trộm cắp. - ðối với các vụ trộm tài sản vào ban ñêm, bọn tội phạm thường mang theo các dụng cụ cạy phá như: dao, kìm, tua vít, dây…ñể trèo tường, chui vào các lổ thông gió không có chắn sắt bảo vệ, các cửa sổ nhà cao tầng không ñóng khóa, cạy cửa sổ, cửa chính…ñột nhập vào nhà ñể trộm tài sản, nhất là vào mùa mưa, mùa bóng ñá, chủ nhà mệt mỏi, ngủ say. Có vụ bọn trộm còn lợi dụng các mối quan hệ là bạn bè lâu ngày gặp lại, giả dạng người bị mất hết tài sản, lỡ ñường, người tu hành, người ăn xin…ñể xin ngủ nhờ chờ cơ hội thuận lợi thì thực hiện hành vi trộm cắp. - Một thủ ñoạn phổ biến hiện nay là ñối tượng phạm tội giả dạng người ñi mua hàng, hành nghề mua bán ve chai, vé số dạo, tiếp thị…lợi dụng sơ hở lúc mua Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu bán ñông người, các khu dân cư nhà không khóa cửa, không có người lớn ở nhà…ñể trộm cắp tài sản sau ñó quay lại hoặc chỉ ñiểm cho ñồng bọn trộm cắp. - Trên các phương tiện giao thông: ñối tượng trộm cắp thường tiếp cận người có tài sản lợi dụng lúc xe chạy nhanh, thắng gấp ñể trộm cắp. Có vụ bọn chúng còn thuê mướn hoặc mua các xe ôtô ñể làm phương tiện gây án; câu kết giữa tài xế, phụ xe và ñồng bọn ngồi trên xe chờ sẵn. Có vụ bọn trộm cắp lợi dụng các xe chở hàng hóa lên dốc chạy chậm, không có ai trông coi ở phía sau trèo lên xe ñể trộm cắp hoặc lợi dụng các tài xế, chủ xe ñi ñường xa mệt mỏi dừng xe ngủ ở dọc ñường ñể ra tay trộm cắp. - Trong các cơ quan, xí nghiệp, công ty ñối tượng trộm cắp thường lợi dụng sơ hở ở các công trình ñang thi công, không có hàng rào bảo vệ ñể thực hiện, có vụ chúng còn xin vào làm công nhân thời vụ, phụ hồ trà trộn vào công trình ñể trộm cắp. ðối với các Cơ quan,Công ty, Xí nghiệp, Trường học chúng thường trộm cắp các sản phẩm, linh kiện…thường thì có sự móc nối giữa bảo vệ, công nhân và ñối tượng bên ngoài ñể thực hiện hành vi trộm cắp; tài sản trộm cắp ñược ra ngoài bằng nhiều hình thức như: dấu trong người, ñường rác thải… SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo - Tại các nơi tụ tập ñông người như chợ, siêu thị, tụ ñiểm ca nhạc…bọn trộm cắp lợi dụng chen lấn, xô ñẩy ñể móc ví, ñiện thoại di ñộng… - Ngoài ra còn một số thủ ñoạn trộm cắp khác như lợi dụng không người trông coi ñể trộm cắp hoa màu, cây trái ñối với các vùng nông thôn, trà trộn vào các ñám ñông của các buổi lễ hội, ca nhạc, bóng ñá, gây ra việc chen lấn, xô ñẩy… ñể ra tay gây án. (http://www.dongnai.gov.vn/ChuyenDeAnNinhTratTu/an_ninh_trat_tu/mlnews.200 8-01-09.7653291169). 1.4. Lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta ñã ñạt ñược nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước ñộc lập, tự chủ vững mạnh, ñể lại cho các thế hệ sau nhiều di sản quý báo về kinh nghiệm quản lý và ñiều hành ñất nước qua các bước thăng trầm của lịch sử dân tộc. Một trong những di sản quý báo ñó là thành quả to lớn, ñầy tính sáng tạo trong xây dựng nền pháp luật ñộc lập, tự chủ phù hợp với ñiều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai ñoạn lịch sử, trong ñó, những thành tựu và kinh nghiệm về pháp luật hình sự có vị trí trọng yếu. Với tư cách là công cụ có hiệu quả trong công cuộc bảo vệ và duy trì Nhà ñộcliệu lập, tự chủCần trướcThơ thế lực tiềm tàngtập của và bên nghiên ngoài và bảo Trung tâmnước Học ĐH @xâm Tàilượt liệu học cứu ñảm quản lý có hiệu quả của Nhà nước trong quá trình xây dựng ñất nước. Các Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm ban hành các quy ñịnh pháp luật hình sự ñặc biệt là quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản, thể hiện ñậm nét bản sắc dân tộc trong di sản văn hóa quý báo, ñã trải qua các triều ñại lịch sử sau: 1.4.1. Giai ñoạn từ nguồn gốc ñến nhà Trần Pháp luật thời kì này mang tinh thần bình ñẳng, dân chủ, công lý của thời xưa, cộng với phép tắc của tín ngưỡng cổ truyền, nhưng ñã thể hiện tính