Tính dân tộc trong thơ nguyễn duy

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 31 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN NGỮ VĂN PHẠM THỊ PHƯƠNG LIÊN TÍNH DÂN TỘC TRONG THƠ NGUYỄN DUY Luận văn tốt nghiệp đại học ngành Sư Phạm ngữ văn Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH Cần Thơ, 5/2011 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Tính dân tộc trong văn hóa nói chung và tính dân tộc trong văn học nói riêng là vấn đề không mới. Tại đại hội Đảng lần thứ III (1960), Đảng ta đã đề ra “nội dung xã hội chủ nghĩa, tính dân tộc”. Tiếp đó, nghị quyết trung ương V của Đảng tiếp tục khẳng định: “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong văn kiện đại hội X của Đảng tiếp tục tinh thần giữ gìn và phát huy “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Qua đó, thấy được tầm quan trọng của bản sắc dân tộc trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong điều kiện mở cửa và giao lưu văn hóa như hiện nay thì vấn đề bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc càng đặt ra cấp thiết hơn. Văn học là yếu tố hợp thành văn hóa. Đặc biệt trong nghiên cứu văn học, tính dân tộc là một phạn trù phẩm chất của tác phẩm nên người nghiên cứu văn học rất cần nắm vững về lí luận và cách thức tiếp cận tính dân tộc trong tác phẩm văn học. Theo chúng tôi được biết thì Tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy là một đề tài mới. Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Tuy chưa có nhiều thời gian để nghiên cứu thơ Nguyễn Duy, nhưng những câu thơ mượt mà tha thiết trong Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, những hình ảnh tuổi thơ sinh động trong Đò Lèn, hay những câu thơ độc đáo về Tre Việt Nam… đã tạo cho chúng tôi sự hứng thú khám phá thơ Nguyễn Duy. Vì những lẽ trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Với hy vọng qua đề tài này, chúng tôi sẽ tiếp thu được nhiều kiến thức quý báu về tính dân tộc trong thơ văn nói chung và trong thơ Nguyễn Duy nói riêng. Đồng thời, chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé trong việc đề cao tính dân tộc trong văn học dân tộc và nói rộng ra là văn hóa dân tộc. 2. Lịch sử vấn đề. Nguyễn Duy là một trong số ít những nhà thơ trưởng thành trong nhưng năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc mà đến thập niên chín mươi ngòi bút vẫn còn khá sung sức. Tuy nhiên, thơ Nguyễn Duy chưa được giới nghiên cứu phê bình quan tâm nhiều, một phần do tác động khách quan của lịch sử, một phần do thơ của Nguyễn Duy đề cập đến nhiều vấn đề nhạy cảm của cuộc sống xã hội mà không phải nhà phê bình nào cũng đủ bản lĩnh để phẩm bình thơ ông.Và tất nhiên, không phải tất cả thơ của Nguyễn Duy đều hay. Trong số các công trình nghiên cứu về thơ của Nguyễn Duy mà chúng tôi sưu tầm được thì chúng tôi nhận thấy hầu hết các công 2 trình chỉ đề cập đến vài nét cơ bản về tính dân tộc trong một bài thơ, một tập thơ hoặc một nhóm các bài thơ, tập thơ mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cánh hệ thống về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Sau đây là những ý kiến cụ thể: Chu Văn Sơn trong Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân tập trung đề cao nhân cách và tài năng thi sĩ: “thảo dân khoác áo lính”, “thi nhân trong kiếp thảo dân” và phong cách của Nguyễn Duy thì “cỏ giả thôi mà nghĩa khí đấy. Nghĩa khí đấy mà cỏ giả thôi”. Tuy công trình không được trực tiếp viết về tính dân tộc