Tình hình nhập khẩu thép phế liệu và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu của công ty công nghiệp tàu thuỷ ngô quyền 5

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Tình hình nhập khẩu thép phế liệu và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền Kết cấu của bài viết gồm có 2 chơng: Chơng I. Thực trạng nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền Chơng II. Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu của Công ty. Mặc dù bài viết chỉ đề cập tới tình hình riêng của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu, nhng em cũng hy vọng độc giả qua bài viết này có thể hiểu thêm phần nào về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu nói chung của thị trờng Việt Nam và từ đó có đợc sự quan tâm hơn nữa đối với vấn đề này. Hoàn thành đợc bài báo thu hoạch này, em đã nhận đợc sự hớng dẫn và giúp đỡ tận tình, đầy trách nhiệm của Thạc sỹ Phạm Thị Mai Khanh và các anh, chị phòng kinh doanh tổng hợp cùng những cán bộ Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền. Nhng vì thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, tài liệu tham khảo còn hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp chân thành của các thầy, cô giáo và các độc giả để giúp em hoàn thiện bài viết này. CHƠNG I: THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU CỦA CÔNG TY CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY NGÔ QUYỀN I.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CÔNG NGHIỆP TÀU THUỶ NGÔ QUYỀN 1/Sự hình thành và phát triển của Công ty Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền là đơn vị kinh doanh hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (một trong 17 Tổng Công ty lớn nhất của Nhà nớc) đợc thành lập theo quyết định số 69/TTg do Thủ tớng chính phủ ký và ban hành ngày 31/01/1996, trên cơ sở tổ chức lại ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam). Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Viet Nam Shipbuilding Industry Corporation Vinashin) đợc thành lập theo quyết định số 69/TTg do Thủ tớng chính phủ ký và ban hành ngày 31/01/1996, trên cơ sở tổ chức lại ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam. Vinashin hiện có 40 đơn vị thành viên, gồm: 29 đơn vị hạch toán độc lập, 7 đơn vị hạch toán phụ thuộc và 4 đơn vị liên doanh; tổng số công nhân viên lên tới trên có khoảng 13000 cán bộ công nhân viên. Các đơn vị thành viên của Vinashin nằm trên khắp đất nớc trải dài từ Bắc tới Nam. Tiền thân của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền là Xởng phá dỡ tàu cũ và sản xuất khí công nghiệp, hiện nay trụ sở chính của Công ty: số 234 - Lê Thánh Tông - Ngô Quyền- Hải Phòng, với tổng số công nhân viên là gần 200 ngời có trình độ chuyên môn từ bậc trung học, đại học và một số đã tốt nghiệp cao học, Công ty làm ăn rất có hiệu quả (doanh thu hàng năm đạt 30%/năm). Hơn nữa, Công ty cũng đợc sự quan tâm và đầu t đúng đắn từ các cấp có thẩm quyền và ban lãnh đạo nên hiện giờ Công ty cũng đã có những dây truyền công nghệ đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất . 2)Cơ cấu tổ chức Trong Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền, ngời có thẩm quyền cao nhất là Giám đốc điều hành. Vì đây là một đơn vị hạch toán độc lập nên tùy thuộc vào tình hình thực tế của Công ty mà Giám đốc đa ra các quyết định cho phù hợp. Giám đốc có toàn quyền chủ động quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, với sự giúp việc của Phó giám đốc và bộ phận tham mu giúp việc trong 4 phòng hành chính nghiệp vụ. Giám đốc ra chỉ thị và truyền đạt thông tin trực tiếp xuống các phòng ban tham mu, và các phòng ban tham mu này lại xuống các xởng trực thuộc mình quản lý (xem sơ đồ 1). 3/Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Nh đã trình bày ở trên, trong giai đoạn trớc khi chuyển thành Công ty, với chức năng là một Xởng sản xuất thuộc Tổng công ty Vinashin, Xởng chủ yếu tập trung vào 2 nhiệm vụ chính do Tổng công ty giao cho, đó là: phá dỡ tàu cũ để lấy thép phế liệu và sản xuất khí công nghiệp. Sau quyết định 94/1996- TCT của Vinashin về “Thành lập Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô quyền” đợc Tổng giám đốc ký và ban hành ngày 20/2/1996, Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền đã và đang thực hiện tốt các chức năng sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đợc phép nh sau:1. Đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ; 2.Sản xuất khí công nghiệp để phục vụ công nghiệp trong tổng Công ty, trong ngành và tiêu thụ sản phẩm cho nhu cầu thị trờng; 3. Kinh doanh vật t trang thiết bị cho các phơng tiện thuỷ; 4.Tổ chức thực hiện các dịch vụ hàng hải; 5.Nhập khẩu thép phế liệu phục vụ cho ngành đóng tàu truyền thống của Tổng Công ty và đáp ứng nhu cầu trong nớc đối với mặt hàng này.... Trong đó, Công ty đặc biệt chú trọng tới 2 hoạt động chính phù hợp với chức năng và chuyên môn của mình, đó là: Nhập khẩu thép phế liệu và sản xuất khí công nghiệp. Doanh thu từ các hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của Công ty. SƠ ĐỒ 1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CNTT NGÔ QUYỀN II. TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU CỦA CÔNG TY CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY NGÔ QUYỀN 1) Quản lý Nhà nớc đối với hoạt động nhập khẩu thép phế liệu Phù hợp với tình hình thực tế nớc ta đang trong giai đoạn cất cánh, trớc năm 1998 công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi số lợng thép lớn. Trong