Tình hình lạm phát ở việt nam hiện nay nguyên nhân và giải pháp

  • Số trang: 201 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Lạm phát ở Việt Nam hiện nay: Nguyên nhân và giải pháp 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã đi qua hơn 20 năm đổi mới một cách ấn tượng với những thành tựu quan trọng. Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, Việt Nam đã chuyển từng bước chắc chắn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam cũng đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế để tự tin bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã khẳng định mức độ tiến bộ mà chúng ta đạt được trong hơn 20 năm qua. Đến nay, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp và đang nỗ lực theo đuổi mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Làm thế nào để chúng ta có thể đạt được mục tiêu này trong hơn 10 năm nữa, khi mà kinh tế vĩ mô của chúng ta trở nên bất ổn, sự ổn định của nền kinh tế đang trở nên rất mong manh? Lạm phát đang đã có dấu hiệu quay trở lại từ năm 2004 và tăng tốc từ giữa năm 2007. Thêm vào đó, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thế giới, khởi đầu từ Mỹ, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam chao đảo mạnh hơn. Từ chỗ phải trải qua tình trạng lạm phát bùng lên dữ dội và cối năm 2007 đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một tình huống rất khó khăn: lạm phát có nhiều nguy cơ quay trở lại, song chúng ta lại mong muốn tăng tốc độ để đạt mục tiêu của năm 2020 và mục tiêu phát triển trong tương lai xa hơn nữa. Vấn đề đặt ra là nguyên nhân nào gây ra tình trạng lạm phát và bất ổn kinh tê vĩ mô ở Việt Nam hiện nay? Ngoài tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ toàn cầu còn có những nguyên nhân nào khác nữa? Làm thế nào để tăng trưởng cao và vững chắc trong dài hạn? … Thực tế đó đang đặt ra yêu cầu cần phải có những nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về những nguyên nhân gây ra lạm phát và những bất ổn kinh tế vĩ mô. Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa lý 2 luận, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài: "Lạm phát ở Việt Nam hiện nay: Nguyên nhân và giải pháp” trong bối cảnh hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2007, khi lạm phát ở Việt Nam tăng đột biến, vấn đề lạm phát ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều tác giả trong và ngoài nước. Cho đến nay, có rất nhiều công trình đã nghiên cứu về lạm phát ở Việt Nam đã được công bố. Tuy nhiên, các công trình này hầu hết là những bài viết được đăng tải trên các tạp chí, các báo chuyên ngành và trong kỷ yếu hội thảo khoa học của một số cơ quan, viện nghiên cứu. Có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu về lạm phát của Việt Nam trong thời gian qua tập trung vào một số hướng nghiên cứu như sau: 2.1. Hướng nghiên cứu lạm phát của Việt Nam theo cách tiếp cận tiền tệ Đây là hướng nghiên cứu được nhiều tác giả tham gia nhất. Do đó, có thể nói các công trình thuộc nhóm này chiếm số lượng khá lớn trong số các công trình nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu các công trình thuộc hướng này, chúng tôi thấy có thể chia thành 3 nhóm như sau: Thứ nhất, trên cơ sở lý thuyết về lạm phát do nguyên nhân tiền tệ, các tác giả đã vận dụng vào việc phân tích, đánh giá nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam và đồng thời, gợi ý hướng khắc phục. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình sau: - Phan Sỹ An và Trần Thị Kim Chi, (2008), Lạm phát Việt Nam: Nguyên nhân và đề xuất chính sách, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 359 tháng 4/2008. - Nguyễn Cao Đức, (2006), Các nhân tố quyết định lạm phát của Việt Nam dựa trên cách tiếp cận tiền tệ, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 335, tháng 6/2006. - Charles Adams, (2008), Chính sách kinh tế vĩ mô hiện nay - Những thách thức đặt ra cho Việt Nam, Tập bài giảng dùng cho lớp đào tạo chính sách công của Ngân hàng Phát triển Châu á, tháng 6/2007. 