Tình hình sức khỏe của người dân trồng và chế biến thuốc lá ở xã lâu thượng, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên và các yếu tố liên quan

  • Số trang: 46 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Tác hại của hút thuốc lá đối với sức khỏe đã được chứng minh và đề cập trong nhiều nghiên cứu. Trước nay chúng ta đều biết hút thuốc lá ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe không chỉ của người hút mà còn của những người xung quanh (hút thuốc lá thụ động) [2],[3],[11]. Khói thuốc chứa nhiều thành phần hóa học có hại cho sức khỏe mà đặc biệt là chất nicotine có trong thuốc lá. Nicotine hấp thu vào cơ thể qua da, niêm mạc miệng hoặc mũi, hoặc được hít vào phổi, sau khi vào cơ thể, nicotine nhanh chóng( trong vòng 10 giây) được đưa lên não và gây nghiện [17]. Chính vì vậy mà không những người hút thuốc mà ngay cả người không hút thuốc, nếu tiếp xúc với khói thuốc(mà chính xác là chất nicotine có trong khói thuốc lá) thì cũng sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư, tim mạch, các bệnh phổi,v.v [4],[5],[17],[20],[22].[24]. Các công ty thường cho rằng trồng thuốc lá sẽ tạo ra nguồn thu nhập dồi dào cho người nông dân, cộng đồng và các quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, trong khi ngành công nghiệp thuốc lá không thể chứng minh được trồng thuốc lá tạo ra nguồn thu nhập dồi dào cho người trồng thuốc lá thì hậu quả về mặt sức khỏe và ảnh hưởng lớn đến môi trường do trồng thuốc lá gây nên đã được chứng minh qua các công trình nghiên cứu trên khắp thế giới. Nguy cơ đối với sức khỏe của những người trồng thuốc lá xảy ra trong toàn bộ quá trình trồng trọt thuốc lá, ngay từ khi bắt đầu gieo hạt cho đến khi thu hoạch [18]. Một số nghiên cứu đã chỉ ra tác động có hại của việc trồng và chế biến thuốc lá đối với sức khỏe của nông dân. Thường xuyên hái và tiếp xúc với cây thuốc lá khiến người nông dân có thể mắc bệnh thuốc lá xanh (GTS: Green tobaco sickness), là một dạng nhiễm độc do chất nicotine ngấm qua da tác động lên người nông dân trồng thuốc lá trong suốt quá trình từ khi trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Bệnh có các triệu chứng điển hình buồn nôn, nôn, mệt mỏi, choáng váng, thỉnh thoảng thay đổi đột ngột huyết áp và nhịp tim [18]. Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu để bảo vệ cây thuốc lá khỏi côn trùng và bệnh tật có thể gây cho 2 con người nhiều bệnh tật như ngộ độc, kích ứng da, mắt và các rối loạn tâm lý, tổn thương hệ thống hô hấp và thận [19]. Hiện nay tại Việt Nam, mặc dù số lượng các nghiên cứu về thuốc lá ở Việt Nam đang ngày càng tăng, nhưng những thông tin về tác hại của việc trồng thuốc lá đến sức khỏe người trồng thuốc lá còn rất thiếu. Năm 1996, bệnh nhiễm độc nicotin ở công nhân làm việc trong môi trường thuốc lá đã được công nhận là bệnh nghề nghiệp[16]. Tuy nhiên bệnh nhiễm độc nicotin ở người nông dân trồng thuốc lá lại chưa được chú ý đến. Chính vì lý do đó mà chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tình hình sức khỏe của người dân trồng và chế biến thuốc lá ở xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và các yếu tố liên quan”. Mục tiêu của đề tài: Mục tiêu chung: Mô tả tình hình sức khỏe của những người nông dân trồng thuốc lá ở xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên và các yếu tố liên quan. Mục tiêu cụ thể: 1.Mô tả tình hình sức khỏe, bệnh tật của người nông dân trồng thuốc lá tự báo cáo tại xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. 2.Phân tích mối liên quan giữa sức khỏe với các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và hành vi. 3 Chương I. TỔNG QAN TÀI LIỆU 1.1. Khái quát về cây thuốc lá Thuốc lá là một loại cây có tên nicotinana tabacum hay loại cây tương tự được phơi khô, dùng để hút, nhai, hay làm thuốc hít, có chứa nicotine, là một chất độc và gây nghiện mạnh, đặc biệt có hàm lượng cao trong các lá già. Nếu đưa vào cơ thể một lượng lớn chất nicotine có thể gây chết người[4],[9],[17]. Hoạt chất chủ yếu của thuốc lá hoặc thuốc lào là chất Nicotin, một loại Alcaloid. Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao người Pháp Nicot (1530 – 1600), người đầu tiên nhập thuốc lá vào Pháp [4]. Thuốc lá được tìm ra đầu tiên tại Châu Mỹ thế kỷ XV, đến thế kỷ XIX thuốc lá được phổ biến rộng rãi trên toàn cầu, mãi đến đầu thế kỷ XX con người mới phát hiện ra tác hại đối với sức khỏe của chất nicotine có trong thuốc lá.[8]. Hàm lượng Nicotin trong các loại thuốc này thay đổi từ 2 – 10%. Một số loại thuốc lào tốt có thể chứa đến 16% nicotin. Ở liều thấp nicotine có tác dụng tạo ra sự sảng khoái nhẹ nhàng, làm dịu cơn đói và bớt mệt mỏi. Nếu sử dụng kéo dài sẽ gây lệ thuộc và độc hại cho cơ thể, liều cao sẽ gây chết người như đã đề cập ở phần trên [4]. Cơ quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicôtin vào nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các chất ma tuý Heroin và Cocain [17] 1.2. Ảnh hưởng của thuốc lá đối với sức khỏe Hút thuốc lá làm ô nhiễm môi trường và làm hại sức khỏe không chỉ của người hút thuốc mà cả người không hút thuốc. Có hơn 4000 hóa chất độc hại chứa trong khói thuốc lá [30]. Có 3 kiểu khói thuốc: dòng khói chính, dòng khói phụ và khói thuốc môi trường. Dòng khói chính: là dòng khói do người hút thuốc hít vào. Đó là luồng khí đi qua gốc của điếu thuốc. Dòng khói phụ: là khói thuốc từ đầu điếu thuốc đang cháy toả ra vào không khí, nó không bao gồm phần khói thuốc do người hút thở ra. Khoảng 80% điếu thuốc là cháy bỏ đi. Khói thuốc môi trường: là hỗn hợp của dòng phói phụ và khói thở ra của dòng khói chính cũng như các chất tạp nhiễm khuếch tán qua giấy quấn thuốc lá và đầu điếu thuốc giữa các lần hút. Khói thuốc phụ có nhiều hỗn hợp gây ung thư mạnh hơn khói thuốc 4 chính: nồng độ monoxyt cacbon cao gấp 15 lần, nicotine gấp 21 lần, formandehyt gấp 50 lần, dimethylnitrosamin gấp 130 lần. Nguyên nhân là do khói thuốc phụ thường bị tạp nhiễm nhiều hơn khói thuốc chính. Dạng khói phụ còn nguy hiểm hơn khói chính vì cháy ở nhiệt độ cao không qua lọc. Vì vậy người không hút thuốc lá mà thường xuyên sống trong môi trường có khói thuốc cũng chịu ảnh hưởng tương tự những người hút thuốc. Tuy nhiên khói phụ được pha loãng bởi không khí nên mức độ ảnh hưởng đối với sức khỏe phụ thuộc vào thể tích không khí lớn hay nhỏ.[17],[ 26]. 1.2.1.Những nguy hại do hút thuốc lá Vai trò gây bệnh của hút thuốc đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở nước ta. Theo thống kê của WHO: hút thuốc lá là nguyên nhân thứ hai gây tử vong trên thế giới. Hiện tại, hút thuốc lá gây ra cái chết cho khoảng 5 triệu người mỗi năm. Nếu tình trạng hút thuốc lá tiếp tục tăng lên thì tính đến năm 2020, số người chết do thuốc lá sẽ lên tới 10 triệu người mỗi năm [29]. Hút 01 điếu thuốc tức là đã tự mình làm mất đi 5,5 phút cuộc sống. Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm.. Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong từ 30 đến 80%, chủ yếu là do các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, các bệnh tim mạch, v.v. Mức độ tăng nguy cơ phụ thuộc vào tuổi bắt đầu hút (hút thuốc càng sớm thì nguy cơ càng cao), số lượng thuốc hút trung bình và thời gian hút càng dài thì nguy cơ cũng càng lớn. [4.][17] 1.2.1.1. Các nguy cơ bệnh lý thường gặp khi hút thuốc lá chủ động. Hút thuốc và các bệnh ung thư Thuốc lá gây ra xấp xỉ 90 % tổng số người chết vì ung thư phổi và hút thuốc lá còn gây ra ung thư ở nhiều các phần khác như ung thư bộ phận thuộc đầu, mặt, cổ (họng, thanh quản, thực quản, vv.), tuyến tuỵ, tử cung, cổ tử cung, thận, bàng quang, ruột và trực tràng, v.v. Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi tăng theo số lượng thuốc hút, số năm hút và lứa tuổi bắt đầu hút thuốc lá càng sớm càng nguy hiểm [14], [22] 5 Hút thuốc và các bệnh hô hấp Hút thuốc lá gây phá hủy hoặc gây liệt hệ thống lông chuyển của phổi làm giảm chức năng phổi, là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Ngoài ra hút thuốc lá còn tạo điều kiện làm tình trạng của bệnh hen nặng hơn, dễ gây ra nhiễm khuẩn đường hô hấp (viêm phổi, cúm, viêm khí quản, v.v) Hút thuốc và bệnh tim mạch Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc các bệnh về tim, mạch cao hơn những người không