giai đoạn này, thép là mặt hàng nhập khẩu quan trọng trong cơ cấu nhập khẩu của nớc ta vì đây là mặt hàng cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp (đặc biệt là ngành công nghiệp nặng), ngành xây dựng… Theo thống kê của Bộ công nghiệp: để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thép trong nớc thì cần phải nhập khẩu 70%. Tuy nhiên, nhập khẩu không phải là biện pháp hiệu quả và lâu dài cho các nền kinh tế nói chung. Vì vậy các doanh nghiệp sản xuất thép trong nớc đã đẩy mạnh hoạt động sản xuất theo hớng ngày càng nâng cao chất lợng và sản lợng thép để đáp ứng nhu cầu trong nớc thay cho nhập khẩu, và nguyên liệu chính dùng cho luyện thép là thép phế liệu nhập khẩu chứ không phải là quặng khai thác đợc ở trong nớc. Theo thống kê của Bộ công nghiệp hơn nửa lợng thép tiêu thụ trong nứoc là từ sản xuất trong nớc, một nửa còn lại là nhập khẩu, trong đó 80% thép sản xuất trong nứơc là từ nguồn phôi nhập khẩu, trong số phôi thép sản xuất trong nớc lại phụ thuộc tới 70% nguyên liệu nhập khẩu từ ngoài vào. Nh vậy, Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào thị trờng bên ngoài từ thép thành phẩm, bán thành phẩm cho tới nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Sang năm 1998, nhà nớc ta đã cho phép nhập khẩu thép phế liệu: Điều 3.5 của Thông t 01/1998- TM- XNK (ngày 4/2/1998 Thông t về cơ chế điều hành xuất nhập khẩu ) có quy định “ Thép phế liệu và thép phá dỡ tàu cũ khi nhập khẩu phải có ý kiến của Bộ công nghiệp”. Việc cho phép nhập khẩu đã làm cho sản lợng thép phế liệu nhập khẩu vào nớc ta tăng mạnh ở giai đoạn sau: Theo thống kê của Cục hải quan 1998 là: trên 50000 tấn, 2000 là: 170000 tấn, đến năm 2002 là: 261389 tấn, và theo dự báo: nếu các lò luyện kim cùng đa vào hoạt động và ngành thép đạt công suất 2 triệu tấn phôi thép/năm thì nhu cầu đối với thép phế liệu để phục vụ ngành luyện kim là rất lớn. Thc trạng này đã biến Việt Nam từ một nớc nhập khẩu phôi thép và thép thành phẩm trở thành một thị trờng nhập khẩu thép phế liệu để phục vụ cho sản xuất phôi thép. Chính vì vậy, chỉ một trở ngại nhỏ cản trở thép phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam sẽ làm cho các lò luyện thép bị đình trệ vì đói nguyên liệu. Để việc nhập khẩu thép phế đợc tiến hành thuận lợi hơn , theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Sa – Viện trởng Viện luyện kim đen: “ Nhà nớc cần ban hành tiêu chuẩn về thép phế liệu cũng nh các văn bản pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất thép nhập khẩu thép phế liệu” 1, theo ông Phạm Chí Cờng- Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam: “ Nhà nớc cần nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn chất lợng cho thép phế liệu nhập khẩu dựa trên tiêu chuẩn quốc tế thông dụng”2. Nhng về phía Bộ tài nguyên và môi trờng, ông Nguyễn Khắc Kinh – Vụ trởng Vụ thẩm định và đánh giá tác động tài nguyên môi trờng lại cho rằng: “Không thể cứ nhập khẩu bừa thép phế liệu hoặc mua tàu cũ về phá dỡ tràn nan ở Việt Nam để lấy thép phế. Việc thực hiện mục tiêu 1,5 triệu tấn phôi/ năm là cần thiết nhng không phải làm ra thép bằng mọi giá”3. Cũng theo ông Kinh: “ năng lực xủ lý chất thải của Việt Nam hiện còn quá kém, nay lại để chất thải ngoại tràn vào thì Việt Nam sớm trở thành bãi giác”4. Nh vậy, nguy cơ đói nguyên liệu cho ngành sản xuất thép đang dần lộ diện bởi sự khập khễnh giữa tiêu chuẩn thép phế liệu của Việt Nam với tiêu chuẩn Thế giới. Trong khi đó, giá thép trên thị trờng thế giới có những biến động mạnh (giá các nguyên liệu cho luyện thép nh: quặng, gang, thép phế, than cốc...) giá phôi thép; giá thành phẩm thép xây dựng, thép tấm, lá ...liên tục tăng. Trớc tình hình đó, các chuyên gia ngành thép cảnh báo sản lợng thép toàn cầu sẽ sụt giảm hàng loạt sau những đợt nguyên liệu đầu vào tăng chóng mặt. Cung- cầu thép đang rơi vào tình trạng hỗn loạn, không có đủ cung để đáp ứng cầu đang tăng quá nhanh. Theo dự kiến, đến năm 2004, nhu cầu sẽ là 936triệu tấn, tăng 5% so với 2003 và sẽ tiếp tục tăng trong tơng lai. Các chuyên gia ngành thép còn cho biết nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do Trung Quốc đang bớc vào xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản làm cho nhu cầu về thép tăng (2003 là 35 triệu tấn phôi, trong đó nhu cầu trong nớc là trên 25 triệu tấn). Ngoài ra, Mỹ đã xoá bỏ thuế nhập khẩu (thuế nhập khẩu= 0% ) đối với mặt hàng thép làm cho nhu cầu thép của nớc này cũng tăng mạnh. Đây là những nguyên nhân chính gây lên sự biến động lớn cho thị trờng thép trên thế giới, vì Mỹ và Trung Quốc là 2 quốc gia lớn và có tầm ảnh hởng lớn đối với thị trờng Thế giới. Tình hình trong nớc và thế giới nh vậy đã gây nên sự biến động lớn về giá thép ở Việt Nam: Đầu quý I/2004 là 6,4-6,5 triệu/tấn thép, vậy mà đến cuối quý I- đầu quý II/2004 đã là 8,5- 9,3 triệu/tấn. Chỉ trong một thời gian ngắn giá thép đã tăng chóng mặt. Để bình ổn lại thị trờng, Hiệp hội thépViệt Nam, Tổng Công ty thép, tổ điều hành thị trờng trong nớc đã họp và kiến nghị với chính phủ 4 biện pháp: 1.Thúc đẩy sản xuất phôi thép trong nớc; 2.Tháo gỡ vấn đề nhập khẩu thép phế liệu để sản xuất phôi; 3.Kiểm tra mạng luới phân phối để tránh đầu cơ; 4.Nhập khẩu thép thành phẩm khi nguồn cung trong nứơc cha đủ đáp ứng. Bộ công nghiệp cũng có kiến nghị chính phủ sớm điều chỉnh các quy định về việc nhập khẩu thép phế liệu theo hớng coi thép phế liệu là nguyên liệu cơ bản của ngành thép. Vì thép phế liệu là mặt hàng phế liệu, có ảnh hởng tới môi trờng Việt Nam, nên