3 - Bùi Duy Phú, (2007), Mối quan hệ giữa tiền tệ và giá cả của Việt Nam qua một số mô hình định lượng, Nghiên cứu kinh tế, số 347 - 4/2008. - Nguyễn Đại Lai, (2008), Nhận diện, bình luận và đề xuất quan điểm chính sách và ổn định thị trường tài chính Việt Nam sau một năm gia nhập WTO, Tạp chí Phát triển kinh tế số 360, tháng 5/2008. Thứ hai, các tác giả trực tiếp bàn về các giải pháp cắt giảm lạm phát ở Việt Nam hiện nay bằng các công cụ chính sách tài chính - tiền tệ. Các công trình thuộc nhóm này có rất nhiều. Tiêu biểu trong số đó có một số công trình điển hình: - Lê Hùng, (2006), Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thị trường mở, Nghiên cứu kinh tế số 340 tháng 9/2006. - Nguyễn Đại Lai, (2008), Chống lạm phát từ phía ngân hàng, Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2007 - 2008, Việt Nam và thế giới. - Lê Xuân Nghĩa, (2008), Vận dụng công cụ lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí phát triển kinh tế tháng 4/2008. - Lê Quốc Lý, (2005), Chính sách tiền tệ và lạm phát: Cần có lộ trình kiên quyết và nhất quán, Tạp chí Tài chính 3/2008. - Nguyễn Đắc Hưng, (2008), Điều hành chính sách tiền tệ năm 2007, Thời báo Kinh tế Việt Nam, kinh tế 2007 - 2008 Việt Nam và thế giới. - Cao Cự Bôi, (2008), Lạm phát và chống lạm phát nhìn từ góc độ điều hành chính sách tiền tệ, Tạp chí Phát triển kinh tế 4/2008. - Vũ Thanh Tự Anh, (2008), Giảm thâm hụt ngân sách để khôi phục sự ổn định vĩ mô, Tạp chí Tài chính 6/2008. - NguyÔn §¹i Lai (2009), B×nh luËn vµ dù b¸o vÒ c¸c ®éng th¸i tµi chÝnh ViÖt Nam sau c¸c quyÕt ®Þnh míi nhÊt cña Ng©n hµng Nhµ n­íc, T¹p chÝ Ng©n hµng sè 29 th¸ng 12/2009 4 Thứ ba, các tác giả đi vào nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của chính sách mục tiêu lạm phát, khuyến nghị vận dụng chính sách đó ở Việt Nam nhằm đạt được tỷ lệ lạm phát tối ưu trong trung hạn và dài hạn. Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này có thể kể tới là: - Học viện Ngân hàng, (2005), Chính sách mục tiêu lạm phát cho Việt Nam (gồm 14 bài viết về vấn đề này), kỷ yếu hội thảo khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng tháng 12/2005. - Bùi Văn Hải, (2007), Chính sách tiền tệ theo cơ chế lạm phát mục tiêu, Tạp chí Ngân hàng 11/2007. - Nguyễn Văn Tiến và Vũ Hoàng Phương Quế (2006), Chính sách mục tiêu lạm phát - Kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 1 + 2/2006. - Phí Trọng Hiển (2005), Lạm phát mục tiêu: Kinh nghiệm thế giới và giải pháp cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế tháng 4/2006. 2.2. Hướng nghiên cứu lạm phát của Việt Nam trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế Đi theo hướng này, các tác giả đã vận dụng các lý thuyết kinh tế vĩ mô về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát (Lý thuyết cổ điển, Lý thuyết Keynes, Lý thuyết hậu Keynes...) để phân tích một số trường hợp ở các nước châu Á. Các công trình tiêu biểu cho nhóm này có thể kể đến là: - Lê Việt Đức và Trần Thị Thu Hằng, (2008), Quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát: lý thuyết và kinh nghiệm các nước đang phát triển châu Á, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 359 - tháng 4/2008. - Nguyễn Thị Hường, (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc làm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Kỷ yếu đề tài cấp cơ sở Viện Kinh tế và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007. 5 - Lê Quốc Lý, (2006), Đi tìm lời giải cho bài toán: Tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp trong năm 2005, Tạp chí Kinh tế và phát triển 3/2006. - Nguyễn Quang Thái, (2007), Tăng trưởng nóng: nhận dạng, nguy cơ và giải pháp (ý tưởng ban đầu), Nghiên cứu kinh tế số 347 tháng 4/2007. 2.3. Hướng nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân và từ đó đề xuất các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay Các tác giả đi theo hướng nghiên cứu này không chỉ nghiên cứu nguyên nhân lạm phát do yếu tố tiền tệ, như một số tác giả đã được nêu ở hướng nghiên cứu thứ nhất, mà họ còn đề cập tới các nguyên nhân khác gây ra lạm phát ở Việt Nam hiện nay. Đó là lạm phát do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát do yếu tố tâm lý, lạm phát do việc chuyển đổi cơ chế quản lý giá đối với một số mặt hàng thiết yếu (xăng dầu, điện,…), lạm phát do ảnh hưởng của quá trình hội nhập. Đặc biệt, lạm phát do nguyên nhân từ sự yếu kém trong quản lý - điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ đã được nhiều tác giả phân tích. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp khắc phục lạm phát như thực hiện việc thắt chặt tiền tệ và tài chính để cắt giảm tổng cầu, trợ giá đối với một số mặt hàng là đầu vào sản xuất, các giải pháp giảm nhập siêu, thực hiện cơ chế giá thị trường của một số mặt hàng thiết yếu, do Nhà nước quản lý, theo một lộ trình thích hợp,… Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến những công trình sau: - Văn phòng Trung ương - Vụ Kinh tế, (2008), Những vấn đề kinh tế - xã hội nổi lên trong thời gian gần đây và giải pháp khắc phục, Kỷ yếu hội thảo tháng 3/2008. - Nguyễn Thị Hường, (2008), Bàn thêm về nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 9 tháng 5/2009. - Trần Hoàng Ngân và Võ Thị Tuyết Anh, (2008), Lạm phát, nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 4/2008. - Trương Thị Hồng, (2008), Lạm phát nên kiểm soát bằng nhiều cách, Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 4/2008. 6 Formatted: Font: Times New Roman, Not Bold, Italian (Italy) - Ngô Trí Long, (2008), Đồng tâm, hiệp lực chống lạm phát, Tạp chí Tài chính 4/2008. - Hoàng Ngọc Hoà, (2008), Những giải pháp kinh tế vĩ mô của chính sách tài chính - tiền tệ - giá cả góp phần khắc phục lạm phát cao, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, Tạp chí Ngân hàng số 7 tháng 4/2008. - Nguyễn Ngọc Tuyến, (2008), Bình ổn giá nhìn từ các quan hệ kinh tế vĩ mô, Tạp chí Tài chính tháng 3/2008. - Nguyễn Thanh Bình, (2008), Lạm phát, thâm hụt thương mại và giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, Tạp chí Ngân hàng số 13 tháng 7/2008. - Trọng Hồ, (2008), Chống lạm phát bằng tổ chức lại khâu lưu thông hàng hóa, Tạp chí Thương mại số 20/2008. - Nguyễn Đắc Hưng, (2008), Phân tích đúng các nguyên nhân gây ra lạm phát để phối hợp đồng bộ các giải pháp kiềm chế, Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8/2008. - Gi¸ ®ì kiÒm chÕ l¹m ph¸t, Thêi B¸o Ng©n Hµng ngµy 13/3/ 2010 Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lạm phát ở Việt Nam, nhưng các nghiên cứu còn hết sức tản mạn, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách đầy đủ, toàn diện. Hiện còn thiếu những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc nguyên nhân gây ra lạm phát và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam, bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn và hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về lạm phát ở Việt Nam hiện nay. 3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài có ba mục tiêu chính sau đây: - Phân tích và làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên nhân gây ra lạm phát cũng như cách khắc phục. 7 - Phân tích, đánh giá các nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam hiện nay. - Đề xuất các giải pháp khống chế và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đồng thời, duy trì ổn định và tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: Nguyên nhân và giải pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khảo sát thực trạng lạm phát và nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam từ 2004 đến nay và để xuất giải pháp khắc phục lạm phát cho thời kỳ mới. 5. Phương pháp nghiên cứu §Ò tµi sö dông ph­¬ng ph¸p luËn cña chñ nghÜa M¸c - Lªnin lµm nÒn t¶ng ®Ó ph©n tÝch, ®¸nh gi¸ c¸c vÊn ®Ò nghiªn cøu. Bªn c¹nh ®ã, ®Ò tµi sö dông c¸c ph­¬ng ph¸p cô thÓ nh­ ph©n tÝch, so s¸nh, tæng hîp, thèng kª, m« h×nh ho¸ vµ ph­¬ng ph¸p chuyªn gia. 6. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được kết cấu thành 3 phần 7 tiết, được trình bày trong 169 trang. 8 PHẦN I LẠM PHÁT VÀ CHỐNG LẠM PHÁT – LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT 1.1.1. Khái niệm, cách đo lường và phân loại lạm phát * Khái niệm lạm phát Có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, về cơ bản có thể thấy có ba khái niệm sau: Thứ nhất, lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát là yếu tố tiền tệ. Đây là khái niệm lạm phát do các nhà kinh tế học trường phái cổ điển và tân cổ điển đưa ra. Đại diện tiêu biểu của nhóm này là nhà kinh tế học Milton Friedman. Thứ hai, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của nền kinh tế và nguyên nhân của lạm phát không chỉ do yếu tố tiền tệ mà còn bao gồm cả những nguyên nhân khác như sự biến động giá cả của nguyên liệu đầu vào quan trọng như giá năng lượng, vật liệu. Khái niệm này là của các nhà kinh tế học hiện đại - đại diện tiêu biểu là nhà kinh tế học Paul. A. Samuelson. Với khái niệm