Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam - Lưu Hùng

  • Số trang: 66 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 251 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15337 tài liệu

Mô tả:

82 Lưu Hùng TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM (1996 - 2012) LƯU HÙNG Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Theo Quyết định số 689/TTg ngày 24/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (DTHVN) chính thức được thành lập, trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và đặt trong hệ thống bảo tàng quốc gia của Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và phát triển, tuy chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng DTHVN đã được chỉnh lý vài lần, nhưng chức năng nghiên cứu về các dân tộc luôn được khẳng định và đặt ở vị trí thứ nhất. Hiện nay các chức năng của Bảo tàng DTHVN được quy định như sau: “nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế hiện vật và tư liệu về các dân tộc; tổ chức trưng bày, trình diễn và những hình thức hoạt động khác, nhằm giới thiệu, phổ biến và giáo dục về những giá trị lịch sử, văn hoá của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học và bảo tàng học” (Quyết định số 1595/QĐ-KHXH ngày 26/11/2010 của Chủ tịch Viện KHXHVN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN). Là một bảo tàng, nên nếu so với những cơ quan nghiên cứu chuyên ngành như Viện Dân tộc học, việc nghiên cứu về các dân tộc của Bảo tàng DTHVN vừa có những điểm chung, vừa có một số yêu cầu và đặc điểm riêng. Có thể khẳng định rằng: “nghiên cứu là rất cần thiết đối với Bảo tàng DTHVN, để phục vụ từ sưu tầm cho đến trưng bày hay trình diễn. Mỗi cuộc trưng bày, trình diễn cũng như mỗi sản phẩm khác của Bảo tàng, muốn thành công đều phải dựa trên nghiên cứu và sử dụng các kết quả nghiên cứu - sưu tầm” (Lưu Hùng, 2011, tr. 84). Suốt những năm qua, trong lĩnh vực nghiên cứu đang đề cập ở đây, Bảo tàng DTHVN đã xác định và thực hiện theo một định hướng chung hợp lý như sau: “Nghiên cứu nhân học/dân tộc học trước hết ưu tiên gắn với sưu tầm và phục vụ các cuộc trưng bày hay trình diễn. Bên cạnh đó, cũng có những công trình nghiên cứu khác, nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, tuy không gắn trực tiếp với sưu tầm và không phục vụ tức thời cho việc tổ chức trưng bày hay trình diễn, nhưng vẫn được Bảo tàng quan tâm” (Lưu Hùng, 2011, tr. 83). Trong 17 năm kể từ khi Bảo tàng DTHVN được thành lập đến nay, về mặt tổ chức, Bảo tàng luôn có những bộ phận chuyên đảm trách công việc nghiên cứu - sưu tầm. Đó là các phòng nghiên cứu - sưu tầm được phân chia theo địa bàn công tác, trước đây gồm 4 phòng: Đồng bằng và ven biển, Miền núi miền Bắc, Trường Sơn - Tây nguyên, Đông Nam Á và khu vực; hiện nay gồm 2 phòng: Việt Nam và nước ngoài. Tuy Thông báo Dân tộc học năm 2012 83 nhiên, không ít cán bộ thuộc những bộ phận khác cũng tham gia nghiên cứu về các dân tộc. Kết quả, đã có nhiều công trình nghiên cứu và ấn phẩm về các dân tộc ở nước ta được tập thể Bảo tàng DTHVN hoặc cá nhân những tác giả công tác tại Bảo tàng thực hiện và công bố. Bản danh mục rất dài trong bài viết này1 được tập hợp chỉ trong phạm vi 17 năm ấy; đối với mỗi tác giả cụ thể, cũng chỉ tính trong khoảng thời gian họ đang là thành viên của Bảo tàng. Trong bản danh mục có bao gồm cả vài công trình tuy tác giả không thuộc Bảo tàng DTHVN, nhưng các công trình đó được thực hiện và xuất bản với sự hợp tác của Bảo tàng DTHVN. Thực ra, bản danh mục nói trên mới chỉ tập hợp được một cách cơ bản, hay nói cách khác, chưa phải là hết tất cả các công trình nghiên cứu và ấn phẩm về các dân tộc nước ta của Bảo tàng DTHVN kể từ năm 1996 tới năm 20122. Mặc dù vậy, qua đó có thể rút ra được một số nhận xét đại quát về thực trạng tình hình nghiên cứu các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng DTHVN, một cơ quan văn hoá và khoa học về các dân tộc. Cũng cần nói thêm, tuy đây là bài viết về tình hình nghiên cứu, nhưng chỉ đơn thuần đề cập trên cơ sở số lượng các công trình và ấn phẩm, hoàn toàn không đi vào nội dung hay xem xét về chất lượng của các nghiên cứu đó. Nếu sắp xếp một cách ước định các công trình nghiên cứu và ấn phẩm (từ đây gọi chung là công trình) dựa trên ba tiêu chí: tộc người, khu vực, vấn đề, thì có thể thấy một bức tranh tổng thể như sau: 1. Nghiên cứu theo tộc người 1.1. Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Có 3 dân tộc được nghiên cứu, với 62 công trình, chiếm hơn 26,7% trong tổng số công trình được tập hợp. Cụ thể như sau: - Người Việt: 59 công trình (95,16% tổng số của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường). - Người Mường: 2 công trình (3,22% trong nhóm này). - Người Thổ: 1 công trình (1,61% trong nhóm này). 1.2. Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me Có 9 dân tộc được nghiên cứu, với 30 công trình, chiếm 12,93% trong tổng số công trình được tập hợp. Cụ thể như sau: - Người Cơ-tu: 8 công trình (26,66% tổng số của nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me). 1 Như đã trình bày trong lời giới thiệu của số chuyên đề, do dung lượng có hạn nên Tạp chí Dân tộc học không thể đăng tải phần Phụ lục của bài viết nhằm thống kê số công trình nghiên cứu của các đơn vị. Phụ lục đó sẽ được công bố cùng bài viết này trên website của Viện Dân tộc học. 2 Ngoài ra, còn có khá nhiều công trình nữa tham gia các đề tài, chương trình nghiên cứu hoặc hội thảo, và đặc biệt là có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: Dân tộc & Thời đại, Văn nghệ dân tộc & miền núi, Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu Phật học, Xưa & nay... 84 L­u Hïng - Người Giẻ-Triêng: 6 công trình (20% trong nhóm này). - Người Mnông: 5 công trình (16,66% trong nhóm này). - Người Ba-na: 3 công trình (10% trong nhóm này). - Người Khơ-mú: 3 công trình (10% trong nhóm này). - Người Bru-Vân Kiều: 2 công trình (6,66% trong nhóm này). - Người Tà-ôi: 1 công trình (3,33% trong nhóm này). - Người Co: 1 công trình (3,33% trong nhóm này). - Người Xơ-đăng: 1 công trình (3,33% trong nhóm này). 