hút thuốc đặc biệt là bệnh mạch vành. Ngoài ra hút thuốc ảnh hưởng gây tăng nhịp tim và huyết áp, gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, phình động mạch chủ, bệnh cơ tim, bệnh mạch máu ngoại vi [14]. Các ảnh hưởng khác của hút thuốc lá chủ động Các ảnh hưởng của thuốc lá lên chức năng sinh sản:trong quá trình mang thai, người mẹ hút thuốc lá sẽ làm giảm trọng lượng thai nhi trung bình khoảng 200g, sinh non, băng huyết sau sinh, dễ sẩy thai, gia tăng tần suất sinh ra thai bất thường bẩm sinh. Thời kỳ cho con bú, người mẹ hút thuốc thì nicotine được thải qua sữa có thể ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh [4]. Ảnh hưởng lên chức năng thần kinh:Các nghiên cứu mới đây còn chứng minh, hút thuốc lá làm giảm số lượng tế bào thần kinh trong não. 1.2.1.2. Nguy cơ của việc hút thuốc lá thụ động Những người không hút thuốc nhưng chung sống hay cùng làm việc với những người nghiện thuốc lá, đặc biệt là đối tượng trẻ con vẫn có nguy cơ bị bệnh rất cao do hít phải khói thuốc thụ động. Công nhân làm cho các nhà máy sản xuất thuốc lá, người nông dân trồng và chế biến thuốc lá cũng bị những nguy cơ tương tự. Mặc dù không nhìn thấy khói thuốc nữa, nhưng chất độc từ khói thuốc lá vẫn còn tồn tại khá lâu trong không khí, trong các đồ đạc, quần áo dụng cụ trong phòng hàng tuần thậm chí hàng tháng [25]. Trẻ em đặc biệt nhạy cảm với khói thuốc, do hệ hô hấp và hệ thống miễn dịch trong cơ thể phát triển chưa hoàn thiện. Hút thuốc lá thụ động ở trẻ em chủ yếu do hít phải khói thuốc của các thành viên trong gia đình. Và nguy hiểm là khác 6 với người lớn, họ có khả năng lựa chọn việc ở lại hay không ở lại môi trường có khói thuốc, trẻ em ít có khả năng lựa chọn hơn. Ở Việt Nam, 70% trẻ em dưới 10 tuổi phải sống chung với người hút thuốc. Trong nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội, hơn 50% trẻ em dưới 5 tuổi và 56% trẻ em ở tuổi đi học (5->14 tuổi) phơi nhiễm với thuốc lá thụ động [12]. Tại một nghiên cứu khác trên đối tượng học sinh lứa tuổi từ 13 đến 15 tại 5 tỉnh, Thành phố Việt Nam cho thấy tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc tại nhà là khá cao trên hầu hết các tỉnh. Cứ 10 học sinh thì có khoảng 6 em nói rằng có bị tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá tại nhà[2]. Năm 2006, BS Phan Thị Hải và TS Lý Ngọc Kính đã tiến hành nghiên cứu về tình hinh hút thuốc lá của sinh viên Y Khoa. Trong nhóm sinh viên Y khoa năm thứ 3 tại 6 trường Đại học Y khoa trên cả nước khi được phỏng vấn về tình trạng phơi nhiễm với khói thuốc thụ động, kết quả thu được là hơn 60% có phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà trong vòng 1 tuần trước khi được phỏng vấn [3]. Khói thuốc thụ động gây nên những bệnh đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em: - Các khối u não; - Bệnh bạch cầu; - Viêm đường hô hấp: Viêm phổi, viêm phế quản, có nguy cơ dẫn đến tử vong; - Chứng hen xuyễn với các cơn hen thường xuyên hơn; - Viêm tai giữa cấp tính hay mãn tính dẫn tới điếc; - Dễ dẫn tới đột tử trẻ sơ sinh (SIDS); - Gây kích thích ở mắt và họng, thở khò khè, ho và đau đầu; - Tác động tiêu cực đến hành vi ứng sử và khả năng học tập sau này [12], [28]. 1.2.1.3. Các chứng bệnh khác do hút thuốc lá gây ra: - Bệnh đường tiêu hóa : viêm Dạ dày Tá tràng, Loét Dạ dày Tá tràng - Bệnh lý về Tai – Mũi – Họng. - Những rối loạn về da: xuất hiện sớm các vết nhăn trên mặt, Nicotine làm da của các ngón tay cầm điếu thuốc trở nên màu vàng nâu.[4],[5]. 7 1.2.2 .Ảnh hưởng của trồng thuốc lá đối với sức khỏe Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng trồng và chế biến thuốc lá là nguyên nhân gây nhiều chấn thương và bệnh tật cho những người trồng thuốc lá. 1.2.3.1. Ảnh hưởng do tiếp xúc thuốc lá Những người tham gia vào trồng trọt và chế biến thuốc lá, đặc biệt là phụ nữ, sẽ có thể bị “ hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh” (GTS: Green Tobacco Sickness). Hội chứng này do chất nicotin từ cây thuốc lá ngấm vào da. Các triệu chứng thường gặp của GTS là hoa mắt, nhức đầu, buồn nôn và có thể bao gồm cả đau quặn bụng dưới, đau đầu, mệt mỏi, khó thở, đau