hoạt động nhập khẩu thép phế liệu vào nớc ta sẽ do Bộ Tài nguyên – Môi trờng toàn quyền quản lý, trên cơ sở đó Bộ ra quyết định số 03/2004/QĐ- BTN-MT ban hành ngày 02/04/2004 –“Quyết định của Bộ trởng Bộ tài nguyên môi trờng về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trờng đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất”, theo Quyết định này: “Các cơ sở sản xuất thuộc các ngành thép, giấy, thuỷ tinh và nhựa đều đợc nhập khẩu phế liệu về làm nguyên liệu sản xuất”. Quy định này nhằm giúp các doanh nghiệp chủ động có nguồn ngyên liệu giá rẻ hơn để phục vụ sản xuất thép làm giảm giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, không thể tiến hành nhập khẩu phế liệu bừa bãi, phế liệu nhập về phải đảm bảo tiêu chuẩn sau: “không lẫn tạp chất nguy hại; không lẫn chất thải, trừ tạp chất không nguy hại còn bám dính hoặc bị rời ra trong quá trình vạn chuyển, bốc xếp”. Quyết định này cũng quy định một số điều kiện đối với các doanh nghiệp đợc phép nhập khẩu - chỉ những tổ chức, cá nhân có kho, bãi dành riêng cho việc tập kết phế liệu nhập khẩu đảm bảo các điều kiện về môi trờng trong quá trình lu giữ phế liệu nhập khẩu; có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu mới đợc phép nhập khẩu phế liệu. Nh vậy, hoạt động nhập khẩu thép phế đã đợc các Bộ, Ngành có liên quan quan tâm và tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhằm giúp các doanh nghiệp đợc thuận lợi hơn khi tiến hành hoạt động kinh doanh này. Sẽ không có một trở ngại quá lớn nào về mặt pháp lý gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi tiến hành nhập khẩu thép phế vào Việt Nam: . Văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp và hiện hành đối với nhập khẩu thép phế liệu của Nhà nớc ta là Quyết định số 03/ 2004/QĐ- BTN- MT của Bộ tài nguyên môi trờng ban hành ngày 02/04/2004 . Thép phế liệu nằm trong danh mục những mặt hàng đợc phép nhập khẩu theo quy định của Nhà nớc. . Hiện nay Nhà nớc không có quy định hạn ngạch nhập khẩu đối với thép phế. . Thuế nhập khẩu thép phế liệu là 0%. 2) Kim ngạch nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền 2.1) Động cơ của hoạt động nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền * Xuất phát từ nhu cầu thị trờng: Sắt thép đợc coi là một trong những mặt hàng có tầm quan trọng chiến lợc trong công cuộc xây dựng đất nớc. Đặc biệt ở nớc ta hiện nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá, nhu cầu ngày càng cao đối với mặt hàng thép. Khi kinh tế – xã hội phát triển thì nhu cầu của con ngời đòi hỏi ngày càng cao, có thể nói nhu cầu của con ngời là không giới hạn. Hiện nay, nớc ta còn lạc hậu, kém xa các nớc trên thế giới (một phần là do bị chiến tranh tàn phá trong một thời gian dài). Vì vậy, đất nớc cần phải chuyển mình, đổi mới nền kinh tế - xã hội để bắt kịp với xu thế phát triển của toàn thế giới. Nhng để đạt đợc mục tiêu đó, vấn đề cơ bản và cũng là nền tảng là phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để từ đó đặt nền móng cho đất nớc đi lên (nh một ngôi nhà muốn vơn cao, vơn xa thì trớc hết phải tạo đợc móng nhà vững chắc). Trong đó sắt thép đóng vai trò quan trọng, chiến lợc trong sự nghiệp cách mạng cải cách cơ cấu kinh tế - xã hội của nhân dân ta dới sự lãnh đạo của Đảng. Nhu cầu về thép ngày càng tăng, trong khi nền công nghiệp khai thác quặng ở nớc ta còn thấp kém cha đủ để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu của ngành luyện kim. Hơn nữa, thị trờng thép trên thế giới đang có sự biến động mạnh (giá cả tăng chóng mặt) khiến cho giá nhập khẩu thép vào nớc ta cao. Trớc tình hình đó, giải pháp trớc mắt và cũng là lâu dài cho ngành thép ở nớc ta là : nhập khẩu thép phế liệu về để sản xuất phôi thép phục vụ cho ngành luyện thép đáp ứng nhu cầu thép đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam. *Đối với Công ty: Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu là phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Công ty- Ngành nghề truyền thống và cũng là xuất phát điểm của Công ty là nhập khẩu tàu cũ về để đóng mới và sửa chữa phục vụ nhu cầu trong nớc và xuất khẩu sang nớc ngoài. Cùng với việc nhập khẩu tàu cũ từ nớc ngoài về, thay vì vận chuyển tàu không, Công ty vận chuyển thêm sắt thép phế nhập khẩu trên những con tàu nhập khẩu đó, tránh sự lãng phí và tiết kiệm đợc chi phí nhập khẩu . Hơn nữa, hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của Công ty cũng cần sử dụng lợng sắt thép phế liệu lớn, do đó thay vì mua lại ở thị trờng trong nớc, Công ty nhập khẩu trực tiếp thì giá sẽ thấp hơn. Nh vậy, hoạt động nhập khẩu thép phế liệu không chỉ giúp cho Công ty tăng doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh mà còn đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trờng góp phần bình ổn lại thị trờng thép trong nớc và cũng không trái với quy định pháp luật Việt Nam. 2.2 Kim ngạch nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền a) Giai đoạn 1996 –1999: Nh đã trình bày ở trên, tiền thân của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền là Xởng phá dỡ tàu cũ và sản xuất khí công nghiệp thuộc Tổng công ty Vinashin, với chức năng đó thì mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Xởng đều phải dựa trên chỉ tiêu, mệnh lệnh của Tông công ty, cha thực sự tự ý thức và phát huy tối đa mọi tiềm năng có đợc để đạt hiệu quả cao. Sau khi có quyết định thành lập Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền và trở thành một trong 29 đơn vị hạch toán độc lập, Công ty đã chủ động trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh của mình. Công ty đã có nhiều đổi mới, phát huy tối đa mọi nguồn lực có thể có để từng bớc nâng cao chất lợng kinh doanh nói chung và kinh doanh thép phế liệu nhập khẩu nói riêng. Bảng 1. Sản lợng và kim ngạch nhập khẩu (KNNK) thép phế liệu của Công ty giai đoạn 1996 – 19995 STT Năm Sản lợng(tấn) KNNK (USD) 1 1996 1130 63000 2 1997 1350 77000 3 1998 2300 138000 4 1999 3050 189100 Bảng 1 cho thấy sản lợng và kim ngạch nhập khẩu của Công ty nhìn chung tăng từ năm 1996 đến năm 1999. Tuy nhiên, sự tăng trởng này là không đều giữa các năm: giai đoạn 1996 – 1997 tăng thấp - sản lợng tăng 20%, KNNK tăng 22%, 1997 – 1998 tăng mạnh - sản lợng tăng 70%, KNNK tăng 79%, 1998 – 1999 sản lợng tăng 33%, KNNK tăng 37%. Năm 1998 có sự tăng trởng mạnh nh vậy là do Nhà nớc đã cho phép nhập khẩu mặt hàng này và từ năm nay sản lợng nhập khẩu vào Việt Nam nhìn chung tăng cao do nhu cầu nguyên liệu cho ngành thép lớn. Qua phân tích cũng cho thấy mức độ tăng sản lợng và KNNK không bằng nhau- KNNK thờng tăng cao hơn sản lợng trong cùng một thời kì, nguyên nhân chủ yếu là do giá thép phế liệu trên thị trờng trong nớc và Thế giới đang biến động theo xu hớng ngày càng tăng. Trong giai đoạn đầu thành lập, ngành kinh doanh “nhập khẩu thép phế liệu của Công ty còn non trẻ, chủ yếu thực hiện theo phơng thức “nhập khẩu tàu cũ về phá dỡ để sản xuất sắt thép. Thực tế cho thấy, hoạt động kinh doanh “ thép phế liệu nhập khẩu” trong giai đoạn này cha thực sự làm ăn có hiệu quả, doanh thu thấp, hình9thức kinh doanh còn manh mún, nhỏ bé, phân tán. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu của Công ty, do đó chỉ có thể đợc tính gộp vào là doanh thu chung của ngành “ phá dỡ tàu”. * Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do: 1. Do mới thành lập nên vốn của Công ty còn hạn hẹp, nên không thể thực hiện các hợp đồng lớn về nhập khẩu tàu cũ đợc, mà sản lợng thép phế liệu hoàn toàn dựa vào số lơng tàu cũ nhập về để phá dỡ. Điều này dẫn đến sản lợng thép phế liệu của Công ty thấp. Ngoài ra, mới thành lập cũng là nguyên nhân tạo ra sự bất lợi về thời gian và điều kiện gia nhập thị trờng cha đủ để tạo lập cho mình một vị trí và chỗ đứng trên thị trờng trong và ngoài nớc. Vì vậy Công ty cha khẳng định đợc uy tín của mình, Điều này khiến cho công việc kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều khó khăn: khó khăn trong việc ký kết các hợp đồng nhập khẩu tàu cũ (khó khăn trong khâu đầu vào), các doanh nghiệp trong nớc còn ít biết đến sự tồn tại của Công ty hoặc nếu có biết thì vẫn cha có cơ sở để họ đặt niềm tin để kí các hợp đồng mua sắt thép phế liệu của Công ty (khó về đầu ra). 3. Nhiệm vụ đóng tàu gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sản lợng thép phế liệu thấp: Do từ sau khi Nhà nớc cho phép các doanh nghiệp đợc phép phá dỡ tàu cũ để lấy sắt thép phế liệu, khiến cho ngày càng có nhiều doanh nghiệp phá dỡ tàu cũ nên việc mua tàu cũ bị căng giá. 4. Việc làm thủ tục mua bán còn nhiều phiền toái, phụ phí cao, nhất là đối với tàu cũ của nớc ngoài. Nhiều khi bế tắc sản xuất do khâu thủ tục phải “qua” nhiều “ cửa”, nhiều “dấu”, đối tác mất niềm tin, Công ty mất nguồn cung. 5.Mặt khác, lúc bấy giờ quy trình công nghệ phá dỡ tàu để sản xuất sắt thép phế liệu còn rất xa lạ đối với Việt Nam. Các doanh nghiệp vừa tự sản xuất vừa tự rút ra quy trình công nghệ sản xuất cho mình. Do vậy năng suất thấp, việc quản lý lao động rất khó khăn, khó giao chỉ tiêu, khó đạt mức khoán, khó quản lý sản phẩm và tài sản dễ dẫn đến lãng phí, hao hụt, mất mát... 6. Giá phế liệu không ổn, do việc cung cấp sản phẩm khi thì dồn dập, khi thì khan hiếm 7.Chất lợng công nhân viên làm việc cha có chuyên môn kĩ năng cao dẫn đến năng suất lao động thấp, sản lợng thép phế liệu thấp. Từ những nguyên nhân trên dẫn đến việc kinh doanh “ thép phế liệu nhập khẩu” nói riêng và hiệu quả kinh doanh của cả Công ty nói chung cha cao. Tính cho tới cuối năm 1999, doanh thu của cả ngành “phá dỡ tàu cũ” ớc tính đạt trên 20 tỷ VNĐ. Thực trạng trên đòi hỏi Công ty phải có sự đổi mới từ công tác tổ chức, quản lý, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ cho tới việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Công ty. * Giai đoạn 2000- 2004 Trớc thực trạng làm ăn kém hiệu quả nh vậy, Công ty đã phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để góp phần cải thiện lại tình hình. Trớc hết phải kể đến sự đổi mới trong phơng thức kinh doanh: thay vì nhập khẩu thép phế liệu hoàn toàn dới hình thức “ nhập khẩu tàu cũ về phá dỡ để sản xuất thép phế liệu”, nay Công ty đã tiến hành nhập khẩu trực tiếp thông qua thu mua thép phế liệu. Điều này giúp cho sản lợng thép phế liệu mà Công ty nhập khẩu tăng cao. Bảng2. Sản lợng và kim ngạch nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền6 T NĂM T SẢN LỢNG(TẤN) KNNK( US THỊ TRỜNG D) 1 2000 7.500 562.500 100%châu âu 2 2001 11.000 847.000 100%châu âu 3 2002 13.700 2.856.000 70%châu âu, 30%châu á 4 2003 16.000 4.080.000 90%châu á, 10%châu âu 5 2004 21.000 6.447.000 70%châu á,30%châu âu và mỹ Từ bảng trên cho thấy, số lợng thép phế liệu Công ty nhập khẩu tăng nhanh trong giai đoạn 2000- 2004, tuy nhiên sự tăng trởng này không đồng đều giữa các năm: 20002001 tăng 3500 tấn (tăng trên 40%), 2001- 2002 tăng 2000 tấn( tăng 18%), 2002- 2003 tăng 3000 tấn (tăng 24%), 2003- 2004 tăng 5000 tấn (tăng 30%). Mặc dù, sự tăng sản lợng thép phế nhập khẩu của Công ty trong những năm qua là không đồng