này, Paul. A. Samuelson không đề cập trực tiếp đến sự tăng lên liên tục của mức giá chung như các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ. Tuy nhiên, khi nói đến lạm phát ông cũng đã đặt nó trong mối quan hệ so sánh các chỉ số giá quá các thời kỳ, các năm khác nhau. Do đó, không thể đi đến kết luận rằng quan niệm của Samuelson là mức giá cả chỉ tăng lên một lần đã được coi là lạm phát như một số tác giả Việt Nam đã từng phê phán. Thứ ba, lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung hay sự giảm giá liên tục sức mua của đồng tiền. Đây là khái niệm hiện nay của hầu hết các tác giả trong và ngoài nước. Khái niệm lạm phát thứ ba sẽ được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của đề tài. Bởi lẽ, nó đề cập đầy đủ bản chất của lạm phát. Lạm phát không phải là 9 hiện tượng giá cả của một vài hàng hóa hay vài nhóm hàng hóa nào đó tăng lên mà là sự tăng lên của mức giá chung của nền kinh tế. Khi mức giá chung tăng lên mọi người phải trả nhiều tiền hơn cho giỏ hàng hóa và dịch vụ mà họ mua. Hơn nữa, có thể coi mức giá là thước đo giá trị của đồng tiền. Sự gia tăng của mức giá có nghĩa là giá trị của đồng tiền bị suy giảm bởi vì khi đó mỗi đơn vị tiền tệ (VNĐ, USD…) sẽ mua được một lượng hàng hóa ít hơn. Cần phân biệt rõ hai khái niệm sau đây có liên quan đến lạm phát. - Giảm lạm phát là sự sụt giảm tỷ lệ lạm phát, tức là mức giá chung của nền kinh tế vẫn gia tăng song mức độ tăng mức giá chung có xu hướng chậm lại. Chẳng hạn, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 1993 là 5,2% trong khi năm 1992 tỷ lệ đó là 17,6% có thể nói năm 1993 nền kinh tế Việt Nam có giảm lạm phát so với năm 1992 vì tốc độ tăng lạm phát của năm 1993 là 5,2% < 17,6% của năm 1993. - Thiểu phát là khi mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống bằng 0 hoặc dưới 0. Chẳng hạn, năm 2000 nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng thiểu phát, với tỷ lệ lạm phát -0,6%. * Cách đo lường lạm phát - Một số khái niệm liên quan đến đo lường lạm phát  Mức giá (Price - P) chung của nền kinh tế tại một thời điểm được tính theo số bình quân gia quyền của giá nhiều hàng hóa và dịch vụ. Để đo lường mức giá chung, các nhà thống kê thường sử dụng chỉ số giá cả.  Chỉ số giá cả: (Price Index – PI) là thước đo mức giá chung tại thời điểm hiện tại (nếu coi thời điểm cần so sánh là 100 đơn vị). Các chỉ số giá cả thường được sử dụng là: chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI); Chỉ số điều chỉnh GDP (Deputation Gross Domestic Index – D); Chỉ số giá cả sản xuất (Producer Price Index – PPI); Chỉ số bán buôn (Whole Sale Price Index – WPI); Chỉ số giá bán lẻ (Rerail Price Index – RPI) và  Tỷ lệ lạm phát (Inflation rate – П) là thước đo phần trăm thay đổi của chỉ số giá tại một thời điểm so với thời điểm khác (làm gốc). 10 - Phương pháp đo lường các chỉ số lạm phát Ở hầu hết các quốc gia và Việt Nam (từ năm 1998 đến nay) thường sử dụng 3 chỉ số quan trọng nhất đó là CPI, D và П để đo lường lạm phát. a. Cách tính hệ số điều chỉnh GDP – D Chỉ số điều chỉnh GDP là tỷ lệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế D GDP danh nghÜa  100% GDP thùc tÕ GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hiện tại tính theo giá hiện hành GDP thực là giá trị sản lượng tính theo giá của năm gốc. Vì vậy, D có thể được hiểu như là mức giá của tất cả các thành phần của GDP bao gồm của tiêu dùng đầu tư (I), mua sắm chính (G) và hàng hóa xuất khẩu. b. Chỉ số tiêu dùng CPI CPI là chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường lạm phát. CPI đo lường chi phí mua một giỏ hàng hóa điển hình của người tiêu dùng. Để tính CPI người ta tiến hành như sau: - Bước 1: Chọn một giỏ hàng hóa điển hình đối với người tiêu dùng và gắn quyền số cho chúng theo mức độ quan trọng của nó trong ngân sách tiêu dùng đối với mặt hàng đó. Chẳng hạn, để tính chỉ số giá tiêu dùng ở Hoa Kỳ người ta chọn 364 hàng hóa và dịch vụ riêng biệt được thu thập từ 21.000 cơ sở trong 91 vùng cả nước1. Qua điều tra ở các vùng đã lựa chọn ở Hoa Kỳ, người ta thấy người tiêu dùng chi 20% ngân sách của họ cho thực phẩm, 50% cho nhà cửa và 30% cho dịch vụ y tế… và dựa trên cơ sở đó họ đã gắn các trọng số tương ứng cho từng mặt hàng và nhóm hàng để tính CPI. Tuy nhiên, số mặt hàng và quyền số gắn với từng mặt hàng trong giỏ hàng hóa để tính CPI không phải là bất biến, nó được điều chỉnh khi có sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng. Ở Việt Nam, để tính CPI từ năm 1998 đến 10/2009 sử dụng 10 nhóm hàng sau đây: Nhóm I: Lương thực, thực phẩm; 1 Paul. A. Samuelson và William D. Nordhans. Kinh tế học (xuất bản lần thứ 15), Tập II, tr. 392. 