1.3. Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Có 5 dân tộc được nghiên cứu, với 57 công trình, chiếm 24,57% trong tổng số công trình đã được tập hợp. Cụ thể như sau: - Người Thái: 37 công trình (64,91% tổng số của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái). - Người Tày: 11 công trình (gần 19,3% trong nhóm này). - Người Lào: 5 công trình (8,77% trong nhóm này). - Người Nùng: 3 công trình (5,26% trong nhóm này). - Người Giáy: 1 công trình (1,75% trong nhóm này). 1.4. Nhóm ngôn ngữ Kađai Chỉ có người La Chí được nghiên cứu, với 1 công trình, chiếm 0,43% trong tổng số công trình đã được tập hợp. 1.5. Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao Có 3 dân tộc được nghiên cứu, với 47 công trình, chiếm 20,26% trong tổng số công trình đã được tập hợp. Cụ thể như sau: - Người Dao: 25 công trình (53,19% tổng số của nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao). - Người Hmông: 20 công trình (42,55% trong nhóm này). - Người Pà Thẻn: 2 công trình (4,25% trong nhóm này). - Người Dao và Hmông (chung): 1 công trình (2,13% trong nhóm này). 1.6. Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến Có 4 dân tộc được nghiên cứu, với 17 công trình, chiếm 7,32% trong tổng số công trình đã được tập hợp. Cụ thể như sau: - Người Phù Lá: 6 công trình (35,29% tổng số của nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến). Thông báo Dân tộc học năm 2012 85 - Người Hà Nhì: 4 công trình (23,5% trong nhóm này). - Người Si La: 4 công trình (23,5% trong nhóm này). - Người La Hủ: 3 công trình (17,65% trong nhóm này). 1.7. Nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesia Có 4 dân tộc được nghiên cứu, với 18 công trình, chiếm 7,76% trong tổng số công trình được tập hợp. Cụ thể như sau: - Người Gia-rai: 7 công trình (38,89% tổng số của nhóm ngôn ngữ Malayo Polynesia). - Người Chăm: 5 công trình (27,77% trong nhóm này). - Người Ê-đê: 4 công trình (22,2% trong nhóm này). - Người Chu-ru: 2 công trình (hơn 11% trong nhóm này). Như vậy, tổng số có 232 công trình nghiên cứu theo tộc người, đề cập đến 29 dân tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ. Trong số 29 dân tộc đó, có thể phân loại như sau: - 6 dân tộc thuộc loại có 1 công trình - 4 dân tộc thuộc loại có 2 công trình - 4 dân tộc thuộc loại có 3 công trình - 3 dân tộc thuộc loại có 4 công trình - 3 dân tộc thuộc loại có 5 công trình - 2 dân tộc thuộc loại có 6 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 7 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 8 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 11 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 20 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 25 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 37 công trình - 1 dân tộc thuộc loại có 59 công trình Nếu coi từ 10 công trình trở lên là những con số thể hiện sự chú trọng nghiên cứu hơn, có 5 dân tộc thuộc loại này: Việt (59 công trình), Thái (37 công trình), Dao (25 công trình), Hmông (20 công trình) và Tày (11 công trình). Nếu lấy mốc tính là trên 5 công trình, có 9 dân tộc: ngoài 5 dân tộc vừa kể, thêm 4 dân tộc nữa là: Cơ-tu (8 công trình), Gia-rai (7 công trình), Phù Lá (6 công trình) và Giẻ-Triêng (6 công trình). 86 L­u Hïng Trong khi đó, nếu coi sự chưa chú trọng nghiên cứu thể hiện ở chỗ chỉ có 1 công trình riêng biệt, thì có 6 dân tộc thuộc loại này: Thổ, Giáy, Tà-ôi, Co và Xơ-đăng. Bên cạnh đó, đặc biệt đáng chú ý là còn tới 25 dân tộc không hề có công trình nghiên cứu riêng biệt nào: Chứt, Lự, Bố Y, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Ngái, Cống, Lô Lô, Pu Péo, Cờ Lao, La Ha, Xinh-mun, Kháng, Mảng, Ơ-đu, Hrê, Brâu, Rơ-măm, Mạ, Cơ-ho, Xtiêng, Chơ-ro, Khơ-me, Raglai. Mặc dù ở Việt Nam có 8 nhóm ngôn ngữ - tộc người, nhưng các công trình chỉ phân bố ở 7 nhóm, còn về các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Hán thì không có một công trình riêng biệt nào. Giữa 7 nhóm ngôn ngữ kia cũng có sự khác nhau về số dân tộc được nghiên cứu, không kể mức độ chú trọng nhiều hay ít. Điều này được phản ánh rõ nét qua các số liệu dưới đây: - Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường: 3/4 dân tộc - Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me: 9/21 dân tộc - Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái: 5/8 dân tộc - Nhóm ngôn ngữ Kađai: 1/4 dân tộc - Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao: 3/3 dân tộc - Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến: 4/6 dân tộc - Nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesia: 4/5 dân tộc 2. Nghiên cứu theo vùng Tổng cộng có 233 công trình, nghiên cứu trên cả 5 vùng lãnh thổ. 2.1. Vùng đồng bằng Bắc Bộ: Có 35 công trình, chiếm hơn 15% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Những nghiên cứu ở vùng này đều tập trung vào người Việt. 2.2. Vùng miền núi miền Bắc: Có 129 công trình, chiếm 55,36% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Những nghiên cứu ở vùng này tập trung vào 16 dân tộc: Thái (37 công trình), Hmông (20 công trình), Dao (25 công trình), Tày (11 công trình), Phù Lá (6 công trình), Lào (5 công trình), Hà Nhì (4 công trình), Si La (4 công trình), La Hủ (3 công trình), Nùng (3 công trình), Khơ-mú (3 công trình), Mường (3 công trình), Pà Thẻn (2 công trình), Thổ (1 công trình), Giáy (1 công trình), La Chí (1 công trình). 