nghiêm khắc của một chính quyền tập trung, ñã hình thành pháp luật hình sự chưa thì chúng ta chưa có tài liệu nào khẳng ñịnh. Nhưng từ khi Âu Lạc rơi vào ách thống trị của phong kiến Trung Hoa ñến khi cuộc ñấu tranh giải phóng dân tộc do giai cấp phong kiến Việt Nam lãnh ñạo giành ñược thắng lợi. Trong thời kì này pháp luật của Trung Hoa phong kiến ñã ñược áp dụng tại Việt Nam gồm hai bộ luật chủ yếu là Bộ luật nhà Hán và Bộ luật nhà ðường. Tội trộm cắp tài sản ñược quy ñịnh trong Bộ luật nhà Hán ở chương thứ nhất, Bộ luật nhà ðường ở chương thứ bảy. Thời kì nhà Lý ñể củng cố quyền hành của mình ổn ñịnh tình hình xã hội, năm 1042, Lý Thái Tông sai Trung Thư Sảnh sửa ñịnh luật lệ, chia môn loại, biên ra ñiều, khoản lập ra hình thư. ðây là bộ luật thành văn ñầu tiên của nước ta. Nhưng rất tiếc là Bộ luật ñó hiện nay không còn nữa, nhưng theo lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo Chú, trong thời kì nhà Minh ñô hộ nước ta (1407-1427) họ ñã thu nhiều sách quý trong ñó có Bộ Hình Thư, pháp luật thời kỳ này quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản từng trường hợp cụ thể hơn “kẻ nào ăn trộm trâu của công thì bị xử 100 trượng, 1 con phạt thành 2 con”. “Kẻ nào ăn trộm lúa giống, ñồ vật, nếu lấy ñược rồi thì phạt 100 trượng, nếu chưa lấy ñược mà ñánh người thành thương, thì bị tội lưu”. ðến thời nhà Trần thì chế tài hình sự nghiêm khắc hơn nhiều so với thời kỳ nhà Lý. Tội ăn trộm thì phải chặt ngón chân tay hay là cho voi dầy chết (TS. Trần Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 – Trang 10). 1.4.2. Giai ñoạn từ thời kỳ nhà Hồ ñến thời kỳ nhà Lê sơ Triều ñại Lê Thánh Tông ñã cho ra ñời Quốc Triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng ðức nổi tiếng vào năm 1483 và Hồng ðức Thiện chính thư – một văn bản pháp luật có chứa ñựng một số quy phạm pháp luật hình sự gồm 6 quyển với 13 chương với 722 ðiều. Theo Bộ luật Hồng ðức, tội trộm cắp tài sản là tội phạm có tính chất và mức ñộ nguy hiểm cao trong các tội phạm xảy ra trong chế ñộ phong kiến. Người phạm tội trộm cắp tài sản trong một số trường hợp cụ thể bị ñe dọa áp dụng hình phạt cao nhất là tử hình và ñược thực hiện bằng hình thức chém ñầu (ðiều 430,Học 431, 433). Trung tâm liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Trong chương “ðạo tặc” của Bộ luật Hồng ðức, tội trộm cắp tài sản ñược quy ñịnh sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người như các tội mưu làm phản, tội mưu ñại nghịch, tội phản nước theo giặc, tội giết người, tội làm người bị thương, tội hiếp dâm. Như vậy, theo cách sắp xếp này tính chất và mức ñộ nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản chỉ thấp hơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người. Bộ luật Hồng ðức không có quy ñịnh chung về tội trộm cắp tài sản. Tội trộm cắp tài sản ñược quy ñịnh tại nhiều ñiều luật theo ñối tượng tác ñộng của tội phạm, theo chủ thể của tội phạm hoặc theo nhân thân người phạm tội và theo hoàn cảnh phạm tội. - Căn cứ theo ñối tượng tác ñộng của tội phạm có các tội trộm cắp tài sản sau ñây: Tội lấy trộm ấn, xe kiệu, ñồ ngự dụng của vua (ðiều 430), tội lấy trộm những ñồ thờ trong lăng, miếu (ðiều 431), tội lấy trộm những ñồ cúng thần, phật (ðiều 432), tội trộm phá tượng thần (ðiều 433), tội lấy trộm những ñồ trong cung (ðiều 434), tội lột lấy quần áo, ñồ vật của trẻ em, người ñiên, người say (ðiều 435), tội lấy trộm ñồ vật của sứ thần ngoại quốc (ðiều 438), tội ñào và lấy trộm ñồ vật nơi SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 10 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo mồ mả (ðiều 442), tội bắt trộm cá tại ñầm ao (ðiều 445), tội bắt trộm gà, lợn, lấy trộm lúa (ðiều 446) và tội lấy trộm văn tự cầm cố (ðiều 448). - Trong các tội trộm cắp tài sản trên ñây hành vi trộm cắp tài sản của vua có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao nhất, người phạm các tội này bị xử chém. ðối với các tội trộm cắp tài sản khác, người phạm tội chỉ bị phạt khổ sai hoặc lưu ñày. ðối tượng tác ñộng của tội trộm cắp tài sản theo Bộ luật Hồng ðức không chỉ là những ñồ vật nhất ñịnh, chúng có thể là quyền tài sản. Tài sản là ñối tượng tác ñộng trong các tội trộm cắp tài sản không nhất thiết phải có sự quản lý, trông coi, bảo vệ thường xuyên và có nơi cất giữ riêng. - Dựa vào chủ thể của tội phạm và nhân thân người phạm tội có các tội trộm cắp tài sản sau: tội ñầy tớ trộm cắp ñồ vật của chủ (ðiều 441), tội quân túc vệ, người hầu trong cung lấy tài sản của nhau (ðiều 434), tội người coi kho lấy tài sản trong kho (ðiều 437), tội những người thân thuộc lấy tài sản của nhau (ðiều 439), tội con cháu ít tuổi ñưa người ngoài về lấy tài sản của bậc tôn trưởng (ðiều 440), tội trộm cắp lần ñầu (ðiều 429). Theo quan niệm của luật hình sự hiện ñại thì tội trộm cắp tài sản là tội phạm có chủ thể thường. Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và ñạt ñộ tuổi luật ñịnh cũng có thể trở thành chủ thể của tội trộm cắp tài sản. Bộ luật Hồng ðức khi quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản chú ý ñặc biệt ñến mối quan hệ của người phạm tội và người bị hại, tùy theo tính chất của mối quan hệ này mà hình phạt ñối với người trộm cắp tài sản có thể ñược tăng lên hoặc giảm ñi so với trường hợp trộm Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu cắp tài sản thông thường. - Căn cứ vào hoàn cảnh phạm tội có các tội trộm cắp tài sản sau: tội trộm cắp ban ñêm (ðiều 439), tội trộm cắp vặt vào ban ngày (ðiều 429), và tội thừa cơ có trộm, cháy, lụt lấy tài sản người lâm nạn (ðiều 435). - Trong luật hình sự hiện ñại nếu người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khó khăn ñặc biệt của xã hội như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tại, dịch bệnh…ñể phạm tội thì trách nhiệm hình sự của người phạm tội bị tăng nặng. Theo ðiều 435 Bộ luật Hồng ðức, người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh thiên tại như lụt, cháy hoặc khi có trộm cướp xảy ra mà trộm cắp tài sản của người khác thì hình phạt của người phạm tội không bị tăng mà lại ñược giảm so với trường hợp thông thường. Ngoài các ñặc ñiểm chung của luật hình sự phong kiến Việt Nam như hình phạt có tính chất tàn khốc khi dựa vào ngũ hình, hình phạt ñược áp dụng không bình ñẳng ñối với người phạm tội có thân nhân khác nhau, quan lại hoặc họ hàng thân thích của nhà vua giảm hoặc miễn hình phạt…thì các quy ñịnh về hình phạt và biện SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 11 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo pháp tư pháp ñối với người phạm tội trộm cắp tài sản còn có một số ñặc ñiểm riêng sau:  Thứ nhất, hình phạt ñối với người phạm tội trộm cắp tài sản của nhà vua luôn là tử hình.  Thứ hai, bên cạnh các hình phạt chính trong ngũ hình, Bộ luật Hồng ðức còn quy ñịnh hình phạt bổ sung ñối với người phạm tội như tịch thu ñiền sản (ðiều 430, 431), tịch thu trang trại (ðiều 455).  Thứ ba, người phạm tội trộm cắp tài sản phải bồi thường thiệt hại cho người chủ sở hữu với các mức cụ thể khác nhau: một phần ba tang vật (ðiều 429) hoặc gấp ñôi (ðiều 435, 436).  Thứ tư, một số quy ñịnh có nội dung thể hiện sự nhân ñạo ñối với người phạm tội là phụ nữ như giảm hình phạt một bậc ñối với người phụ nữ phạm tội trộm cắp tài sản ở giai ñoạn phạm tội chưa ñạt (ðiều 450) hoặc phạm tội trộm cắp gà, lợn, lúa má (ðiều 440).  Thứ năm, Bộ luật quy ñịnh hình thức khen thưởng cho người tố giác hành vi chứa chấp người phạm tội trộm cắp tài sản trong các trang trại. Hình thức khen thưởng là một phần mười số ruộng ñất trang trại bị tịch thu. Qua Bộ luật Hồng ðức thì việc phạm tội ñã ñược xếp thành thứ bậc ñể dễ truy tìm, còn sắc lượt thì rất giản lượt mà phân minh. Thế cho nên vua Gia Long ñã nhấn mạnh trong lời tựa “Ta ra lệnh cho triều thần lấy luật lệ của các triều ñại nước ta làm căn bản, tham chiếu luật Hồng ðức biên tập thành bộ luật tiện dụng” (TS. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Trần Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 – Trang 26). 1.4.3. Giai ñoạn thời kỳ nhà Nguyễn Năm 1802, sau khi ñánh bại hoàn toàn lực lượng của triều ñại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu Gia Long, ñặt kinh ñô ở Phú Xuân. Về mặc lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng, sau khi lên ngôi Hoàng ñế, Gia Long giao cho Tiền quân Bắc thành tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757 - 1817) là Tổng tái soạn thảo Bộ luật có tên Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long). Bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước phong kiến và quyền sở hữu của thần dân là những vấn ñề ñược nhà Nguyễn quan tâm. Trong Hoàng Việt luật lệ, có nhiều quy ñịnh về các tội xâm phạm sở hữu như ðiều 226 – Ăn cắp ñồ vua dùng trong ñại tế thần, ðiều 228 – Ăn cắp ấn tín, ðiều 229 – Ăn cắp tài vật trong nội phủ, ðiều 231 – Ăn trộm quân khí, ðiều 240 – Ăn trộm lúa thóc ngoài ñồng. ðiều 238 – trộm cắp – Hoàng Việt luật lệ quy ñịnh: “Phàm ñã tiến hành trộm cắp nhưng không lấy ñược ñồ, phạt 50 roi, miễn xăm chữ. Trong trường hợp lấy ñược ñồ, không kể là chia tang vật hay không, ñem một chủ làm trọng, lấy tang vật ấy luận tội…Người SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 12 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo phạm ñầu, trên cánh tay mặt xăm hai chữ Ăn Trộm” (TS. Trần Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 – Trang 62). 1.4.4. Giai ñoạn sau cách mạng tháng tám ñến thống nhất ñất nước Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam kiểu mới ñược hình thành, ñánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Chỉ trong gần bốn tháng năm 1945 và năm 1946, Nhà nước ta ñã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, ñáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển lực lượng chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của cả nước. Bên cạnh hoạt ñộng ñấu tranh chống bọn thực dân Pháp cùng bọn tay sai phản ñộng Nhà nước ta còn hết sức chú trọng việc giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong kháng chiến. Các hành vi cướp bóc, nhũng nhiễu dân chúng trong khi có chiến sự ñều bị toàn án binh xử nặng như các tội gián ñiệp, phản quốc và có thể bị tuyên ñến án tử hình. Sắc lệnh số 73 – SL ngày 17/08/1947 và sắc lệnh số 12 – SL ngày 12/03/1949 quy ñịnh trừng trị rất nặng tội trộm cắp vặt, trộm cắp tài sản. 1.4.5. Giai ñoạn từ khi ñất nước thống nhất cho ñến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Trung tâm Học ĐHBộCần Thơsự@ Tài liệu tậpvàvà cứu Trong thờiliệu kỳ này luật hình năm 1985 ñã học kế thừa phátnghiên triển những thành tựu của luật hình sự Việt Nam. Nhất là từ cách mạng tháng tám, tổng kết kinh nghiệm ñấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian trước năm 1945 và dự báo ñược tình hình tội phạm trong thời gian tới tội trộm cắp ñược quy ñịnh một cách cụ thể, tính chất và mức ñộ nguy hiểm của tội phạm, các tinh tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự (TS. Trần Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 – Trang 121).. 