11 Nhóm II: Đồ uống và thuốc lá; Nhóm III: May mặc, giày dép, mũ nón; Nhóm IV: Nhà ở và vật liệu xây dựng; Nhóm V: Thiết bị và đồ dùng gia đình; Nhóm VI: Dược phẩm, y tế; Nhóm VII: Phương tiện đi lại, bưu điện; Nhóm VIII: Giáo dục; Nhóm IX: Văn hóa, thể thao, giải trí Nhóm X: Hàng hóa và dịch vụ khác. Số lượng mặt hàng trong 10 nhóm hàng hóa thay đổi từ 396 năm 2000 lên 490 mặt hàng năm 2005. Từ 10/2009 số lượng nhóm hàng tăng từ 10 lên 11; số lượng mặt hàng sẽ tăng thêm 82, từ 490 – 572 mặt hàng. Quyền số của các nhóm hàng để tính CPI ở Việt Nam cũng thay đổi dựa trên kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê. Chẳng hạn, quyền số của nhóm lương thực, thực phẩm giảm khoảng 12,98% từ mức 60,86% tháng 5/1997 xuống còn 47,90% năm 1999 và tiếp tục giảm còn 42,7% năm 2005. - Bước 2: Chọn thời điểm chỉ số giá 100% sau đó tính chỉ số giá tiêu dùng cho thời điểm tính toán. Ví dụ, giả sử ở Hoa Kỳ với các thông số đã chọn như trên nếu chọn năm 1995 làm năm gốc thì chỉ số giá năm đó là 100%, có nghĩa là: CPI1995 = 100 = [(0,20 x 100) + (0,50 x 100) + (0,30 x 100)] Năm 1996 giá thực phẩm tăng thêm 2% đạt 102%; giá nhà cửa tăng 6% đạt 106%; giá dịch vụ y tế tăng 10% đạt 110%: CPI1996 = 0,20 x 102 + 0,50 x 106 + 0,30 x 110 = 106,4 Nói cách khác, nếu lấy năm 1995 làm gốc (CPI = 100) thì CPI của Hoa Kỳ năm 1996 là 106,4. Chỉ số CPI ở Việt Nam từ 1998-2007 được tính cho hàng tháng so với các gốc so sánh: Cùng tháng năm trước, tháng 12 năm trước, tháng trước. Từ 9/2007 ngoài các gốc trên Tổng cục Thống kê còn tính CPI bình quân từ đầu 12 năm đến kỳ báo cáo so với cùng kỳ năm trước. Do đó, có sự khác nhau giữa các chỉ số lạm phát theo các cách tính ở trên. Chẳng hạn, nếu tính CPI theo phương pháp so sánh với tháng trước đó sau đó cộng dồn chỉ số lạm phát của các tháng để tính lạm phát của cả năm thì năm 2007 chỉ số CPI của Việt Nam là 12,63% trong khi tính theo phương pháp bình quân thì chỉ số đó chỉ là 8.13%. Cách tính thứ nhất có ưu điểm là dễ nhận thấy những biến động của từng thời điểm và có thể nắm được chu kỳ của nó để kịp thời có những giải pháp ứng phó. Tuy nhiên, nhược điểm của nó CPI tính theo cách này dễ bị lệ thuộc vào chính những biến động đó mà không phản ánh đúng tình hình của cả năm hay của cả giai đoạn. Cách thứ hai có ưu điểm là loại bỏ được những biến động ngắn hạn nhưng lại không phản ánh đúng diễn biến thị trường ở những thời điểm khác nhau. Do vậy, hiện nay ở Việt Nam thường tính toán CPI theo cả 2 phương pháp trên. * Sự khác nhau giữa D và CPI - D phản ánh tình hình lạm phát của tất cả mọi hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong GDP, CPI chỉ phản ánh tình hình lạm phát của mặt hàng tiêu dùng cơ bản trên thị trường của người tiêu dùng. - D chỉ phản ánh sự thay đổi giá cả sản xuất trong nước còn CPI bao gồm giá cả các mặt hàng nhập khẩu. Do vậy, khi giá hàng nhập khẩu tăng thì kéo CPI tăng theo. Hiện tượng được gọi là nhập khẩu lạm phát. - CPI thường gắn quyền số cố định cho hàng hóa tiêu dùng trong một thời gian tương đối dài, còn D gắn với quyền số thay đổi của mọi hàng hóa sản xuất trong nước. Do đó, CPI phóng đại giá sinh hoạt khi người tiêu dùng đã thay thế những hàng hóa tương đối rẻ hơn cho những hàng hóa tương đối đắt hơn. Ngoài ra CPI không thể hiện chính xác những thay đổi về chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn, việc sử dụng các dược phẩm mới thay đổi cho những ca phẫu thuật tốn kém trước đây cũng không được phản ánh trong CPI. 13 Năm 2008, khi tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tăng cao, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Một số nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam mà tiêu biểu là PGS,TS Vũ Ngọc Nhung đã lên tiếng phản đối Ngân hàng nhà nước Việt Nam vì họ cho rằng lạm phát ở Việt Nam là lạm phát giá cả chứ không phải do yếu tố tiền tệ gây ra nên không thể dùng công cụ tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Ông cho rằng, với hành động đó giải pháp chống lạm phát vừa không đúng