đều cả về số lợng và tỷ lệ tăng trởng giữa các năm, nhng nhìn chung sản lợng thép phế nhập khẩu của Công ty đã tăng khá cao từ năm đầu giai đoạn (năm2000) cho tới năm kết thúc giai đoạn (năm 2004) từ 7.500tấn lên tới 21.000tấn ( tăng 180%). Cùng với sự tăng lên về số lợng thì KNNK đối với mặt hàng này cũng tăng với mức tăng cao hơn. Đặc biệt là trong giai đoạn 2001 – 2004, KNNK tăng tới mức chóng mặt (tăng 5.600.000 – tơng ứng trên 660%). Nguyên nhân chủ yếu là do giá thép trong giai đoạn này tăng cao( tăng từ 77USD/tấn năm 2001 lên tới 307USD/tấn năm 2004),và một phần cũng là do sản lợng tăng cao. Trong 6 tháng đầu năm 2005, sản lựong thép phế liệu nhập khẩu của Công ty đạt 16.450tấn, đạt 57% kế hoạch năm, KNNK đạt trên 5triệu USD. Mặc dù con số này còn rất nhỏ so với tổng KNNK của Việt Nam nhng nó cũng góp phần bình ổn lại thị trờng đang trong tình trạng hỗn loạn cung – cầu về thép. Nếu tiếp tục duy trì ở mức tăng trởng nh vậy việc hoàn thành và vợt mức chỉ tiêu năm nay của Công ty sẽ là tất yếu. Từ bảng 2 cũng cho ta thấy sự thay đổi đáng kể về thị trờng nhập khẩu của Công ty, chuyển dịch từ nhập khẩu thép phế liệu hoàn toàn từ Châu Âu (năm 2000, 2001 nhập khẩu 100%) dần sang nhập khẩu chủ yếu từ thị trờng Châu á ( hiện nay lợng thép phế nhập khẩu từ châu á chiếm trên 70%). Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự thay đổi trên? Trớc đây, bạn hàng truyền thống của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền là các nớc nằm trong khu vực Châu Âu, Công ty chủ yếu tiến hành các hoạt động kinh doanh ở khu vực thị trờng này, do đó việc thép phế liệu đợc nhập khẩu 100% từ đây là hoàn toàn phù hợp . Tuy nhiên đó chỉ mang tính tạm thời và tình thế. Xuất phát từ mục tiêu tăng doanh thu và lợi nhuận, đòi hỏi Công ty phải chủ động tìm kiếm những khu vực thị trờng mới có giá rẻ hơn, có nhiều lợi thế đối với công việc kinh doanh của mình. Thị trờng Châu á bao gồm các nớc nằm trong cùng khu vực địa lý, có cùng chung đờng bờ biển, hoặc là những nớc có đờng biên giới giáp với Việt Nam, vì vậy thuận lợi rất nhiều cho các hoạt động giao lu kinh tế văn hoá giữa ta với các nớc bạn nói chung và cho hoạt động nhập khẩu của Công ty nói riêng. Điều này giúp cho Công ty tiết kiệm đợc chi phí và thời gian từ khâu nghiên cứu thị trờng, kí kết hợp đồng và cuối cùng là vận chuyển thép phế liệu về nớc. Khoảng cách giữa Việt Nam và các nớc Châu á là tơng đối gần so với Châu âu, vì vậy ta có bắt thể nắm bắt tình hình thị trờng và có thông tin nhanh về sự thay đổi của thị trờng này giúp ta có sự điều chỉnh nhanh, chính xác và kịp thời. Ngoài ra, lợi thế có chung đờng bờ biển sẽ tạo lợi thế cho việc tiến hành mua bán ngoại thơng giữa Việt Nam với các nớc trong khu vực, do việc vận chuyển dễ dàng, mà thép phế liệu do Công ty tàu thuỷ Ngô Quyền nhập khẩu đợc coi là mặt hàng cồng kềnh, có trọng tải lớn nên phơng tiện vận chuyển chủ yếu là bằng tàu thuỷ. Trên cơ sở đó cho thấy quyết định chuyển hớng thị trờng này của Công ty là đúng đắn, phù hợp với thực tế kinh doanh của Công ty. 3. Cơ cấu, giá, chất lợng và thị trờng nhập khẩu thép phế liệu của Công ty * Về cơ cấu nhập khẩu: Do chính sách bảo hộ ngành thép của Nhà nớc nên hoạt động nhập khẩu thép phế liệu có những bớc phát triển đáng kể nhằm đáp ứng thị trờng về cơ cấu, chủng loại, chất lợng. Trong số các mặt hàng đợc phép nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định của pháp luật, cơ cấu nhập khẩu của Công ty chủ yếu tập trung vào 2 mặt hàng sau: Thép phế liệu dùng cho cán kéo chiếm 48% tổng KNNK, thép phế liệu dùng cho nấu chảy chiếm 45% tổng KNNK của Công ty. * Về giá nhập khẩu: Cũng nh hầu hết các đơn vị kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận thì việc xem xét và lựa chọn giá trớc khi kí hợp đồng mua bán là rất cần thiết. Đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu, giá cả ở một số thị trờng lớn đóng vai trò quyết định và là cơ sở để ngời mua chấp nhận giá từ phía chào hàng đa ra. Đối với Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền cũn vậy: Sau khi nhận đợc đơn chào hàng của nớc ngoài chào bán, cơ sở để tính giá nhập khẩu của Công ty là giá ở một số thị trờng thép phế liệu lớn trên thế giới, hoặc có thể tham khảo giá của bạn hàng truyền thống Châu Âu hay giá trên các tạp chí , bản tin có uy tín trên thế giới. Tuy nhiên, Công ty không thể không tính đến giá đầu ra cho mặt hàng này nhằm đảm bảo thu lợi nhuận và làm ăn có hiệu quả. Để đi đến quyết định có chấp nhận giá của phía chào hàng đa ra hay không, Công ty phải tính toán phần chênh lệch giữa giá thép phế liệu nhập khẩu và giá bán lại ở thị trờng trong nớc, sau khi trừ đi các khoản chi phí có liên quan có thu đợc lợi nhuận không và khoản lợi nhuận thu đợc này có đợc coi là hiệu quả kinh doanh hay không? Hiện nay, giá nhập khẩu và giá bán lại thép phế trên thị trờng Việt Nam của Công ty: Tuỳ từng chủng loại mà Công ty sẽ nhập khẩu và bán lại với các mức giá khác nhau: - Loại thép phế liệu dùng cho Cán kéo: Công ty nhập khẩu với giá là 270- 280 USD/ tấn giá CNF Cảng Hải Phòng (cha có thuế VAT, bảo hiểm, phí mở L/C, phí giao nhận bốc xếp Cảng, phí giám định...), giá bán loại này trên thị trờng hiện nay: từ 4.800.000đ/tấn đến 5.400.000đ/tấn tuỳ thuộc vào kích thớc và chủng loại cụ thể. - Loại thép phế liệu dùng cho nấu chảy: giá nhập khẩu là 225 USD/tấn giá CNF Hải Phòng (cha có thuế VAT, bảo hiểm, phí mở L/C...), giá bán 3.900.000đ/tấn4.100.000đ/tấn( chỉ bán cho các lò luyện phôi thép, nh: Công ty gang thép