1.4.6. Giai ñoạn từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra ñời cho ñến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ðiều 70 Hiến pháp năm 1980 quy ñịnh: “Công dân có quyền ñược pháp luật bảo vệ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm”. Như vậy, sở hữu của công dân về quyền tài sản là một trong những quyền cơ bản nhất ñược Hiến pháp quy ñịnh và ñược pháp luật bảo hộ. Bộ luật hình sự năm 1985 quy ñịnh các tội xâm phạm sở hữu của công dân trong ñó có tội trộm cắp tài sản là nhằm bảo vệ quyền sở hữu của công dân về mặt hình sự. Ngày nay, chúng ta ñang bước vào giao ñoạn ñẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước trong ñiều kiện phát triển kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa; chủ ñộng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh ñạo của SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 13 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo ðảng, ñã ñặt ra cho chúng ta nhiều thách thức mới trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và tìm hiểu lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam là một trong những việc làm cần thiết, nhằm góp phần kế thừa, phát huy có hiệu quả kinh nghiệm quý báo của cha ông ta (TS. Trần Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 – Trang 149). 1.5. Tội trộm cắp tài sản trong quy ñịnh của luật hình sự một số nước 1.5.1. Tội trộm cắp tài sản trong quy ñịnh của luật hình sự Nhật Bản ðiều 123 Bộ luật hình sự Nhật bản quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản: “người nào lấy cắp tài sản của người khác là phạm tội trộm cắp và bị phạt tù có lao ñộng bắt buộc ñến 10 năm.” 1.5.2. Tội trộm cắp tài sản tài sản trong quy ñịnh của luật hình sự Thụy ðiển ðiều 1 Bộ luật hình sự Thụy ðiển quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản: “người nào với mục ñích chiếm ñoạt, mà lấy ñi một cách trái pháp luật vật gì thuộc về người khác, nếu sự chiếm ñoạt ñó gây mất mát cho người khác thì bị phạt tù ñến 2 năm về tội trộm cắp tài sản của công dân”. ðiều 2 Bộ luật hình sự Thụy ðiển quy ñịnh tội nói tại ðiều 1 ñược cái là ít nghiêm trọng khi xét giá trị của tài sản bị trộm cắp và các tình tiết khác của tội Trung tâm Tàivềliệu họccắp tậptrong và nghiên phạm, thì Học bị phạtliệu tiền ĐH hoặc Cần phạt tùThơ ñến 6@ tháng tội trộm trường hợpcứu ít nghiêm trọng. ðiều 4 Bộ luật hình sự Thụy ðiển quy ñịnh: “phạm tội nói tại ðiều 1 trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 6 tháng ñến 6 năm.”  ðể ñánh giá tính chất nghiêm trọng của tội phạm, phải ñặc biệt xét xem liệu việc chiếm ñoạt tài sản có xảy ra sau khi người phạm tội ñột nhập vào nhà, người phạm tội có dự tính chiếm ñoạt một vật có ý nghĩa ñặc biệt thiêng liêng ñối với người khác; thủ phạm có sử dụng vũ khí, vật liệu nổ hay các chất tương tự; hành vi phạm tội có mang tính chất ñặc biệt nguy hiểm hoặc liều lĩnh, thủ phạm có mưu chiếm ñoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây mất mát hoặc thiệt hại nghiêm trọng hay không. Trong Bộ luật hình sự của Thụy ðiển, hệ thống hình phạt ñược quy ñịnh theo hướng thể hiện rõ nguyên tắt phân hóa trách nhiệm hình sự với các loại hình phạt có nội dung khác nhau phù hợp với việc giải quyết vấn ñề trách nhiệm hình sự trong những trường hợp riêng biệt. Các loại hình phạt này bao gồm: phạt tù, giáo dục tập trung người chưa thành niên phạm tội, án treo, phạt tiền, quản chế và chăm sóc trong ñiều kiện ñặc biệt. Trong hệ thống hình phạt này, hai loại hình phạt tước tự do của người bị kết án (phạt tù và giáo dục người chưa thành niên phạm tội) ñược áp dụng cho hai loại ñối tượng khác nhau: hình phạt tù áp dụng ñối với người ñã thành SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 14 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo niên phạm tội và hình phạt giáo dục tập trung người chưa thành niên phạm tội chỉ áp dụng ñối với người chưa thành niên phạm tội. Hai loại hình phạt này cũng là những hình phạt có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt. Kế tiếp về mức ñộ nghiêm khắc là hình phạt có ñiều kiện và quản chế. Hình phạt tiền ñược xếp vào vị trí ít nghiêm khắc hơn so với các loại hình phạt nói trên. Hình phạt tù ñược quy ñịnh tại chương 26 Bộ luật hình sự Thụy ðiển bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân. Trong ñó, hình phạt tù có thời hạn ñược quy ñịnh với mức tối thiểu là 14 ngày, tối ña là 10 năm (trong những trường hợp phạm tội thông thường). ðối với một số loại tội phạm mức tối ña của loại hình phạt này có thể ñến 14 năm. Trong trường hợp tái phạm hình phạt tối ña ñược áp dụng có thể ñến 18 năm. Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy ñiểm khác biệt rõ rệt trong quy ñịnh về mức tối thiểu và mức tối ña của hình phạt tù giam trong luật hình sự Thụy ðiển so với pháp luật hình sự Việt Nam. Mức tối thiểu của hình phạt tù giam ñược quy ñịnh trong pháp luật hình sự Thụy ðiển tương ñối thấp. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 15 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo CHƯƠNG 2 TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm ñoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. ðiều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 quy ñịnh về tội trộm cắp tài sản. 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn ñồng hoặc dưới năm trăm nghìn ñồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ñã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm ñoạt hoặc ñã bị kết án về tội chiếm ñoạt tài sản, chưa ñược xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị cải tạo không giam giữ ñến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng ñến ba năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau ñây, thì bị phạt tù từ hai năm ñến bảy năm: Trung a) Có tổ chức; tâm Học Cần Thơ b) Có tínhliệu chất ĐH chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; @ Tài liệu học tập và nghiên cứu d) Dùng thủ ñoạn xảo quyệt, nguy hiểm; e) Chiếm ñoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu ñồng ñến dưới hai trăm triệu ñồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng; 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau ñây, thì bị phạt tù từ bảy năm ñến dưới mười lăm năm: a) Chiếm ñoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu ñồng ñến dưới năm trăm triệu ñồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng; 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau ñây, thì bị phạt tù từ mười hai năm ñến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm ñoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu ñồng trở lên; b) Gây hậu quả ñặc biệt nghiêm trọng; 5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu ñồng ñến năm mươi triệu ñồng (Bộ luật hình sự năm 1995 – Trang 95). SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 16 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo 2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 2.2.1. Về mặt chủ thể của tội phạm ðối với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm cũng tương tự như ñối với tội xâm phạm sở hữu khác. Tuy nhiên, người phạm tội từ ñủ 14 tuổi ñến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy ñịnh tại khoản 1 và 2 ðiều 138 Bộ luật hình sự, vì khoản 1 ðiều 138 Bộ luật hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng và khoản 2 ðiều 138 Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng, mà theo quy ñịnh tại khoản 2 ðiều 12 Bộ luật hình sự thì người từ ñủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa ñủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội ñặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình ñiều tra, truy tố, xét xử ñối với người phạm tội công nhiên chiếm ñoạt tài sản cần chú ý ñến ñộ tuổi của người phạm tội và các tình tiết ñịnh khung hình phạt. Nếu người phạm tội thuộc trường hợp quy ñịnh tại khoản 3 và 4 ðiều 138 Bộ luật hình sự thì chỉ cần xác ñịnh người phạm tội ñủ 14 tuổi là ñã phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng nếu thuộc trường hợp quy ñịnh tại khoản 1 và khoản 2 ðiều 138 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải ñủ 14 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự (ThS. ðinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập II bình luậntâm chuyên sâu liệu – NXB Thành PhốThơ Hồ Chí Trang 197). Trung Học ĐH Cần @Minh Tài –liệu học tập và nghiên cứu 2.2.2. Về mặt khách thể của tội phạm Khách thể của tội trộm cắp tài sản cũng tương tự như tội có tính chất chiếm ñoạt khác, nhưng tội trộm cắp tài sản không xâm phạm ñến quan hệ sở hữu, ñây cũng là một ñiểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm ñoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, ñặc ñiểm này ñược thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản. ðiều luật không quy ñịnh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết ñịnh khung hình phạt, vì vậy nếu sau khi ñã ñạt ñược tài sản, người phạm tội bị ñuổi bắt mà có hành vi chống trả ñể tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (ThS. ðinh Văn Quế Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập II bình luận chuyên sâu – NXB Thành Phố Hồ Chí Minh – Trang 198). 2.2.3. Về mặt khách quan của tội phạm Do ñặc ñiểm của tội trộm cắp tài sản nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm ñoạt”, nhưng chiếm ñoạt bằng hình thức lén lút, với thủ ñoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 17 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như chen lấn, xô ñẩy, nhằm tiếp cận tài sản ñể thực hiện hành vi chiếm ñoạt mà người quản lý tài sản không biết. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta có thể chứng kiến rất nhiều hành vi trộm cắp như: trộm cắp ở bến tàu, bến xe, nhà ga, khách sạn, trong chợ, ngoài ñường, trộm ñêm trộm ngày, trộm trên các phương tiện giao thông…Ở ñâu, lúc nào cũng có thể xảy ra hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, không phải trường hợp phạm tội nào cũng giống nhau, thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều trường hợp dễ nhầm lẫn với các tội phạm khác, có khi chúng ta xác ñịnh hành vi ñó là trộm cắp, nhưng lại không phải, ngược lại có trường hợp xác ñịnh không phải là hành vi trộm cắp nhưng lại ñúng là trộm cắp. ðối với trường hợp này thường nhầm với tội công nhiên chiếm ñoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa ñảo chiếm ñoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản. ðể xác ñịnh hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta nghiên cứu một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất ñặc thù sau: - Người phạm tội dùng những thủ ñoạn gian dối tiếp cận tài sản ñể ñến khi có ñiều kiện sẽ lén lút chiếm ñoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. - Người phạm tội lợi dụng chổ ñông người, chen lấn, xô ñẩy ñể chiếm ñoạt tài sản của người khác. - Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản không có mặt ở nơi ñể tài sản hoặc tài sản không có người trực tiếp quản lý nên ñã chiếm ñoạt (ThS. ðinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập II bình luận Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu chuyên sâu – NXB Thành Phố Hồ Chí Minh – Trang 199). 2.2.4. Về mặt chủ quan của tội phạm Cũng như tội có tính chất chiếm ñoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng ñược phát hiện do cố ý. Mục ñích của người phạm tội là mong muốn chiếm ñược tài sản. Mục ñích chiếm ñoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm ñoạt tài sản. Vì vậy, có thể nói mục ñích chiếm ñoạt tài sản là dấu hiệu bắc buộc của cấu thành tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục ñích chiếm ñoạt, người phạm tội còn có thể có những mục ñích khác cùng với mục ñích chiếm ñoạt hoặc chấp nhận mục ñích chiếm ñoạt của người ñồng phạm khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, nếu mục ñích ñó không cấu thành một tội phạm ñộc lập (ThS. ðinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập II bình luận chuyên sâu – NXB Thành Phố Hồ Chí Minh – Trang 204). SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 18
- Xem thêm -