vừa làm giảm động lực tăng trưởng kinh tế và cần phải loại bỏ lạm phát giá cả ra khỏi chỉ số lạm phát. Trên thực tế, giá trị đo bằng tiền của hàng hóa thay đổi có thể do hai nguyên nhân chủ yếu, một là, do lượng tiền tăng nhanh hơn so với mức tăng của cung hàng hóa thì sẽ gây ra lạm phát tiền tệ; hai là, lượng cung hàng hóa giảm sút do các yếu tố khác nhau như thiên tai, độc quyền… gây ra lạm phát giá cả. Do đó, không thể loại bỏ lạm phát giá cả khi đo lường chỉ số lạm phát. Tuy nhiên, để làm cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ một số nước đã loại bỏ ra khỏi rổ hàng hóa tính CPI các mặt hàng như lương thực, thực phẩm, năng lượng (là những mặt hàng có giá cả biến động do thiên tai, độc quyền mang tính chất tạm thời). Khi đó, chỉ số lạm phát được gọi là chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation). Bởi vì, họ cho rằng dùng công cụ tiền tệ, chẳng hạn như nâng lãi suất không thể làm cho giá xăng thế giới giảm xuống. Nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy rằng, các nước có cách tính lạm phát không hoàn toàn giống nhau, không phải nước nào cũng loại nhiều hàng hóa nói trên ra khỏi rỏ hàng hóa khi tính CPI. Đối với Việt Nam không thể và không cần thiết phải loại bỏ những mặt hàng lương thực, thực phẩm, năng lượng ra khỏi rổ hàng hóa để tính CPI bởi hai lý do, một là, các mặt hàng lương thực, thực phẩm còn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu tiêu dùng của người dân nước ta; hai là, sự biến động của những mặt hàng trên trong điều kiện hiện nay không chỉ mang tính chất tạm thời mà đã trở thành xu hướng dài hạn do các nguồn cung ngày càng hạn chế (giới hạn bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên). Nhưng, điều đáng lưu ý ở đây là, các 14 giải pháp khắc phục lạm phát cần căn cứ vào nguyên nhân của nó để "chữa trị đúng thuốc, đúng bệnh", ngoài nguyên nhân do tiền tệ, chính sách tiền tệ chỉ sử dụng để cứu nền kinh tế ở những thời điểm cực kỳ cần thiết khi lạm phát đang có nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô. Cách tính tỷ lệ lạm phát: t  Pt  Pt 1  100% Pt 1 hay  t  { Pt  1}  100% Pt 1 Trong đó: t: tỷ lệ lạm phát Pt, Pt-1: chỉ số giá của thời kỳ t và t-1 Với ví dụ ở trên tỷ lệ lạm phát của Hoa Kỳ năm 1996 là:  106, 4  100  100%  6, 4% 100 * Phân loại lạm phát Có rất nhiều cách phân loại lạm phát và trong mỗi cách lại có nhiều cách phân chia khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu. Sau đây là một số cách phân loại cơ bản: - Căn cứ vào mức độ (tỷ lệ) lạm phát chia thành 3 cấp độ cơ bản:  Lạm phát vừa phải: đặc trưng của cấp độ này là giá cả tăng chậm và có thể dự đoán được, tỷ lệ lạm phát hàng năm một chữ số (< 10%/năm).  Lạm phát phi mã: tỷ lệ lạm phát hai chữ số hoặc và > 50%/năm).  Siêu lạm phát: Lạm phát từ ba chữ số trở lên/năm. Lạm phát đã từng xảy ra của Đức sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ lạm phát lên đến trên 10 chữ số (năm 1924 là 10.000.000.000); Việt Nam năm 1986 (774,76%/năm) . Ngoài ra cũng theo cách phân loại trên còn có một số tác giả chia lạm phát thành 6 cấp độ: lạm phát ỳ (dưới 3%/năm), lạm phát nhẹ (dưới 8%/năm); lạm 15 phát vừa phải (8 – 12%/năm); lạm phát cao (hai con số và < 50%/năm); lạm phát phi mã (2 con số và > 50%/năm) và siêu lạm phát (từ ba chữ số trở lên/năm). - Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát, có các loại lạm phát sau đây: + Lạm phát do cầu kéo + Lạm phát chi phí đẩy + Lạm phát tiền tệ + Lạm phát kỳ vọng + Lạm phát cơ cấu + Lạm phát do nguyên nhân bên trong (do nội tại của nền kinh tế) và lạm phát do nguyên nhân bên ngoài (tác động của nhân tố bên ngoài nước). + Lạm phát do nguyên nhân chủ quan (chủ yếu do chính sách của chính phủ) và do nguyên nhân khách quan (do tác động từ bên ngoài và ảnh hưởng của thiên tai, bệnh tật…). Ngoài các cách phân loại trên đây, còn có cách phân loại lạm phát theo thời gian. Bao gồm lạm phát trong ngắn hạn và lạm phát trong dài hạn. 1.1.2. Tác động của lạm phát và thiểu phát đối với kinh tế - xã hội 1.1.2.1. Tác động của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Lạm phát nhìn chung có tác động tiêu cực đối với phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể một tỷ lệ lạm phát vừa phải cũng có tác động tích cực, kích thích tăng trưởng kinh tế. Một là, tác động tiêu cực