bụng, tiêu chảy, hoặc thỉnh thoảng có thể xuất hiện những thay đổi bất thường về huyết áp hoặc nhịp tim. Hội chứng GTS thường không quá nghiêm trọng và có thể tự phục hồi trong hai đến ba ngày. Tuy nhiên, các triệu chứng nêu trên có thể diễn biến khá nghiêm trọng dẫn đến mất nước và cần được chăm sóc y tế khẩn cấp [18],[20],[24],[25]. GTS thường gặp do tiếp xúc với cây thuốc lá khi lá cây vẫn còn ướt. Chất nicotine trong cây thuốc lá sẽ trộn với nước có trên lá cây và thấm vào quần áo, sau đó sẽ theo da ngấm vào máu. Quần áo ẩm sẽ giữ nicotine tiếp xúc với da trong suốt cả ngày làm việc. GTS có thể biểu hiện ra ngay sau một vài giờ làm việc hoặc đến tận cuối ngày, thậm chí sau khi kết thúc công việc. Để phòng tránh được GTS, người nông dân có thể mặc quần áo mưa khi tiếp xúc với cây thuốc lá hoặc chờ đến khi lá cây khô hẳn mới đi làm để hạn chế sự xâm nhập của nicotine [25]. 1.2.3.2. Ảnh hưởng do sử dụng thuốc trừ sâu Cũng giống như các loại cây hoa màu, trong quá trình phát triển, cây thuốc lá hay bị sâu bệnh. Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu để bảo vệ cây thuốc lá khỏi côn trùng và bệnh tật có thể gây cho con người nhiều bệnh tật như ngộ độc, kích ứng da, mắt và các rối loạn tâm lý, tổn thương hệ thống hô hấp và thận [19]. 1.2.3.3. Ảnh hưởng của áp lực công việc 8 Trồng thuốc lá là một hoạt động nông nghiệp thâm canh, tốn rất nhiều thời gian, khác với việc trồng các cây nông nghiệp khác như lúa, ngô,v.v. Việc trồng thuốc lá cần huy động một lực lượng lao động lớn hơn các cây trồng nông nghiệp khác. Chính vì thế mà các hộ trồng thuốc lá đã tận dụng lao động là phụ nữ và trẻ em. Những đứa trẻ với độ tuổi trung bình 10 tuổi, thậm chí nhỏ tuổi hơn, đã tham gia vào trồng, chế biến thuốc lá ngoài việc học ở trường. Chúng có thể tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình trồng, chế biến thuốc lá. Như gieo hạt, làm cỏ, tưới nước, thu hoạch, lên sào, v.v. Phải mất bốn tháng cho việc trồng thuốc lá từ lúc gieo hạt tới lúc được thu hoạch và bán lá thuốc lá. Trong suốt thời gian đó, người phụ nữ đóng vai trò là nguồn lao động chính. Ngoài công việc nội trợ, nuôi dạy con cái, người phụ nữ còn phải tham gia tất cả các công việc trong trồng thuốc lá. Nam giới cũng tham gia vào trồng thuốc lá nhưng phụ nữ là người làm việc với tần suất nhiều hơn cả [23]. 1.3. Ảnh hưởng của thuốc lá đối với kinh tế gia đình và xã hội. - Ảnh hưởng kinh tế gia đình: người hút thuốc lá sẽ tiêu phí một khoảng tiền khá lớn để mua thuốc lá, làm ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình, đặc biệt ở những gia đình kinh tế khó khăn [7],[9],[10],[28]. Nếu tách chi tiêu cho thuốc lá khỏi tổng chi tiêu của hộ gia đình để đo lường mức sống của hộ thì sẽ có thêm 1.5% số hộ bị rơi xuống dưới ngưỡng nghèo. Ngược lại, nếu dùng chi tiêu cho thuốc lá để mua lương thực, thực phẩm cho gia đình thì 11.2% số hộ nghèo lương thực, thực phẩm( theo định nghĩa của Ngân Hàng Thế giới và tổng cục thống kê, ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam năm 1998 bằng 107 234 VND/tháng) sẽ thoát nghèo [7],[9],[10] . Mặt khác, hút thuốc lá sẽ gây ra những bệnh tật nguy hiểm như đã trình bày phần trên, chi phí để chăm sóc y tế cho chính bản thân người hút và người bị hút thuốc lá thụ động trong gia đình là rất lớn, có gia đình không thể chịu đựng nổi (chưa nói đến những bệnh nan y như ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…)[7]. 9 - Ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia: Dựa vào điều tra Y tế Quốc gia năm 2002, tỷ lệ hút thuốc của nam giới là 38,8%, số nam giới từ tuổi 15 trở lên là 31 triệu người [10], và việc chi cho thuốc lá trung bình mỗi người là 682.800 đồng/năm; ước tính tổng số tiền chi cho thuốc lá tại Việt Nam là 8.213 tỷ đồng/ năm [7]. Đất canh tác dùng cho sản xuất các loại cây lương thực bị thu hẹp lại, nhường chỗ cho cây thuốc lá vì có lợi nhuận cao hơn. Một lượng giấy khổng lồ phục vụ cho việc vấn các điếu thuốc lá, và các loại bao bì.