2.3. Vùng ven biển miền Trung: Có 15 công trình, chiếm 6,43% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Những nghiên cứu ở vùng này tập trung cả vào hai dân tộc là Việt và Chăm. Thông báo Dân tộc học năm 2012 87 2.4. Vùng miền núi Bắc Trung Bộ & Tây Nguyên: Có 49 công trình, chiếm hơn 21% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Trong đó, 11 công trình đi vào những vấn đề chung trong vùng, còn 37 công trình khác nghiên cứu riêng biệt về 11 dân tộc: Cơtu (6 công trình), Gia-rai (7 công trình), Giẻ-Triêng (6 công trình), Mnông (4 công trình), Ba-na (3 công trình), Bru-Vân Kiều (2 công trình), Ê-đê (2 công trình), Chu-ru (2 công trình), Xơ-đăng (1 công trình), Co (1 công trình), Tà-ôi (1 công trình). 2.5. Vùng đồng bằng Nam Bộ: Có 5 công trình, chiếm 2,15% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Trong đó, 1 công trình đề cập vấn đề chung trong vùng, còn 4 công trình khác nghiên cứu riêng biệt về 2 dân tộc: Việt (2 công trình) và Chăm (2 công trình). 3. Nghiên cứu theo vấn đề Có thể phân chia thành hai mảng lớn: 1) Nghiên cứu kiểu truyền thống hay kiểu hàn lâm; và 2) Nghiên cứu phát triển. Trong mỗi mảng này lại bao gồm những lĩnh vực, chủ đề khác nhau. 3.1. Nghiên cứu kiểu truyền thống Có 221 công trình thuộc mảng này, chiếm 82,46% tổng số công trình nghiên cứu của cả hai mảng, phân bố trên 5 lĩnh vực sau: - Về lý thuyết: 1 công trình, chiếm khoảng 0,45%. - Về dân tộc chí, lịch sử và quan hệ tộc người: 39 công trình, chiếm khoảng 17,64%. - Về văn hoá vật chất: 83 công trình, chiếm hơn 37,55%, trong đó: + Vấn đề chung: 7 công trình (8,43% số công trình văn hoá vật chất). + Trang phục: 13 công trình (15,66% số công trình văn hoá vật chất). + Nhà cửa: 22 công trình (25,5% số công trình về văn hoá vật chất). + Ẩm thực: 4 công trình (4,82% số công trình về văn hoá vật chất). + Hoạt động mưu sinh: 7 công trình (8,43% số công trình về văn hoá vật chất). + Nghề thủ công: 29 công trình (gần 35% số công trình về văn hoá vật chất). - Về văn hoá xã hội: 28 công trình, 12,67%, trong đó: + Phong tục chu kỳ đời người: 13 công trình (46,43% số công trình về văn hoá xã hội). + Tổ chức và quan hệ xã hội: 12 công trình (42,85% số công trình về văn hoá xã hội). + Luật tục: 3 công trình (10,7% số công trình về văn hoá xã hội). - Về văn hoá tinh thần: 70 công trình, gần 31,7%, trong đó: 88 L­u Hïng + Tín ngưỡng - tôn giáo: 44 công trình (62,85% số công trình về văn hoá tinh thần). + Tri thức dân gian: 12 công trình (17,14% số công trình về văn hoá tinh thần). + Lễ hội: 6 công trình (8,57% số công trình về văn hoá tinh thần). + Trò chơi dân gian: 3 công trình (gần 4,3% số công trình về văn hoá tinh thần). + Nghệ thuật dân gian: 3 công trình (gần 4,3% số công trình về văn hoá tinh thần). + Hoa văn: 1 công trình (1,43% số công trình về văn hoá tinh thần). 3.2. Nghiên cứu phát triển Có 47 công trình nghiên cứu thuộc mảng này, chiếm khoảng 17,53% tổng số công trình của cả hai mảng, bao gồm 5 vấn đề sau: - Vấn đề đô thị hoá: 3 công trình (6,38% số công trình nghiên cứu phát triển). - Vấn đề môi trường & tài nguyên: 5 công trình (10,63% số công trình nghiên cứu phát triển). - Vấn đề bảo tồn & biến đổi: 32 công trình (68,08% số công trình nghiên cứu phát triển). - Vấn đề dân số, dân cư: 2 công trình (4,25% số công trình nghiên cứu phát triển). - Vấn đề chính sách & cán bộ: 5 công trình (10,64% số công trình nghiên cứu phát triển). Vài nhận xét - Thứ nhất, số lượng công trình nghiên cứu không đều giữa các tộc người. Có 5 tộc người được chú ý nhiều hơn cả (Việt, Thái, Dao, Hmông và Tày), chiếm khoảng 65,5% tổng số công trình theo tộc người. Nếu tính từ mức trên 5 công trình thì có 9 tộc người (thêm các tộc Cơ-tu, Gia-rai, Giẻ-Triêng và Phù Lá), chiếm khoảng 77,15% tổng số công trình. Trong khi đó, có 10 tộc người chỉ mới được nghiên cứu 1-2 công trình và có 25 tộc người chưa được đề cập với tư cách những công trình riêng biệt. Phần lớn các tộc người dân số ít chưa được chú ý tới trong nghiên cứu chuyên sâu. - Thứ hai, số lượng công trình nghiên cứu không đều giữa các vùng miền. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào 3 khu vực (miền núi miền Bắc, miền núi Bắc Trung Bộ & Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ), trong khi hai vùng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ rất ít được chú ý tới: cả hai vùng này chỉ chiếm khoảng 8,58% tổng số công trình theo vùng. Những cư dân ở vùng xa, vùng hẻo lánh và các tỉnh phía Nam còn ít được nghiên cứu, thậm chí nhiều vùng rộng lớn vẫn hầu như còn bỏ trống trong nghiên cứu chuyên sâu. - Thứ ba, số lượng công trình nghiên cứu có sự chênh lệch nhiều giữa các lĩnh vực và chủ đề, được thể hiện rõ qua những số liệu thống kê ở các cấp độ được nêu trong các phần Thông báo Dân tộc học năm 2012 89 trình bày trên đây. Nổi bật là, số công trình kiểu truyền thống hay hàn lâm nhiều gấp 4,7 lần so với số công trình nghiên cứu phát triển. Trong mảng nghiên cứu kiểu truyền thống, chiếm phần lớn số công trình là về hai lĩnh vực: văn hoá vật chất (khoảng 37,55%) và văn hoá tinh thần (khoảng 31,7%); lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết thì không đáng kể, chỉ có 1 bài tạp chí. Trong văn hoá vật chất, số công trình về nghề thủ công, nhà cửa và trang phục chiếm tỷ lệ lớn. Trong văn hoá tinh thần, đa số tập trung vào lĩnh vực tín ngưỡng - tôn giáo (62,85%), tiếp đến là tri thức dân gian (17,14%). Về nghiên cứu phát triển, sự thiên lệch cũng rõ rệt: có tới hơn 68% số công trình đề cập đến vấn đề bảo tồn và biến đổi, nhưng các vấn đề dân cư, dân số hay đô thị hoá thì chỉ có 2 - 3 công trình. - Thứ tư, đa số các công trình nghiên cứu là kết quả của việc thực hiện một dự án, đề tài hay nhiệm vụ ở cấp nào đó, nghĩa là có điều kiện để tiến hành nghiên cứu, đặc biệt là có sự tài trợ về kinh phí, hoặc được thực hiện gắn với việc làm luận án (hầu hết là luận án trên đại học). Đây là một trong những lý do đã dẫn đến tình trạng “không đều” một cách trầm trọng như đã nêu trong ba nhận xét trên đây. - Thứ năm, việc nghiên cứu còn tuỳ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng là có “chuyên gia” hay không. Thực tế cho thấy, đã xuất hiện một số người nghiên cứu theo hướng tập trung vào một tộc người hay một vấn đề nào đó, ở chừng mực nhất định có thể tạm coi họ như những “chuyên gia”. Tuy vậy, đội ngũ cán bộ nghiên cứu về các dân tộc ở Bảo tàng DTHVN đang có nhiều hạn chế, bất cập, vừa thiếu những người chuyên sâu về từng dân tộc hay từng vùng, vừa thiếu những người chuyên sâu về từng lĩnh vực nghiên cứu trong Dân tộc học. - Cuối cùng, những thực tế trên đây cho thấy việc nghiên cứu về các tộc người của Bảo tàng DTHVN trong 17 năm qua (1996 - 2012) không được tổ chức và thực hiện theo một kế hoạch tổng thể nào cả, mà chủ yếu tuỳ thuộc từng người nghiên cứu hay nhóm nghiên cứu, liên quan đến cơ hội nghiên cứu, mà đó thường là dự án, đề tài, luận án. Tài liệu tham khảo 1. Lưu Hùng (2011), “Một cái nhìn tổng quan về chặng đường nghiên cứu - sưu tầm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 15 năm qua (1995 - 2010)”, trong: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Tập 7, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. (Tham khảo thêm Phụ lục 2) 90 L­u Hïng PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU & ẤN PHẨM VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM (1996 - 2012) Để tiện theo dõi và đáp ứng yêu cầu phân tích trong bản danh mục này, các công trình nghiên cứu hay ấn phẩm được sắp xếp một cách ước định thành ba phần riêng biệt theo ba tiêu chí: 1- Theo tộc người 2- Theo vùng 3- Theo vấn đề Thêm nữa, trong mỗi phần đó lại có sự sắp xếp nhất quán theo trình tự thời gian, ngược dần từ năm 2012 trở về trước. A. THEO TỘC NGƯỜI I. Nhóm ngôn ngữ Việt – Mường 1. Người Việt 1. "Cư dân mặt nước ở sông Hương (Huế) và đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên – Huế". Đề tài cấp bộ, Lê Duy Đại chủ nhiệm, 2011-2012, 219 trang. 2. "Nghiên cứu hội làng và thờ cúng Thành hoàng của người Kinh xuyên quốc gia giữa Việt Nam và Trung Quốc". Vũ Hồng Thuật, tham gia đề tài cấp bộ (chủ nhiệm: Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), 2010-2013. 3. "Nghiên cứu so sánh nghi lễ bùa chú của người Kinh hai nước Việt – Trung (lấy người Kinh quận Đồ Sơn, Hải Phòng, Việt Nam và người Kinh trấn Giang Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu chính)". Vũ Hồng Thuật, luận án tiến sĩ, Viện Dân tộc học, Trường ĐH Vân Nam, Trung Quốc, 2013. 4. “Constructing Civil Society on a Demolition Site in Hanoi” [Xây dựng xã hội công dân qua một dự án đền bù giải tỏa tại Hà Nội]. Nguyễn Vũ Hoàng, trong State, Society and the Market in Contemporary Vietnam: Property, Power and Values [Nhà nước, xã hội và thị trường của Việt Nam đương đại: Tài sản, quyền lực và giá trị], HueTam Ho Tai (chủ biên) & Mark Sidel, Nxb Routledge, New York, 2012, tr. 87-102. 5. “Nhân học xuyên quốc gia: Những tiếp cận lý thuyết nhân học về người Việt tại Hoa Kỳ”. Nguyễn Vũ Hoàng, tạp chí Dân tộc học, số 4/2012, tr. 60-72. Thông báo Dân tộc học năm 2012 91 6. "Đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở Việt Nam". Vũ Hồng Thuật, tạp chí Nghiên cứu văn hóa dân tộc Trung Quốc, số 6/2012, tiếng Trung. 7. "Lễ hội đình làng của người Việt ở thôn Sơn Tâm, thị trấn Giang Bình, Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và chức năng xã hội của nó". Vũ Hồng Thuật, hội nghị Thông báo Văn hóa dân gian, Viện nghiên cứu Văn hóa, tháng 12/2012. 8. "Thờ cúng Đức Thánh Trần của người Việt ở Trung Quốc – một tín ngưỡng độc đáo cố kết cộng đồng hải ngoại". Vũ Hồng Thuật, hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 4, Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 26-28/11/2012. 9. "Về cộng đồng người Bồ Lô ở vùng ven biển Hà Tĩnh". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 4/2011. 10. "Bước đầu tìm hiểu các loại hình bùa chú của người Việt". Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 403-426. 11. "Hợp tác xã thuốc dân tộc Chùa Bộc với việc bảo tồn tri thức y dược học cổ truyền". Đỗ Thị Thu Hiền, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 439-462. 12. Tìm hiểu vai trò của dòng họ người Việt ở một làng Bắc Bộ (Nghiên cứu trường hợp làng Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội). Phạm Minh Phúc, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2011. 13. "Luận bàn về một số đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam". Vũ Hồng Thuật, kỷ yếu hội thảo quốc tế Lịch sử văn hóa cư dân Bách Việt trong bối cảnh văn hóa, lịch sử của các cư dân đảo Hải Nam, tại TP Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc; Nxb Sư phạm Hải Nam, 2011, tr. 431-440, tiếng Trung. 14. "Thủ sắc đường làng Văn Sơn (Thạch Đỉnh, Thạch Hà, Hà Tĩnh)". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 3/2010. 15. "Nghiên cứu giới thiệu ngôi nhà người Việt trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam". Vũ Thị Thanh Tâm và nhóm nghiên cứu, thuộc nhiệm vụ cấp Bộ Nghiên cứu giới thiệu ngôi nhà người Việt, Chăm, Êđê trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2009-2010. 16. "Nhận diện văn hoá phi vật thể của cộng đồng cư dân phố cổ Hà Nội". Võ Mai Phương, trong Bảo tàng và nhân học đô thị, Nxb Từ điển bách khoa, H, 2009, tr. 286-302. 