của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, lạm phát cao gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế. Khi lạm phát tăng và không được kiểm soát, giá đầu vào sản xuất và giá đầu ra của các sản phẩm biến động thường xuyên tạo ra môi trường kinh doanh không ổn định. Điều đó sẽ dẫn đến đầu tư của doanh nghiệp giảm sút. Đầu tư giảm làm giảm thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp, đến lượt nó sẽ làm giảm đầu tư trong chu kỳ tiếp theo... Hiệu ứng dây chuyền đó sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế. 16 Môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, đầu tư nước ngoài vào trong nước sẽ giảm mạnh và điều này thêm một nguyên nhân làm giảm GDP và đây là một tác động rất đáng kể đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Khi lạm phát cao, giá cả bị bóp méo dẫn đến phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Bởi vì, lạm phát cao làm biến dạng giá cả tương đối và quyết định của khách hàng, khi đó, thị trường ít có khả năng phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, dẫn đến lãng phí các nguồn lực phát triển. Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, làm tăng thêm chi phí của doanh nghiệp do lãi suất tăng và do doanh nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh thực đơn… góp thêm một nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, giảm sản lượng, thu nhập của nền kinh tế. Thứ hai, lạm phát cao gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc Khi đầu tư giảm sút do lạm phát gây ra như đã phân tích ở trên doanh nghiệp sẽ phải sa thải công nhân, làm cho tình trạng thất nghiệp tăng lên, thu nhập của người lao động bị giảm sút. Đồng thời, lạm phát cao còn làm giảm lợi tức và tăng thêm chi phí cho người gửi tiết kiệm. Lạm phát bất ngờ tăng cao, gây mất công bằng xã hội, người cho vay bị thiệt và người đi vay được lợi. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam tác động của lạm phát còn làm sâu sắc hơn chênh lệch giàu nghèo trong đó người nghèo bị thiệt hại nhiều nhất. Công trình nghiên cứu "lạm phát đối với các nhóm dân cư" do Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng thực hiện, đã cho kết quả định lượng về mức độ ảnh hưởng của lạm phát đối với các nhóm dân cư ở thành thị và nông thôn: lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực ở mức độ cao hơn đối với khu vực nông thôn so với khu vực thành thị trong tất cả các tháng từ tháng 1 – 12/2006. Đồng thời, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, kết quả tác động của lạm phát đối với nhóm 10% dân cư nghèo nhất cao hơn so với 10% dân số giàu nhất (24,45% so với 17,61%)1. Thứ ba, trường hợp xẩy ra lạm phát phi mã và siêu lạm phát có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội. 1 Tạp chí Tài chính số 10/2008; tr. 38 17 Khi lạm phát tấn công vào nền kinh tế, sẽ làm mất niềm tin của người dân, dân chúng ồ ạt rút tiền ở ngân hàng làm cho hệ thống ngân hàng có thể bị lung lay, nhiều ngân hàng có khả năng bị phá sản. Lạm phát càng lên cao, các lực lượng đầu cơ sẽ có tìm cách trục lợi (tiêu biểu là cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở các nước châu Á vào những năm 1997-1998), dân chúng sẽ hoang mang làm cho các thị trường hỗn loạn. Điều này có thể dẫn đến mất ổn định không chỉ kinh tế mà cả chính trị - xã hội. Điển hình là trường hợp của Inđônêxia vào những năm cuối của thập kỷ 90 thế kỷ XX. Đồng tiền càng mất giá, gánh nặng nợ nước ngoài càng tăng càng làm trầm trọng thêm cán cân đối nội và đối ngoại dẫn đến mất ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiều doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp tăng cao, tệ nạn xã hội sẽ tăng lên, càng làm sâu sắc hơn những bất ổn định chính trị - xã hội. Do vậy, nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ đã coi "lạm phát" là kẻ thù số 1 của nhân loại. Hai là, tác động tích cực của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, trong những trường hợp cụ thể một sự tăng lên của mức giá ở một mức độ vừa phải có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế. Từ phân tích lý thuyết các mô hình tổng cung, các nhà kinh tế đã rút ra phương trình biểu thị mối quan hệ giữa mức giá và sản lượng: Y = Y +  (P – Pe) (1) Biểu đồ 1.1. Quan hệ giữa sản lượng và mức giá Trong đó: Y : sản lượng thực tế của nền P3 kinh tế ứng với mỗi mức