Để phục vụ cho việc sấy lá thuốc, hàng năm khoảng 200 000 ha rừng bị phá hủy [26]. Rác rưởi do thuốc lá cũng ảnh hưởng xấu đến môi trường sống. Chi phí chăm sóc y tế cho những người dân hút thuốc lá và việc giảm ngày công lao động của họ là những tổn thất rất lớn cho một quốc gia có nhiều người nghiện thuốc lá. Ngoài ra thuốc lá còn có nguy cơ gây ra những vụ hoả hoạn dữ dội và những vụ cháy rừng tàn phá tài nguyên quốc gia [4]. 1.4. Tình hình nghiên cứu về sức khỏe người dân trồng thuốc lá. 1.4.1. Nghiên cứu về sức khỏe người dân trồng thuốc lá trên thế giới Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng trồng và chế biến thuốc lá là nguyên nhân nhiều chấn thương và bệnh tật cho những người trồng thuốc lá. Những người tham gia vào trồng trọt và chế biến thuốc lá, trong đó phụ nữ là đối tượng có nguy cơ cao hơn nam giới, có thể bị GTS (Ballard T và cộng sự,1995, Arcury TA và cộng sự, 2003) [18],[27]. Sử dụng thuốc trừ sâu và hóa chất để để bảo vệ cây thuốc lá khỏi sâu, bệnh có thể gây ra cho con người những bệnh tật như ngộ độc, kích ứng da, mắt và các rối loạn tâm lý, tổn thương hệ thống hô hấp và thận (Cox C năm 1995) [19]. Schmitt NL, Schmitt J, Kouimintzis DJ, Kirch W, năm 2007 đã tiến hành nghiên cứu về tỷ lệ mới mắc GTS ở những người thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá (tỷ lệ này là 2 trường hợp trong 100 ngày- người); những người trồng thuốc lá không hút thuốc có nguy cơ mắc GTS cao gấp 17 lần (tỷ suất chênh OR=17) những người trồng thuốc lá có hút thuốc [29]. Nghiên cứu của Chloros D và cộng sự năm 2004 cho thấy công nhân trồng thuốc lá có nguy cơ mắc các chứng rối loạn đường hô hấp trên (ví dụ như hoạt động bất thường của mũi) cao 10 hơn so với những người khác [21]. Một số yếu tố khác về môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết ẩm cũng được chứng minh có mối liên quan chặt chẽ với các vấn đề sức khỏe của nông dân trồng thuốc lá (Schmitt NL và cộng sự, 2007) [29]. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe có liên quan đến trồng thuốc lá đều thực thực hiện tại Mỹ. Hiện tại, trong khi số lượng người tham gia trồng trọt và chế biến thuốc lá ở các nước đang phát triển ngày càng tăng lên thì số liệu về các vấn đề sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá ở các nước này còn rất thiếu [24]. 1.4.2. Nghiên cứu về sức khỏe người dân trồng thuốc lá tại Việt Nam. Tại Việt Nam, hiện tại đã có một số nghiên cứu về tác hại của thuốc lá và ảnh hưởng của nó đến tình trạng kinh tế của người hút thuốc lá. Tuy nhiên các nghiên cứu về trồng thuốc lá vẫn còn hạn chế. Vũ Xuân Phú và cộng sự 2005, đã tiến hành nghiên cứu “Chi phí cho ba bệnh liên quan đến thuốc lá - Nghiên cứu chính sách phòng chống tác hại thuốc lá tại Việt Nam” và đã chứng minh được 3 bệnh thường gặp do thuốc lá là ung thư phổi, các bệnh không ung thư và bệnh tắc nghẽn đường hô hấp mãn tính gây ra tốn kém cho xã hội khoảng 804 tỷ đồng (khoảng 50 triệu đô la Mỹ), chiếm khoảng 0,11% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hay 18% kinh phí chính phủ dành cho y tế và 19% kinh phí do các công ty thuốc lá đóng góp cho nhà nước [11]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thạc Minh và cộng sự 2002 thì thuốc lá là nguyên nhân làm nhiều hộ gia đình bị rơi vào đói nghèo. Tiêu dùng thuốc lá không chỉ gây nên nghèo đói mà còn làm tăng khoảng cách của bất bình đẳng, tăng khoảng cách giàu nghèo [7]. Năm 2007, Hoàng Văn Minh và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh về tình hình sức khỏe cũng như thu nhập của những người dân trồng thuốc lá và những người dân không trồng thuốc lá tại một vùng nông thôn Việt nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi ích kinh tế mà người nông dân thu được từ trồng trọt thuốc lá là rất nhỏ và những người nông dân trồng thuốc lá có xu hướng có nhiều vấn đề sức khỏe ốm đau, bệnh tật hơn so với những người 11 nông dân không trồng thuốc lá[8]. Tại Việt Nam, kiểm soát thuốc lá đã và đang nhận được nhiều quan tâm của Chính phủ và cộng đồng. Nghị định Số 77/2002/QĐ-TTg của Chính phủ phê chuẩn chương trình phòng chống và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002–2010, nghị quyết Chính phủ 12/2000/NQ-CP về chính sách kiểm soát thuốc lá quốc gia 