Thái nguyên, Thép Hoà Phát...). Ngoài việc thụ động chờ phía chào hàng đa ra đơn giá, sau đó so sánh và đa ra quyết định có chấp nhận giá đó hay không, Công ty cũng đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị trờng để chuyển mình sang thế chủ động tìm đến những thị trờng mới có giá thấp và đảm bảo cung cấp ổn định, lâu dài cho Công ty. * Về chất lợng thép phế liệu nhập khẩu: Chất lợng là một trong những điều khoản của hợp đồng nhập khẩu. Vì vậy, phải đề cập chi tiết, cụ thể về chất lợng và quy cách phẩm chất của hàng hoá để tránh xảy ra sự tranh chấp giữa ngời bán và ngời mua. Mỗi một mặt hàng có những quy định riêng về tiêu chuẩn phẩm chất và ở mỗi nớc lại có những quy định khác nhau về mặt hàng đó, đối với thép phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam cũng vậy. Nhng khi tham gia vào buôn bán ngoại thơng thì phải sử dụng những tiêu chuẩn mang tính quốc tế. Đối với việc nhập khẩu thép phế liệu, Nhà nớc ta vẫn cha có văn bản pháp lý cụ thể quy định về tiêu chuẩn đối với mặt hàng này. Vì vậy khi nhập khẩu thép phế các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì họ cha có một tiêu chuẩn nào để dựa vào đó mà xem xét, xác định thép phế liệu do doanh nghiệp mình nhập khẩu về có đạt tiêu chuẩn chất lợng hay không. Do đó, đã có nhiều ý kiến kiến nghị về vấn đề này, trong đó đáng kể nhất là ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Văn Sa - kiến nghị Nhà nớc cần đa ra các tiêu chuẩn về thép phế và của ông Phạm Chí Cờng- kiến nghị Nhà nớc cần xây dựng các tiêu chuẩn chất lợng cho sắt thép phế dựa trên tiêu chuẩn quốc tế. Những ý kiến này đợc đa ra đều nhằm giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc xác định tiêu chuẩn chất lợng đối với thép phế nhập khẩu, khiến cho hoạt động nhập khẩu đợc dễ dàng hơn. Tuy nhiên, việc nhập khẩu thép phế nói riêng và nhập khẩu các phế phẩm vào Việt Nam nói chung luôn phải đảm bảo quy định của Bộ Tài nguyên - môi trờng, đó là: “không biến Việt Nam thành bãi giác của thế giới”. Hiện nay, chất lợng thép phế do Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền nhập khẩu không chỉ đáp ứng đợc các tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của Việt Nam theo quy định pháp luật (Quyết định số 03/QD- BTNMT của Bộ tài nguyên môi trờng) đối với mặt hàng này mà còn phù hợp và có thể phục vụ cho công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của Tổng Công ty, các loại thép có khả năng tái chế đợc để phục vụ cho sản xuất. * Về thị trờng nhập khẩu: Xây dựng thị trờng nhập khẩu ổn định vững chắc và lâu dài có ý nghĩa to lớn trong quá trình nhập khẩu trớc mắt cũng nh lâu dài. Làm tốt phơng châm này là góp phần tích cực vào sự phát triển của Công ty nói riêng và của Tổng Công ty Vinashin nói chung. Do vậy mà Công ty luôn duy trì những thị trờng nhập khẩu ổn định để tạo điều kiện thuận lợi cho công việc kinh doanh của mình. Trong giai đoạn đầu của công cuộc xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế của ta vận hành theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp thì bạn hàng chủ yếu là Liên Xô cũ và các nớc thuộc khối SEV. Trong đó tổng sản lợng thép nhập khẩu từ các nớc này chiếm 90 - 95%. Sau một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nền kinh tế của ta còn nghèo nàn, lạc hậu - cơ sở hạ tầng còn thấp kém, công nghệ kĩ thuật cha phát triển khiến cho nền sản xuất của ta còn yếu kém, cha thể tự mình đáp ứng đợc những nhu cầu trong nớc, do đó việc nhập khẩu thép thành phẩm phục vụ tiêu dùng trong nớc là phù hợp và không thể tránh khỏi. Từ năm 1986 trở lại đây, Việt Nam thực hiện cơ chế đổi mới, từng bớc tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá, ngành sản xuất thép trong nớc đã có sự chuyển mình. Thay cho nhập khẩu thép thành phẩm , Việt Nam nhập khẩu phôi thép và thép phế liệu về để phục vụ cho ngành luyện kim, từ đó tự mình sản xuất thép và từng bớc đáp ứng nhu cầu trong nớc. Đây là kết quả đáng mừng cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta nói riêng- Việt Nam từ chỗ là một nớc nhập khẩu thành phẩm là chính nay đã trở thành một thị trờng nhập khẩu nguyên liệu về để tự mình sản xuất Cơ chế mở cửa đã giúp Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc trên thế giới, thực hiện phơng châm của Đảng “ Việt Nam muốn trở thành bạn của tất cả các nớc trên thế giới”. Trên cơ sở đó, bạn hàng của Việt Nam không còn chỉ hạn chế là Liên Xô cũ và các nớc thuộc khối SEV mà đã mở rộng ra ở tất cả các nớc trong khu vực và thế giới. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty có nhiều cơ hội để lựa chọn và xác định bạn hàng cho phù hợp với nhu cầu và ngành nghề kinh doanh của mình, hơn nữa còn giúp cho Công ty có điều kiện tiến hành phân tích kỹ lỡng và phân loại thị trờng nào sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho mình. Phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, Công ty nhập khẩu thép phế liệu chủ yếu từ thị trờng Châu á và các nớc thuộc khu vực Châu Âu và một số lợng nhỏ từ các nớc khác (Nhập khẩu từ Châu á chiếm 70%, Châu Âu và các nớc khác chiếm trên 30% tổng sản lợng thép phế liệu nhập khẩu của Công ty). Các yếu tố dẫn tới việc quyết định lựa chọn thị trờng của Công ty: giá cả, chất lợng, số lợng và một vài yếu tố khác. 4. Tình hình tiêu thụ thép phế liệu nhập khẩu của Công ty Thị trờng trong nớc hiện nay, cầu luôn luôn lớn hơn cung, vì vậy mà số lợng thép phế Công ty nhập về luôn đợc tiêu thụ hết, Công ty bán lại sản phẩm này với mức giá vừa phải, phù hợp với giá