17. "Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả: trường hợp nghiên cứu ở Ninh Thuận và Bình Thuận". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3/2009. 18. "The Van chai and its role in the hierarchy of fisheries administration in Vietnam". Nguyễn Duy Thiệu đồng tác giả, trong The Van chai of Vietnam: Managing 92 L­u Hïng nearshore fisheries and fishing communities, International Resources Management Institute Publication, số 3/2009. 19. "The role of flating villages in social life of fishersin South-Central Region". Nguyễn Duy Thiệu, trong The Van chai of Vietnam: Managing nearshore fisheries and fishing communities, International Resources Management Institute Publication, số 3/2009. 20. Sống trong bí tích – Văn hoá Công giáo đương đại Việt Nam. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2009. 21. “Three Goddesses in and out of their Shrine”. Vũ Thị Thanh Tâm đồng tác giả, tạp chí Asian Ethnology, vol. 67, số 2/2008, tr. 219-236. 22. Di cư và chuyển đổi lối sống: Trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào. Nguyễn Duy Thiệu chủ biên, 3 ngữ, Nxb Thế giới, H, 2008, 480 trang. 23. Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào. Nguyễn Duy Thiệu đồng tác giả, Nxb KHXH, H, 2008. 24. “Vốn xã hội trong đô thị: Một nghiên cứu nhân học về hành động tập thể ở một dự án phát triển đô thị tại Hà Nội”. Nguyễn Vũ Hoàng, tạp chí Dân tộc học, số 5/2008, tr. 11-26. 25. “Nghề tạc tượng thờ Sơn Đồng”. Vũ Thị Thanh Tâm, tạp chí Dân tộc học, số 2/2008, tr. 58-70. 26. "Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch". Vũ Hồng Thuật, trong Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, Lê Hồng Lý & Nguyễn Thị Phương Châm chủ biên, Nxb Thế giới, H, 2008, tr. 227-257. 27. "Khẩu dậu cá, nét đặc trưng riêng của làng Việt cổ truyền ở vùng biển đảo: trường hợp làng Quan Lạn". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 4/2008. 28. "Amulets and the Marketplace". Vũ Hồng Thuật, tạp chí Asian Ethnology, vol. 67, số 2/2008, tr. 237-255. 29. "Nghề chạm khắc gỗ ở ấp Long Định, xã Long Điền A, huyện Chợ Mới, An Giang". Vũ Thị Thanh Tâm, trong Nam Bộ: Đất và Người, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2007, tr. 247-256. 30. "Cộng đồng người Việt ở Lào, sinh tồn và giữ gìn bản sắc". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007. 31. "Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3/2007. 32. "Suy ngẫm về văn hoá biển ở Việt Nam". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 1/2007. 33. "Thực trạng nghề làm giấy dó ở Đống Cao, Bắc Ninh". Vũ Hồng Thuật, hội thảo quốc tế tại Vân Nam - Trung Quốc, tháng 9/2005. Thông báo Dân tộc học năm 2012 93 34. “Phụ nữ Đại Yên với nghề thuốc nam”. Vũ Thị Hà, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 150-165. 35. "From Do paper to Dong Ho Folk prints". Vũ Hồng Thuật, trong The Preservation and Exhibition of East Asean Culture in Relation to Folk Craft Aesthetics, Tokyo, 2003, tr. 61-68. "Từ giấy dó đến tranh Đông Hồ - một hành trình văn hoá", tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 1/2005, tr. 59- 65. 36. "Nghề sơn ở làng Ngọ Trang". Vũ Thị Thanh Tâm, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 223-245. 37. "Vì sao người dân xã Sơn Kim vẫn tiếp tục vào rừng săn bắt thú". Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 297-314. 38. "Nghề rèn làng Đa Sĩ, xã Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Tây". Vũ Thị Thanh Tâm, đề tài cấp viện, 2004. 39. “Nghề sơn mài làng Hạ Thái”. Hoàng Thị Tố Quyên, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr. 90-115. 40. "Trò Trám Festival and the Veneration of Ngô Thị Thanh in a Vietnamese Village". Vũ Hồng Thuật, trong The Art of Rice Spirit and Sustenance in Asia, Bảo tàng Lịch sử - Văn hoá Fowler, Los Angeles, Hoa Kỳ, 2003, tr. 218-239. 41. "Nghề làm gốm ở Phù Lãng (Bắc Ninh)". Vũ Thị Thanh Tâm, dự án Dạy nghề gốm Phù Lãng cho trẻ em tại Bảo tàng DTHVN, 2003. 42. “Lễ hội cầu ngư ở Mân Thái (Tục thờ cá voi và lễ hội cầu ngư ở phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng)”. Nguyễn Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 138-157. 43. “Tìm hiểu nghề nặn tò he”. Vũ Hồng Nhi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 158-169. 44. "Các hình thức đánh bắt cá của người Việt ở xã Sơn Kim, Hương sơn, Hà Tĩnh". Vũ Hồng Thuật, tạp chí Dân tộc học, số 3/2002, tr. 72-75. 45. “Phương thức đánh bắt thủy sinh truyền thống ở vùng chiêm trũng huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”. Đỗ Minh Cao, tạp chí Dân tộc học, số 3/2001. 46. “Nghề giấy và các làng giấy truyền thống”. Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr. 157-176. 47. “Một số hình thức đánh bắt hải sản sơ khai ở vùng biển Đông Bắc”. Nguyễn Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr. 117-129. 94 L­u Hïng 48. "Môi trường của cộng đồng người Việt & Lào ở khu vực Đại Kim, xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh". Vũ Hồng Thuật, tham gia dự án hợp tác nghiên cứu với Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, 2001, 255 trang. 49. “Nghề nón làng Chuông”. Phạm Minh Phúc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2001. 50. “Vài nét về gia phả và giá trị giáo dục cộng đồng của nó”. Phạm Minh Phúc, hội thảo Gia phả Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại tại Bảo tàng DTHVN, tháng 5/2001. 51. "Lễ hội làng Trám". Vũ Hồng Thuật, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000, tr. 981- 987. 52. "Các nghi lễ liên quan đến ngôi nhà người Việt ở Triệu Sơn, Thanh Hoá". Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2000. 53. “Tác động của sự đổi mới đối với đời sống kinh tế - xã hội của Mông Phụ, Đường Lâm”. Bế Viết Đẳng, tạp chí Dân tộc học, số 4/1999. 54. "L'Environnement végétal à Duong Lâm". Võ Thị Thường, trong Mong phu, un village du delta du Fleuve Rouge (Vietnam), Nguyễn Tùng chủ biên, L'Harmattan, Pari, 1999, tr. 227-256. ["Môi trường thực vật ở Đường Lâm", trong Mông Phụ - một làng ở đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2003, tr. 177-205]. 55. “Tìm hiểu diều sáo truyền thống”. Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 217-221. 56. “Nông nghiệp Việt, một đối tượng nghiên cứu – sưu tầm cấp bách và hấp dẫn”. Nguyễn Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 89-105. 57. "Đôi điều về nghi lễ thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ". Vũ Hồng Thuật, tạp chí Dân tộc học, số 2/1999, tr. 39-45. 58. "Hiện vật cúng Mụ của người Việt trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam". Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 360-383. 59. “Đôi nét về văn hoá của người Việt ở quần đảo Lý Sơn”. Mai Thanh Sơn (bút danh Nguyễn Sơn Trà), trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 271-282. 2. Người Mường 1. “Thế giới quan và vai trò của ông mo trong tang lễ của người Mường ở Hoà Bình”. Hoàng Thị Thu Hằng, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 353-364. 2. Người Mường ở Hoà Bình. Mai Thanh Sơn đồng tác giả, Nxb Thế giới, H, 1999. Thông báo Dân tộc học năm 2012 95 3. Người Thổ 1. “Một vài nét về tang lễ của người Thổ ở miền Tây Nghệ An”. Võ Thị Mai Phương, tạp chí Dân tộc học, số 2/1998. II. Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme 1. Người Cơtu 1. "Tập tục chữa bệnh bằng ma thuật ở người Cơtu". Lưu Hùng, hội thảo quốc tế tại Vientiane, tháng 2/2012, 26 trang. 2. The Katu Village: An Interpretive Ethnography of the Avuong Katu in Central Vietnam. Kaj Arhem, ĐH Goteborg - Thuỵ Điển, 2010, 337 trang (dự án nghiên cứu dân tộc học về người Cơtu, hợp tác giữa ĐH Goteborg & Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam). 3. "Tiếp cận đô thị và những chuyển biến trong đời sống của người Cơtu (trường hợp thôn Adhing 3, thị trấn Prao, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam)". Vũ Phương Nga, trong Bảo tàng và nhân học đô thị, Nxb Từ điển bách khoa, H, 2009, tr. 318-331. 4. In the Sacred Forest: Landsscape, livelihood and spirit beliefs among the Katu of Vietnam. Nikolas Arhem, ĐH Goteborg - Thuỵ Điển, 2009, 206 trang (dự án nghiên cứu dân tộc học về người Cơtu, hợp tác giữa ĐH Goteborg & Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam). 5. "Katu women's traditional curative skills". Vũ Phương Nga, tạp chí Vietnamse Studies, số 1+2/2008, tr. 99-122. 6. Góp phần tìm hiểu văn hoá Cơtu. Lưu Hùng, Nxb KHXH, H, 2006, 290 trang. 7. “Săn bắt chim muông và tín ngưỡng liên quan của người Cơtu”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 3/2005, tr. 8-14. 8. “Nhà gươl của người Cơtu trong truyền thống nhà công cộng ở Trường Sơn – Tây Nguyên”. Lưu Hùng, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam" (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 13-41. 2. Người Gié-Triêng 1. Nhà ở của người Triêng ở Việt Nam. Phạm Văn Lợi, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2010, 295 trang. 2. “Một số quy cách cổ truyền trong làm và dựng nhà ở của người Triêng tỉnh Kon Tum”. Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr. 23-41. 3. “Kết cấu bộ khung nhà ở của người Triêng tỉnh Kon Tum”. Phạm Văn Lợi, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr. 49-60. 4. “Nghề gốm Giẻ-Triêng”. Phạm Văn Lợi, tạp chí Dân tộc học, số 2/2000, tr. 18-25. 96 L­u Hïng 5. “Một vài nhận xét về nghề dệt truyền thống của người Triêng ở Quảng Nam”. Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 135-149. 6. “Nhà ở cổ truyền của người Bnoong”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 1/1999, tr 42-49. 3. Người Mnông 1. “Người Mnông trước tình trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên (qua tìm hiểu ở một số làng)”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 5/2002, tr. 10-16. 2. “Kết cấu bộ khung nhà ở của người Triêng tỉnh Kon Tum”. Phạm Văn Lợi, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr. 49-60. 3. “Vài nét về truyền thống quản lý và bảo vệ rừng của người Mnông (qua tìm hiểu ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk)”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 3/2001, tr 6-15. 4. “Người Êđê và Mnông ở Đắc Lắc - truyền thống và những biến đổi”. Phạm Văn Lợi, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2000, tr. 69-80 5. Hoa văn cổ truyền Đak Lăk. Chu Thái Sơn chủ biên, Nxb KHXH, H, 2000. 4. Người Bana 1. "Người Bana làng Kon Rbàng". Lưu Hùng, Phạm Văn Lợi & Nguyễn Trường Giang, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 6), Nxb KHXH, H, 2008, tr. 11-214. 2. “Ghi chép điền dã về 4 ngôi nhà rông người Bana ở Kon Tum”. Lưu Hùng & Nguyễn Trường Giang, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr. 42-69. 3. “Tín ngưỡng trong chu kì canh tác nương rẫy của người Bana Rơngao vùng ven thị xã Kon Tum”. Nguyễn Trường Giang, tạp chí Dân tộc học, số 3/2002. 5. Người Khơmú 1. "Nghề đan lát của người Khơmú". La Công Ý, Vi Văn An, Võ Mai Phương & Phạm Minh Phúc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 6), Nxb KHXH, H, 2008, tr. 215-359. 2. Người Khơmú. Vi Văn An & Chu Thái Sơn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006. 3. “Tìm hiểu nguyên liệu đan lát của người Khơmú”. Phạm Minh Phúc, tạp chí Dân tộc học, số 1/2005. 