2000 – 2010 đã thể hiện được sự quan tâm của Chính phủ trong vấn đề kiểm soát thuốc lá. Việt Nam cũng đã ký kết công ước khung về kiểm soát thuốc lá ngày 8 tháng 8 năm 2003 và phê chuẩn công ước khung về kiểm soát thuốc lá ngày 17 tháng 12 năm 2004. Hoàng Văn Kình và cộng sự, 2004 đã tiến hành một nghiên cứu về ảnh hưởng của các chính sách công với việc giảm hút thuốc lá và tử vong do hút thuốc lá trong đó nhóm nghiên cứu đã lập mô hình ảnh hưởng của các can thiệp liên quan đến giá cả(các loại thuế), các quy định liên quan đến nơi không hút thuốc, các chính sách liên quan đến thông tin đại chúng, cấm quảng cáo, lời cảnh báo sức khỏe và chiến lược giảm sự tiếp cận của thanh thiếu niên với thuốc lá. Mô hình toàn diện giả thiết là tăng 100% với thuế thuốc lá; quy định và thực hiện mạnh mẽ việc cấm hút thuốc nơi làm việc, nhà hàng, quán rượu; chiến dịch thông tin đại chúng mạnh; thực hiện tốt quy định cấm quảng cáo dưới mọi hình thức; lời cảnh báo sức khỏe mạnh; ngăn ngừa vị thành niên tiếp cận với thuốc lá. Trong những năm đầu thực hiện chính sách phòng chống tác hại thuốc lá toàn diện, tỷ lệ hút thuốc của nam giảm 29.6% tỷ lệ hút thuốc của nữ giảm 22.4% (vào khoảng năm 2013) và tiếp tục giảm 38,5% và 31,8% (vào năm 2033) so với tỷ lệ hút nếu điều kiện chính sách bình thường như năm 2002[1]. Hiện nay tại Việt Nam, mặc dù số lượng các nghiên cứu về thuốc lá ở Việt Nam đang ngày càng tăng, nhưng những thông tin về tác hại của việc trồng thuốc lá đến sức khỏe người trồng thuốc lá còn rất thiếu. Nhằm thúc đẩy sự ra đời và tăng cường việc thực hiện các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt nam, các thông tin đáng tin cậy về ảnh hưởng của trồng trọt và chế biến thuốc lá đối sức khỏe và kinh tế của những người trồng thuốc lá đang là một nhu cầu bức thiết đối với các nhà hoạch định chính sách, những cán bộ làm công tác tuyên truyền giáo 12 dục sức khỏe, cũng như cho toàn xã hội nói chung. Để cung cấp những bằng chứng khoa học về các vấn đề sức khỏe, chi phí y tế và quan niệm về sức khỏe có liên quan đến trồng trọt và chế biến thuốc lá của người nông dân vùng nông thôn Việt Nam, việc áp dụng thiết kế nghiên cứu thuần tập và phương pháp nghiên cứu định tính để dưa ra những bằng chứng khoa học thuyết phục là hết sức cần thiết. 13 Chương II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Địa điểm Nghiên cứu được tiến hành tại xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Võ Nhai là một huyện nông thôn nằm ở phía Bắc, Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Huyện có 14 xã và một thị trấn. Dân số của huyện Võ Nhai khoảng 63.000 người. Địa hình của Võ Nhai chủ yếu là vùng đồi núi và cao nguyên với diện tích 84.510,4 ha. Võ Nhai có khoảng 29.703 lao động nông nghiệp, chiếm 47,43% dân số. 6 trong tổng số 16 xã (38%) của Huyện Võ Nhai trồng thuốc lá, luân canh với lúa và các loại ngũ cốc khác như ngô, sắn,vv. Xã Lâu Thượng thuộc huyện Võ nhai sẽ được lựa chọn vào nghiên cứu. 2.2. Đối tượng nghiên cứu Người nông dân trồng thuốc lá tại xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. 2.3. Thời gian nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2010 đến tháng 06/2010 2.4. Phương pháp nghiên cứu 2.4.1 Thiết kế nghiên cứu - Nghiên cứu mô tả cắt ngang; - Phỏng vấn đối tượng dựa vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. 2.4.2 Cỡ mẫu, cách chọn mẫu - Cỡ mẫu được tính theo công thức: n: là cỡ mẫu nghiên cứu; n=Z²(1-α/2) 1- p p: tỷ lệ ốm trong 1 tháng theo nghiên cứu trước ε² p ở nông dân trồng thuốc lá; ε: tỷ lệ so với p (được quy ước bởi người nghiên cứu); Z(1-α/2)= Zα/2: giá trị Z thu được từ bảng Z + Với α= 0,05 thì Zα/2= 1,96; + Với p= 0,2; ε= 0,2; α= 0,05  cỡ mẫu n= 385 người - Cách chọn mẫu: Mẫu được chọn chủ đích. 14 + Chọn chủ đích xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; + Chia tỷ lệ số dân theo từng thôn trong xã; + Lấy tỷ lệ thu được nhân với cỡ mẫu thì được số dân cần lấy trong từng thôn; + Trong từng thôn, chọn lần lượt những hộ gia đình có diện tích trồng thuốc lá từ cao xuống thấp. Để mô tả và phân tích các chỉ số nghiên cứu theo giới và theo