giá. Y : sản lượng tiềm năng của nền kinh tế Y  Y   (P  Pe ) P P2 P1 Pe : mức giá dự kiến  : hệ số co giãn của sản lượng do sự thay đổi giữa mức giá Y1 thực tế và mức giá dự kiến. Y 18 Y Y2 - Khi sản lượng thấp hơn sản lượng tiềm năng Y một sự tăng lên trong mức giá dự kiến từ P1  P2 sẽ làm cho sản lượng tăng lên từ Y1  Y2. - Kể cả khi sản lượng đã đạt được mức sản lượng tiềm năng Y, một sự tăng lên trong mức giá từ P  P3 cũng có tác động kích thích sản lượng tăng từ Y  Y 3. Tuy nhiên, trong trường hợp này sự tăng lên của sản lượng chỉ đạt được trong ngắn hạn, khi giá tăng lên trong một thời gian nhất định nền kinh tế sẽ điều chỉnh về mức sản lượng tiềm năng. Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu định lượng của một số tác giả về mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát cũng cho thấy rằng, trong những năm tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải (1996-1997 và 2003-2004) tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao xấp xỉ 2 lần so với tỷ lệ lạm phát1. Thứ hai, ở những trạng thái nhất định của nền kinh tế có sự đánh đổi trong ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp, có nghĩa là một sự tăng lên trong mức giá có tác động làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn. Từ phương trình trong mô hình tổng cung (1) có thể rút ra phương trình biểu thị mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp như sau: П = Пe - (U – Un) Trong đó: П: tỷ lệ lạm phát thực tế; Пe: tỷ lệ lạm phát dự kiến; U: tỷ lệ thất nghiệp thực tế; Un: tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên; : độ co giãn mức chênh lệch giữa thất nghiệp thực tế và thất nghiệp tự nhiên. Khi nền kinh tế ở điểm A tỷ lệ lạm Biểu đồ 1.2. Quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp trong ngắn hạn phát П1 > П2 tỷ lệ thất nghiệp U1 < U2 B, tỷ lệ lạm phát П2 < П1 tỷ lệ thất nghiệp П П1 П U 2 > U1. П2 Ngược lại, khi nền kinh tế ở điểm A B A U1 Un U2 1 U Nguyễn Văn Công (2005), Tạp chí kinh tế phát triển số 3/2005 và Bùi Duy Phú (2007), Tạp chí Ngân hàng số 12/2007. 19 Tuy nhiên, sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp chỉ trong ngắn hạn, khi tỷ lệ lạm phát còn ở mức thấp. Khi lạm phát lên cao đến một ngưỡng nhất định thì tác động của lạm phát đến nền kinh tế như đã phân tích ở trên. Đến khi đó, không những không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp mà lạm phát còn làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp. Một số nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam về mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp (việc làm) cũng cho thấy, trong một số năm có mối quan hệ ngược giữa tốc độ tăng trưởng việc làm và lạm phát. Chẳng hạn, năm 2000, lạm phát 0,6% (thiểu phát) thì tốc độ tăng trưởng việc là 1,1% (thấp nhất trong thời kỳ từ năm 1998 – nay). Những năm tiếp theo đó, khi tỷ lệ lạm phát tăng lên thì tốc độ tăng trưởng việc làm cũng tăng. Năm 2001, tỷ lệ lạm phát 0,8% tốc độ tăng trưởng việc làm đạt 6,95%, năm 2002-2003 tỷ lệ lạm phát tăng, tốc độ tăng trưởng việc làm tiếp tục tăng đạt 2,5 – 2,6%/năm. Tuy nhiên, từ năm 2004 lạm phát bắt đầu tăng cao thì tốc độ tăng trưởng việc làm có xu hướng giảm xuống (năm 2005 chỉ còn 2,3%)1. Như vậy, cả về lý thuyết và thực tiễn Việt Nam đều khẳng định, quan hệ đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp (việc làm) chỉ tồn tại trong ngắn hạn, chỉ ở điều kiện khi tỷ lệ lạm phát còn ở mức thấp. 1.1.2.2. Tác động của thiểu phát đối với phát triển kinh tế - xã hội Ngược lại với lạm phát, thiểu phát xẩy ra khi mức giá chung của nền kinh tế liên tục giảm sút. Quan niệm về thiểu phát, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng khi tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4% được gọi là thiểu phát. Tuy nhiên, đối với các nền kinh tế phát triển (Đức, Nhật Bản) tỷ lệ lạm phát 3-4% được coi là hoàn toàn bình thường. Khi nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát âm thì tất cả các nhà kinh tế đều thống nhất đó là hiện tượng thiểu phát. Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiểu phát: 1 Nguyễn Thị Hường (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc làm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Tổng quan đề tài cấp cơ sở, Viện Kinh tế phát triển, Học viện CT-HCQG HỒ CHÍ MINH, tr.66. 20
- Xem thêm -