6. Người Bru-Vân Kiều 1. "Land worship ritual and kruong organization among the Bru-Vankieu". Phạm Văn Lợi, tạp chí Vietnamse Studies, số 1+2/2008, tr. 123-139. Thông báo Dân tộc học năm 2012 97 2. “Người Bru-Vân Kiều”. Phạm Văn Lợi, báo cáo kết quả nghiên cứu, dự án nghiên cứu các dân tộc nhóm ngôn ngữ Katuic ở Việt Nam (hợp tác giữa Bảo tàng DTHVN với GS Kaj Arhem thuộc ĐH Goteborg - Thuỵ Điển), 2005, 120 trang. 7. Người Tàôi 1. "Hunting with the Taoi from Ahuor village". Nguyễn Trường Giang, tạp chí Vietnamse Studies, số 1+2/2008, tr. 67-72. 8. Người Co 1. “Vài nét về tín ngưỡng của người Co”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 1/2004, tr. 13-21. 9. Người Xơđăng 1. “Góp phần tìm hiểu nghề rèn của người Tơđrá”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 4/1997, tr 7-17. III. Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái 1. Người Thái 1. "Ứng phó với biến đổi khí hậu qua kinh nghiệm dân gian của người Thái ở Nghệ An". Vi Văn An, hội thảo quốc tế Bảo tàng với biến đổi khí hậu toàn cầu..., Huế, 6/2012. 2. "Tái định cư và sự thay đổi sinh kế của người Thái ở bản Mà, xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An". Vi Văn An đồng tác giả, tạp chí Dân tộc học, số 2/2012, tr. 33-49. 3. "Tập quán xin và nhận con nuôi của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá". Vũ Phương Nga, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 427-438. 4. "Góp thêm tư liệu về quan hệ nguồn gốc của các nhóm Thái ở Lào và người Thái Việt Nam". Vi Văn An, hội thảo quốc tế Nghiên cứu, đào tạo nhân học ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi và hội nhập quốc tế, H, 20/10/2010. 5. "Tri thức dân gian của người Thái trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước". Vi Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 1/2008, tr. 15-24. 6. "Displaying the Xặng bók Tree of the Thái People". Võ Thị Thường, tạp chí Asian Ethnology, số 2/2008, tr. 287-304. 7. “Nghề dệt của người Thái ở Việt Nam”. Vi Văn An đồng tác giả, trong Đồ vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: tiếp nối và biến đổi, Bảo tàng DTHVN, 2006, tr. 75-92. 8. “Các giá trị trong văn hoá truyền thống của người Thái Bắc Trung Bộ”. Vi Văn An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 387-399. 98 L­u Hïng 9. “Các món ăn của người Thái Đen ở thị xã Sơn La”. Nguyễn Thị Hồng Mai, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 400-436. 10. “Vai trò của phụ nữ Thái trong việc bảo tồn và duy trì giá trị văn hoá tộc người”. Vi Văn An, tạp chí Khoa học và phụ nữ, số 4/2004, tr. 21-27. 11. “Về mối quan hệ nguồn gốc và những nét tương đồng văn hoá giữa người Thay Đăm, Thay Khao, Thay Đeng với người Thái ở Việt Nam”. Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2004, tr 51-62. 12. “Câu chuyện về chiếc ống xem bói của thày bói người Thái ở Nghệ An”. Vi Văn An, tham gia dự án nghiên cứu Đời sống tâm linh hiện vật (hợp tác với TS. Lauren Kendall, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ), 2004, 19 trang. 13. “Hành vi, thái độ và tập quán liên quan đến việc sinh đẻ, chăm sóc và nuôi dạy con cái của các dân tộc Tày, Nùng và Hmông (Qua tư liệu khảo sát tại xã Tà Chải, huyện Bắc Hà và hai xã Bản Mế, Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai)”. Vi Văn An, tham gia dự án Phát triển toàn diện trẻ em của Trung tâm E&D (Pháp), H, 2003, 30 trang. 14. “Rice Harvest Rituals in Two Highland Tai Communities in Vietnam”. Vi Văn An & Eric-Crystal, trong The Art of Rice (Spirit and Sustenance in Asia), Bảo tàng Lịch sử văn hoá Fowler, Los Angeles, Hoa Kỳ, 2003, tr.119-134. 15. “Some features on Municipality Foudation of the Thai people in the west of Nghe An Province, Vietnam”. Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 8, Nakhophanom, Thái Lan, tháng 1/2002. 16. “Kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước phục vụ sản xuất nông nghiệp của người Thái Đen tại bản Poọng, xã Hua La, thị xã Sơn La”. Phạm Văn Dương, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, H, 2002, tr. 230-240. 17. "Một số tập quán trong sinh đẻ và nuôi con nhỏ của người Thái Trắng ở Mường So". La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr. 449-452. 18. "Nghề gốm của người Thái ở Mường Chanh". La Công Ý, tạp chí Dân tộc học, số 6/2002. 19. "Lễ cha chiêng của người Thái Mai Châu, Hoà Bình (Việt Nam)". Võ Thị Thường, trong Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin, H., 2002, tr. 583-595. 20. "Médecine populaire: Rites et thérapeutie chez les Thai de Mai Châu (Việt Nam)". Thèse de doctorat, soutenue en 2002 à l’Université Paris 10 - Nanterre ["Y học dân gian: nghi lễ và liệu pháp chữa trị ở vùng người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt Nam". Võ Thị Thường, luận án tiến sĩ, ĐH Tổng hợp Pari 10 - Nanterre, Pháp, 2002, 450 trang]. Thông báo Dân tộc học năm 2012 99 21. "Những biến đổi trong các truyền thống xã hội của người Thái ở huyện Quỳ Châu". Mai Thanh Sơn, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr. 192-199. 22. "Flower tree of the Thai Yo (Thanh Hóa, Việt Nam)". Võ Thị Thường đồng tác giả, Altars and Shrines of the World, Museum Kunst Palast, Dusseldort, 9/2001-1/2002, tr. 116-119. ["Cây hoa nghi lễ của người Tày Dọ ở Thanh Hóa, Việt Nam", trong catalogue trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật đương đại của Đức, từ 9/2001 đến 1/2002, tiếng Đức]. 23. “Tính thống nhất và tính khác biệt về trang phục của phụ nữ Thái ở Việt Nam”. Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2001, tr 74-80. 24. “Góp phần tìm hiểu về hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền tây Nghệ An”. Vi Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr. 32-36. 