các nhóm đặc trưng khác nhau về dân số, kinh tế, xã hội nên cỡ mẫu được tăng lên gấp đôi: n= 385 x 2 =770 (người) Tính đến trường hợp từ chối phỏng vấn nên dự kiến tăng cỡ mẫu lên 5%. Do đó cỡ mẫu là 809 người => với cỡ hộ gia đình trung bình là 4 người/hộ => số hộ cần lấy là 200 hộ, và tiến hành phỏng vấn tất cả các thành viên trong hộ gia đình. - Cơ sở lựa chọn đối tượng: tất cả các thành viên trong hộ gia đình có trồng, chế biến thuốc lá tại xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Cơ sở loại trừ đối tượng: + Những đối tượng từ chối phỏng vấn; + Đối tượng là người già, trẻ em không có khả năng trả lời sẽ hỏi người biết nhiều thông tin nhất trong hộ gia đình đó để trả lời thay. + Đối tượng mất khả năng giao tiếp (như khiếm thính, câm, tâm thần v.v.) 2.4.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu - Biến số: + Nhóm biến số thông tin chung: tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế. + Nhóm biến số về sức khỏe:  Tình hình mắc các triệu chứng bệnh trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.  Ngày không làm việc được trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.  Tình hình mắc bệnh mạn tính trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.  Tình trạng sức khỏe do người dân tự đánh giá trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn. Comment [N1]: Lần trước em hỏi chị Trang về cách chọn mẫu, chị Trang bảo lấy hộ trồng thuốc lá từ nhiều đến ít nhưng cố Tài hỏi có thể lấy danh sách này không. Em muốn hỏi lại cô về cách chọn mẫu 15  Chất lượng cuộc sống do người dân tự đánh giá trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn. + Nhóm biến số hành vi:  Thời gian trồng, chế biến thuốc lá trong tháng trước.  Sử dụng thuốc sâu, hóa chất bảo vệ thực vật, hoặc thuốc kích thích tăng trưởng trong tháng trước.  Sử dụng bảo hộ lao động trong quá trình trồng trọt trong tháng trước.  Tình hình sử dụng thuốc lá .  Tình hình sử dụng rượu bia - Chỉ số: + Thông tin chung:  Tỷ lệ người nông dân theo từng nhóm tuổi (0-15; 16-24; 25-44; 45-60; >60)  Tỷ lệ người nông dân theo 2 giới nam và nữ.  Tỷ lệ người nông dân theo dân tộc: kinh, khác.  Tỷ lệ người nông dân theo trình độ học vấn: không đi học; chưa tốt nghiệp tiểu học; tốt nghiệp cấp I; tốt nghiệp cấp II; tốt nghiệp cấp III; tốt nghiệp trung cấp; tốt nghiệp cao đẳng, đại học; trình độ sau đại học.  Tỷ lệ người nông dân theo nghề nghiệp:nông dân; cán bộ(cán bộ nhà nước,cán bộ nghỉ hưu); buôn bán; làm thuê( thợ mộc, thợ xây, thợ thủ công khác); học sinh,sinh viên; công nhân; khác(ghi rõ)  Tỷ lệ hộ gia đình có các tài sản: xe máy; ti vi; đầu đĩa(VCD/DVD); tủ lạnh; máy phục vụ sản xuất; khác.  Tỷ lệ hộ gia đình sống trong các kiểu nhà: nhà ngói cấp 4; nhà trần 1 tầng; nhà gác( hơn 1 tầng); nhà gỗ tạm; nhà gỗ kiên cố; khác.  Tỷ lệ hộ gia đình tự đánh giá tình trạng kinh tế theo các mức độ: giàu; khá; trung bình; nghèo.  Tỷ lệ hộ gia đình theo tình trạng kinh tế được đánh giá bởi địa phương. + Mục tiêu 1: 16  Tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng của người dân trồng thuốc lá trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.  Số ngày trung bình người nông dân phải nghỉ việc vì ốm trong tháng trước.  Tỷ lệ hiện mắc các bệnh mạn tính theo báo cáo của người dân.  Tỷ lệ người dân tự đánh giá có các tình trạng sức khỏe khác nhau trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.  Tỷ lệ người dân tự đánh giá về chất lượng cuộc sống ở các mức độ khác nhau trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn. + Mục tiêu 2:  Số trung bình các triệu chứng cấp tính người dân mắc phải theo các đặc điểm: tuổi, giới kinh tế, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hành vi( trồng, chế biến thuốc lá; sử dụng thuốc sâu, HCBVTV, chất kích thích tăng trưởng; sủ dụng bảo hộ lao động; hút thuốc lá; uống rượu bia)  Tỷ lệ người dân mắc bệnh mạn tính phân theo các đặc điểm: tuổi, giới, kinh tế, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hành vi( trồng, chế biến thuốc lá; sử dụng thuốc sâu, HCBVTV, chất kích thích tăng trưởng; sủ dụng bảo hộ lao động; hút thuốc lá; uống rượu bia).  