bán trên thị trờng và đảm bảo Công ty làm ăn có lãi. Tuỳ thuộc vào từng loại mà giá bán chúng có sự khác nhau, ví dụ: thép dùng cho cán kéo giá bán là 4.800.000đ/tấn- 5.400.000đ/tấn, thép phế liệu dùng cho nấu chảy từ 3.900.000đ đến 4.100.000đ/tấn 4.1. Thị trờng tiêu thụ thép phế của Công ty: - Các Công ty có chức năng kinh doanh sắt thép phế liệu ở Hải Phòng. - Làng cán kéo thép Đa hội- Bắc Ninh. - Làng nghề Nam Định. - Một số cơ sở cán kéo thép ở Hải Phòng, Hà Nội. - Công ty gang thép Thái Nguyên. - Công ty cổ phần thép Hoà Phát.... 4.2. Hình thức tiêu thụ - Bán cả lô cho một đơn vị hoặc nhà máy. - Bán chọn lọc từng phần nhỏ trong lô hàng nhập khẩu về cho các đơn vị cá nhân, làng nghề theo nhu cầu ngời mua hàng. - Bán hàng trên Bill khi hàng đang trên đờng về. 4.3 Phơng thức tiêu thụ: - Bán thanh toán 100% tiền mặt hoặc chuyển khoản. - Bán giao hàng và thu tiền dần, ngời mua phải chịu lãi suất của số tiền chậm trả theo mức lãi suất của ngân hàng. - Bán theo bảo lãnh ngân hàng của ngời mua ( nếu ngời mua là lần đầu hoặc cha có uy tín trên thị trờng). Nh vậy, Công ty đã tận dụng mọi hình thức và phơng thức bán hàng để tiêu thụ hàng với số lợng lớn nhất có thể, và chúng phải đảm bảo khả năng an toàn cho công tác bán hàng của Công ty tránh những rủi ro có thể xảy ra gây thất thoát và thiệt hại cho Công ty. 5. Kết quả kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền Trong 5 năm gần đây, nhìn chung tình hình sản xuất của Công ty ổn định và phát triển, doanh thu năm sau tăng 30% so với năm trớc. Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu của Công ty đã hỗ trợ rất nhiều cho các đơn vị luyện thép trong nớc, cung cấp đầu vào cho sản xuất, góp phần tạo môi trờng cạnh tranh làng mạnh trong nớc. Hàng năm đóng góp cho ngân sách nhà nớc hàng tỷ đồng thông qua việc đóng thuế (thuế doanh thu, thuế VAT…). Trong đó chủ yếu là 2 ngành kinh doanh chính là : sản xuất khí công nghiệp; phá dỡ tàu cũ và nhập khẩu thép phế liệu. Trong đó, đóng góp của hoạt động “ phá dỡ tàu cũ và nhập khẩu thép phế liệu là rất lớn trong tổng doanh thu của cả Công ty. Để minh chứnh cho điều này, ta có thể làm một phép so sánh đơn giản giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu với doanh thu từ sản xuất khí công nghiệp trong cùng kì: Năm 2000 doanh thu từ nhập khẩu thép phế liệu là 17,75 tỷ VNĐ, trong khi đó sản xuất khí công nghiệp chỉ đạt doanh thu 2,7 tỷ (gấp 7 lần); so sánh tơng tự, trong năm 2004 nhập khẩu thép phế liệu đạt 84 tỷ VNĐ - gấp 14 lần sản xuất khí công nghiệp (5,85 tỷ VNĐ). Sở dĩ có sự chênh lệch nh vậy là do: hoạt đông sản xuất khí công nghiệp chủ yếu phục vụ cho công nghiệp phá dỡ trong Công ty và Tổng công ty, chỉ phần nhỏ còn lại là đem ra tiêu thụ trên thị trờng. Bảng 3 Bảng doanh thu và lợi nhuận từ “nhập khẩu thép phế liệu” của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô quyền7 T NĂM ĐƠN VỊ DOANH LỢI T TÍNH THU NHUẬN 1 2000 1000đ 18.750.000 562.500 2 2001 1000đ 29.700.000 891.000 3 2002 1000đ 43.840.000 1.096.000 4 2003 1000đ 56.000.000 1.120.000 5 2004 1000đ 84.000.000 1.680.000 Từ bảng 3 cho ta thấy: doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động “nhập khẩu thép phế liệu” của Công ty tăng tỷ lệ thuận với mức tăng sản lợng thép phế nhập khẩu. Do nhu cầu đối với thép phế liệu ở thị trờng trong nớc ngày càng tăng, cung không đủ đáp ứng cầu nên lợng thép phế do Công ty nhập về không bị tồn kho, nhập về bao nhiêu lại xuất ra hết bấy nhiêu. Thông thờng, giá tăng sẽ dẫn đến cầu giảm, nhng vì trong giai đoạn hiện nay, sắt thép đợc coi là mặt hàng thiết yếu đối với ngời dân nên nhu cầu tiêu dùng sắt thép là cần thiết, mà nguyên liệu chính cho công nghiệp luyện thép lại là thép phế liệu. Do đó, cầu đối với mặt hàng này không còn phụ thuộc nhiều vào giá cả nữa (mặc dù giá thép phế liệu tăng cao - trong vòng 3 năm tính từ đầu năm 2001 đã tăng lên gấp 3 lần từ 77USD/tấn lên đến 307USD/tấn). Giá thép phế liệu tăng cao là một trong những nhân tố tạo lên sự tăng nhanh cả về doanh thu và lợi nhuân của Công ty. . Năm 2000-2001: doanh thu và lợi nhuận tăng 58,4% . Năm 2001-2002: doanh thu và lợi nhuận tăng 47,6% . Năm 2002-2003: doanh thu và lợi nhuận tăng 27,8% . Năm 2003-2004: doanh thu và lợi nhuận tăng 50% Nhìn chung, doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động “nhập khẩu thép phế liệu“ của Công ty đều tăng ở năm sau so với cùng kì năm trớc, xét trong cả giai đoạn, doanh thu và lợi nhuận tăng mạnh( doanh thu từ 18,75 tỷ đồng năm 2000 lên tới 84 tỷ đ vào năm 2004 – tức là tăng 65,25tỷ, lợi nhuận từ 562 triệu đ lên tới 1680 triệu đ)- tăng 348% doanh thu và 200% lợi nhuận.Tuy nhiên, tỷ suất tăng trởng không đều giữa các năm, giai đoạn từ 2000 đến 2003 lại có xu thế giảm (từ 58,4% xuống 47,6% và cuối cùng là giảm xuống 27,8%), bớc sang năm 2004 nó lại tăng mạnh (từ 27,8% lên đến 50%). Trong 5 năm qua chức năng này đợc Công ty thực hiện và phát huy tơng đối tốt, dựa trên các lợi thế sau: + Đội ngũ cán bộ công nhân viên đợc đào tạo và sát hạch với tình hình thực tế nhiều. Công tác này đợc tiến hành bằng việc mở các lớp, khoá học định kì để đạo tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với ngành nghề kinh doanh của Công ty, hớng dẫn cho công nhân viên xuống thị trờng để tìm hiểu và bám sát thị trờng từ đó nâng cao hiệu quả công việc + Lợi thế về vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc trong việc vay vốn của các tổ chức tín dụng. Công ty đợc thành lập với vai trò là một đơn vị kinh doanh Nhà nớc, do