25. “Nước và kỹ thuật dẫn thuỷ nhập điền của người Thái Đen ở bản Poọng, xã Hua La, thị xã Sơn La”. Phạm Văn Dương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr. 203-222. 26. "Mấy suy nghĩ về một số biến đổi trong văn hóa vật chất của người Thái ở Quỳ Châu". Mai Thanh Sơn đồng tác giả, tạp chí Dân tộc học, số 1/2001. 27. “Some thoughts about the name “Red Thai” in Vietnam”. Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 7, Amsterdam, Hà Lan, tháng 7/1999; “Về tên gọi Thái Đỏ ở Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2000, tr. 49-59. 28. “Thai weaving in Nghe An Province, Vietnam: The real situation and Challenges). Vi Văn An, hội thảo quốc tế về Bảo tồn và phát triển văn hoá tộc người, trường ĐH Columbia tổ chức tại Côn Minh, Vân Nam - Trung Quốc, 1999. 29. "Nghi lễ chữa bệnh của người Thái ở Mai Châu (Hoà Bình, Việt Nam)". Võ Thị Thường, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 222-261. 30. "Ma thuật chữa bệnh ở xã hội Thái cổ truyền". Cầm Trọng, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 207-216. 31. Luật tục Thái ở Việt Nam. Cầm Trọng & Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 1999. 32. "Về bộ y phục của phụ nữ Tày Thanh trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam". Vi Văn An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 83-88. 33. "Local knowledge for treating maladies among the Thai in Mai Châu (Hòa Bình, Việt Nam)". Võ Thị Thường, Vietnamese - Thai collaborative workshop on the Ethnic communites in changing environment, 9-15/12/1998. ["Tri thức dân gian trong 100 L­u Hïng phòng chữa bệnh tật của người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt Nam", báo cáo tại hội thảo quốc tế ở Chiềng Mai, Thái Lan, 1998]. 34. “Về tên gọi và lịch sử cư trú của các nhóm Thái ở miền tây Nghệ An”. Vi Văn An, trong Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1998, tr. 318-331. 35. “Về quá trình hình thành các tổ chức mường của người Thái ở miền tây Nghệ An”. Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2/1998, tr 50-55. 36. “Structure of Social organization and land owneship of the Thai people in the Highway N0 7 of Nghe An province”. Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 6, Chiềng Mai, Thái Lan, tháng 10/1996. 37. “Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở miền núi Nghệ An”. Vi Văn An, tạp chí Văn hóa dân gian, số 2/1996, tr. 61-68. 2. Người Tày 1. Đến với người Tày và văn hoá Tày. La Công Ý, Nxb KHXH, H, 2010, 415 trang. 2. "Đàn tính – The Marvelous and Sacred Musical Instrument of the Tày People". La Công Ý, tạp chí Asian Ethnology, vol. 67, số 2/2008, tr. 271-286. 3. "Nghệ thuật rối Tày: Hành trình qua thời gian và hành trình của một nhà dân tộc học trong việc tìm kiếm để giới thiệu về văn hoá người Tày". La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 273-296. 4. "The perilous juorney of the then spirit army: A shamanic ritual of the Tay people". La Công Ý, trong Vietnam: Journeys of Body, Mind and Spirit (Nguyễn Văn Huy & Lauren Kedall chủ biên), Nxb Berkely, ĐH California, Hoa Kỳ, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2003, tr. 238-251. 5. "Cây đàn tính trong đời sống của người Tày ở Lạng Sơn". La Công Ý & Lê Đức Hùng, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr. 692-696. 6. "Một số tư liệu về lễ kỳ yên của người Tày ở Bình Gia (Lạng Sơn)". La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 170-183. 7. "Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Định Hoá (Thái Nguyên)". La Công Ý, tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 6/ 2002, tr. 31-35. 8. "Chuyện rối Tày làng Thẩm Rộc". La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr. 688-691. Thông báo Dân tộc học năm 2012 101 9. "Một số tư liệu về nhà sàn truyền thống của người Tày ở Định Hoá (Thái Nguyên)". La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr. 106-116. 10. "Hội lồng tồng của người Tày". La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 106-113. 11. "Lễ lẩu then của người Tày". La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 1998, tr. 229-232. 3. Người Lào 1. Trang phục của người Lào ở Tây Bắc Việt Nam. Võ Thị Mai Phương, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2012, 288 trang. 2. “Tìm hiểu nghề dệt của người Lào qua phương pháp photovoice”. Võ Thị Mai Phương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 246-270. 3. "Khai thác và sử dụng cây thuốc ở người Lào, Hà Tĩnh", và "Vì sao người dân xã Sơn Kim vẫn tiếp tục vào rừng săn bắt thú". Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 166-179 và 297-314. 4. "Tang ma của người Lào (qua điều tra tại xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh)". Vũ Hồng Thuật, trong Thông báo Văn hoá dân gian, Nxb KHXH, H, 2002, tr 487-495. 5. "Môi trường của cộng đồng người Việt & Lào ở khu vực Đại Kim, xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh". Vũ Hồng Thuật, tham gia dự án hợp tác nghiên cứu với Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, 2001, 255 trang. 4. Người Nùng 1. "Nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen". La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 361-383. 2. “Dân tộc Nùng”. Vi Văn An, trong Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang, Nxb Thế giới, H, 2003, tr. 145-174. 3. “Dân tộc Nùng”. Vi Văn An, trong Địa chí huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, Huyện uỷ & UBND huyện Tràng Định, Lạng Sơn, 2000. 5. Người Giáy 1. "Nghề chế tác bạc của người Giáy ở Bát Xát (Lào Cai)". La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H., 2002, tr. 253-255.
- Xem thêm -