Tỷ suất chênh hiệu chỉnh mắc bệnh mãn tính theo các nhóm đặc trưng dân số, kinh tế, văn hoá, xã hội 2.4.4. Xử lý số liệu - Làm sạch số liệu: số liệu sau khi được thu thập, được kiểm tra ngay dưới địa bàn nghiên cứu, nếu còn thiếu số liệu sẽ được thu thập bổ sung và làm rõ những số liệu còn nghi ngờ. - Nhập số liệu: số liệu được nhập bằng phần mền Epidata 3.0. - Phân tích số liệu bằng phần mền Stata 10. 17 2.4.5. Sai số, cách khắc phục - Sai số: + Sai số nhớ lại của đối tượng trả lời phỏng vấn: tương tự như trên + Sai số do đối tượng từ chối phỏng vấn - Cách khắc phục: + Tập huấn kỹ cho điều tra viên trước khi tiến hành nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn thử giữa các điều tra viên. + Trong quá trình chọn mẫu, lấy tăng số đối tượng so với công thức tính mẫu. 2.5. Đạo đức trong nghiên cứu - Giải thích rõ cho đối tượng về nội dung và mục đích nghiên cứu để đối tượng tự quyết định tham gia nghiên cứu; - Nghiên cứu chỉ tiến hành trên đối tượng tình nguyện tham gia nghiên cứu; - Những thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và đảm bảo bí mật thông tin mà đối tượng đã cung cấp. 18 Chương III. KẾT QUẢ Nghiên cứu của chúng tôi dự kiến tiến hành trên 200 hộ gia đình với số đối tượng dự kiến 809 đối tượng. Trên thực tế tiến hành nghiên cứu, chúng tôi điều tra được 200 hộ gia đình với tổng số đối tượng 775. Với số mẫu này vẫn đảm bảo kết quả nghiên cứu. 3.1. Một số thông tin chung về dân số, kinh tế xã hội và hành vi của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm dân số, kinh tế, văn hóa và xã hội của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.1.1: Các đặc điểm dân số, kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Biến số Tuổi 0- 15 tuổi 16- 24 tuổi 25- 44 tuổi 45- 60 tuổi >60 tuổi Giới Nam Nữ Dân tộc Kinh Nùng Khác Học vấn Dưới 16 tuổi Không đi học, chưa tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp cấp I Tốt nghiệp cấp II Tốt nghiệp cấp III, sau cấp III Nghề nghiệp Nông dân chính 12 tháng Học sinh, sinh viên, còn nhỏ qua Khác. Kinh tế hộ gia Khá đình Trung bình Cận nghèo, nghèo N 187 109 265 158 56 383 388 225 506 40 187 61 138 290 99 509 211 55 54 515 206 Tỷ lệ % 24,1 14,1 34,2 20,4 7,2 49,7 50,3 29,2 65,6 5,2 24,1 7,9 17,8 37,4 12,8 65,7 27,2 7,1 6,9 66,5 26,6 19 Nhận xét: Đặc điểm dân số, kinh tế, văn hóa, xã hội của đối tượng nghiên cứu có một số nét đặc trưng sau: Đối tượng nghiên cứu trong độ từ 16 tuổi đến 44 tuổi chiếm 48,3%. Dân tộc Nùng chiếm đa số (65,6%), tiếp đến là dân tộc kinh, chiếm 29,2%. Đa số đối tượng nghiên cứu có nghề chính là làm nghề nông nghiệp, chiếm 65,7%. Tỷ lệ người dân tốt nghiệp cấp III và sau cấp III chiếm 12,8%, có tới hơn 20% đối tượng nghiên cứu không đi học hoặc chưa tốt nghiệp tiểu học. Về kinh tế hộ gia đình, theo người dân tự đánh giá, 66,5% số hộ gia đình có kinh tế trung bình. Comment [N2]: Vì đối tượng đã tốt nghiệp cấp III và sau cấp III nên không chứa đối tượng dưới 16 tuổi 20 Một số đặc điểm về hành vi Bảng 3.1.2: Phân bố đối tượng làm nghề nông nghiệp theo giới và mức độ trồng thuốc lá của hộ gia đình Mức độ trồng thuốc lá Nam Nữ Chung Tần số Nhiều (>10 sào) Trung bình (6-10 sào) Ít (<6 sào) % Tần số % Tần số Comment [N3]: Em nghĩ không cần phân theo giới vì không so sánh diện tích trồng thuốc lá giữa 2 giói. Cô thấy có được không ạ? % 45 17,2 53 21,4 98 19,3 166 63,6 147 59,3 313 61,5 50 17,2 48 19,4 98 19,3 Nhận xét: Tỷ lệ người dân trồng thuốc lá với diện tích trung bình( 6 – 10 sào) chiếm đa số(65,1%) Bảng 3.1.3: Sự tham gia trồng và chế biến thuốc lá của người dân theo nhóm tuổi Nhóm tuổi Comment [N4]: Em muốn đưa bảng này vào để thấy sự ảnh hưởng của trồng thuốc lá lên các nhóm tuổi. Cô thấy có được không ạ? Trồng thuốc lá Không tham gia Có tham gia Tổng 0-15 114 61.0 73 39.0 187 100 16-24 14 12.8 95 87.2 109 100 25-44 3 1.1 262 98.9 265 100 45-60 14 8.9 144 91.1 158 100 >60 45 80.4 11 19.6 56 100 190 24.5 585 75.5 775 100 Tổng Nhận xét: Quá trình trồng và chế biến thuốc lá có sự tham gia khá đông người già(19.6% số người >60 tuổi) và trẻ em(39% số trẻ em từ 15 tuổi trở xuống)
- Xem thêm -