Nhà nớc quản lý. Chính vì vậy mà đối với các tổ chức tín dụng, Công ty thuộc diện đợc u tiên khi xét duyệt việc cấp vốn. Hơn nữa, Công ty Nhà nớc đợc coi là chứa đựng ít rủi ro nhất, vì vậy việc vay vốn của Công ty thuận lợi hơn. + Lợi thế về mặt bằng và công nghệ phá dỡ. Công ty có mặt bằng rộng lớn dành cho việc phá dỡ, mấy năm gần đây Công ty đã đầu t 1 dây truyền hiện đại dành cho phá dỡ tàu, do đó công tác phá dỡ đợc tiến hành nhanh gọn, an toàn và dễ dàng...giúp nâng cao hiệu quả + Uy tín với ngân hàng và các khách hàng trong và ngoài nớc: Uy tín với ngân hàng và khách hàng nớc ngoài tạo điều kiện thuận lợi trong khâu nhập khẩu của Công ty, các hợp đồng mua bán, thanh toán và mở L/C đợc thực hiện nhanh.Tạo lập đợc uy tín với khách hàng trong nứơc giúp Công ty có đợc thêm nhiều hợp đồng bán sản phẩm của mình và ngày càng mở rộng thị trờng. + Ngoài ra, thị trờng đầu ra của chủng loại hàng hoá này là rất lớn( cầu luôn lớn hơn cung), nh đã đợc phân tích ở trên đối với nhu cầu này là rất lớn – cầu luôn lớn hơn cung (nh đã phân tích ở trên). Việc đổi mới, cải tiến hoạt động kinh doanh “nhập khẩu thép phế liệu” theo hớng ngày càng nâng cao năng lực và chất lợng kinh doanh góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận , từng bớc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt đợc, hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu còn một số vấn đề từ phía Nhà nớc và cả phía công ty: + Trớc hết cần phải kể đến sự cạnh tranh của các đơn vị ngoài ngànhtham gia nhập khẩu thép phế liệu: Trong cơ chế thị trờng, hệ thống các công ty t nhân rất phát triển. Do cơ chế thoáng, họ đã nhập ủy thác, nhập trực tiếp, lậu thuế… tạo thành sự cạnh tranh gay gắt về giá và một sự cạnh tranh gay gắt đáng sợ hơn cả là cơ chế thởng, gửi giá …bất chấp mọi quy chế tài chính mà Công ty phải chấp hành đầy đủ. Trong khi đó, hệ thống phân phối của Công ty này vẫn trông mong vào sự mua lại của các công ty luyện thép và các làng nghề thủ công. + Nhà nớc cha có văn bản pháp lý cụ thể quy định chi tiết về quy cách phẩm chất đối với thép phế liệu nhập khẩu. + Thủ tục Hải quan phải qua nhiều khâu, nhiều cửa gây nên nhiều khó khăn cho các đơn vị kinh doanh nhập khẩu trong khâu làm thủ tục nhập khẩu. + Tồn tại cần đợc đề cập ở đây là sự yếu kém của một số đơn vị thuộc khối lu thông, đầu mối tiêu thụ thép phế liệu nhập khẩu của Công ty. Khối lu thông này nay rơi vào tình trạng kém năng động nhờng hầu hết thị trờng bán lẻ cho các công ty t nhân. + Thị trờng nhập khẩu chủ yếu của Công ty là Châu á luôn có những biến động khó khăn về kinh tế, chính trị khiến cho công tác nhập khẩu của Công ty gặp nhiều khó khăn, không ổn định. +Tỷ giá ngoại tệ của Việt Nam không ổn định, luôn luôn biến động gây ra nhiều khó khăn trong công tác nhập khẩu. + Hệ thống thông tin tìm hiểu thị trờng, bạn hàng, tình hình kinh doanh nhập khẩu của các đơn vị ngoài ngành… còn cha đáp ứng đợc. + Đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty còn yếu kém về năng lực trong công tác nhập khẩu. + Một tồn tại nữa là vốn của Công ty còn hạn hẹp, cha đủ khả năng thực hiện các hợp đồng nhập khẩu lớn ; diện tích mặt bằng dành cho phá dỡ tàu còn hạn chế; công nghệ phá dỡ còn lạc hậu… CHƠNG II KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LỢNG NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU 1) Căn cứ vào các chỉ tiêu phát triển ngành thép Thực tế cho thấy mức tiêu thụ thép phụ thuộc vào mức tăng GDP, mức tăng dân số, số vốn đầu t chính phủ phân bổ cho các dự án phát triển kinh tế trong nớc. Chính vì vậy, việc dự đoán đợc các chỉ tiêu trên là cơ sở để đa ra dự đoán về nhu cầu tiêu thụ thép trong tơng lai. Tuy nhiên để có thể dự đoán đợc các chỉ tiêu đó thì các con số trong quá khứ và thực tế lại rất cần thiết. Năm 1999 – 2000, mức tăng trởng GDP là 6 – 7%, thì dự kiến giai đoạn 2001 – 2010 GDP sẽ tăng 10 – 12%. Bên cạnh những chỉ tiêu đó thì, thực tế tiêu thụ thép trong nớc trong những giai đoạn trớc cũng góp phần giúp các Bộ, Ngành đa ra những dự đoán chính xác hơn. Trên cơ sở dự đoán mức tăng GDP giai đoạn 2001 – 2010 và thống kê của một số hãng kinh doanh lớn (Nippon steel, Nippon kokan, BHP, Posco…) và mức tiêu thụ thép thực tế của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, Bộ công nghiệp dự báo nhu cầu tiêu thụ thép năm 2010 sẽ là 7,7 triệu tấn. Qua đó ta thấy, đối với nớc ta đang ở thời kì cất cánh thì nhu cầu tiêu thụ thép giai đoạn 2000- 2005 là 13%, 2005- 2010 là 7% là tơng đối phù hợp với sự tăng trởng các nứơc trong khu vực. Nhng vấn đề đặt ra với Việt Nam là: ta sẽ lấy thép ở đâu để phục vụ cho nhu cầu về thép đang ngày càng tăng nh vậy? Hiện nay, ngành luyện kim của ta mới chỉ đáp ứng đợc trên 50% nhu cầu tiêu thụ thép trong nớc, số còn lại là từ nguồn thép nhập khẩu. Trong đó, nguyên liệu chính phục vụ cho ngành luyện kim không phải là quặng khai thác đợc trong nớc mà là thép phế nhập khẩu từ nớc ngoài là chủ yếu. Theo tính toán cho thấy: Nếu một máy công suất 200.000tấn phôi/năm thì thép phế thu gom đợc trong nớc ớc tính nhiều nhất chỉ đợc 80.000tấn, phần còn lại là nhập khẩu. Hiệp hội thép Việt Nam cho biết: mỗi năm ngành thép cần 1,5- 2triệu tấn thép phế liệu phục vụ cho sản xuất và lợng thép phế này chủ yếu có đợc từ nguồn nhập khẩu. Từ phân tích nhu cầu đối với thép phế liệu ở trên cho ta thấy đợc tầm quan trọng của nhập khẩu thép phế đối với ngành thép nói riêng và nền kinh tế quốc dân của Việt Nam nói chung. 2) Xuất phát từ lợi ích của Công ty:
- Xem thêm -