nhưng trong quá trình chứng tỏ Nguyễn Duy là “thi sĩ thảo dân”. Chu Văn Sơn đã đưa ra nhiều luận điểm thuộc về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Về nội dung, Chu Văn Sơn đã cho thấy được sự phong phú về đề tài trong thơ Nguyễn Duy. Cuộc sống xã hội, con người được tái hiện lại trong thơ Nguyễn Duy là từ nhiều góc độ và mang hơi thở thời đại. Xã hội ấy, con người ấy được thi sĩ nhìn bởi con mắt chân thành và rất sâu sắc. Về nghệ thuật Chu Văn Sơn cho rằng Nguyễn Duy “là một thi sĩ thảo dân. Tìm được thứ ngôn ngữ dính bụi mà lấp lánh chất Phônklore…” [23, tr 416] và “lục bát vẫn được coi là hơi thở của thảo dân” Nguyễn Duy, [22, tr 418] “trong tay Duy chẳng những nó được làm mới mà còn nẩy lên những tâm tình ở đằng sau tâm tình…Giai điệu lục bát của Duy có cổ điển, có dân gian. Nhưng phần chịu chơi nhất vẫn là phi cổ điển. Giai điệu vốn nghiêng về êm đềm như ru của lục bát được nhiều thế hệ ra tay cải biên để nó xích lại gần hơn so với lời nói thường. Ở thời của mình Duy cũng tỏ ra rất sành chơi. Vừa mở ra một thế giới cơm bụi cho thơ, Duy vừa “cơm bụi hóa” lục bát”.[23, tr 418] Trong bài nghiên cứu Ca dao vọng về, Phạm Thu Yến đã đi sâu khai thác “tiếng vọng của ca dao trong thơ lục bát của Nguyễn Duy”[22, tr 76]. Bài nghiên cứu đưa ra ba luận điểm: “Hiện tượng tập ca dao trong thơ Nguyễn Duy”[22, tr 76]; “Một vài đặc điểm thi pháp ca dao trong thơ Nguyễn Duy”[22, tr 79]; “Khuynh hướng trào lộng trong thơ Nguyễn Duy”[22 ,tr 80]. Cả ba luận điểm thể hiện được sự kế thừa và sáng tạo về nội dung và nghệ thuật của Nguyễn Duy so với văn học dân gian. Theo Phạm Thu Yến, thơ Nguyễn Duy “gây được ấn tượng mạnh bởi lối suy nghĩ táo bạo, những nhận xét sắc sảo không đơn giản một chiều, tiếng nói tình cảm đậm đà được thể hiện trong hình thức thơ dân tộc (thơ lục bát) chân chất, giản dị…đọc thơ Nguyễn Duy ta như gặp được một thế giới ca dao sinh động, phập phồng làm nền cho tiếng đàn độc huyền đầy sáng tạo của hồn thơ thi sĩ”[22, tr 76] Còn trong Nguyễn Duy – “người thương mến đến tận cùng chân thật” Vũ Văn Sỹ đã tóm lược, khái quát con đường thơ Nguyễn Duy. Vũ Văn Sỹ cho rằng thơ “Nguyễn Duy không dừng lại ở đề tài, bởi đằng sau các lớp sự việc, sự kiện ấy là cái 3 hồn của cuộc sống ẩn tàng các vấn đề xã hội và con người trong đó”[18, tr 462] và “Nguyễn Duy viết về thiên nhiên, về những kỉ niệm quê hương đạt đến độ hàm súc, thần thái”. Bên cạnh đó, “Thơ Nguyễn Duy là hình ảnh cụ thể sinh động phản ánh sự vận động của các thể loại thơ trữ tình Việt Nam trên cả hai mặt tiềm năng và giới hạn”[18, tr 465]. Giống như Chu Văn Sơn và Phạm Thu Yến, Vũ Văn Sỹ cũng nhận thấy “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hóa chất liệu cập nhập của đời sống. Lục bát trong thơ Nguyễn Duy vừa trở nên êm ái vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hóa “cựa quậy”. Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào “bậc tài tình””. Theo Vũ Văn Sỹ “Cái đáng quý nhất trong thơ Nguyễn Duy là anh viết về đất nước, về nhân dân, về đồng đội, về những người thân và về chính mình bằng tấm lòng “thương mến đến tận cùng chân thật””. “Nguyễn Duy thực sự đóng góp vào nền thi ca Việt Nam một giọng điệu trữ tình riêng, giầu tính xã hội và đậm hương vị dân tộc”.[18, tr 471] Lê Quang Trang trong Đọc Ánh trăng đã nhận xét thơ Nguyễn Duy “Quan tâm nhiều đến mảng hiện thực chiến tranh, nhưng thơ anh vẫn đề cập nhiều lĩnh vực khác của đời sống hàng ngày, từ thiên nhiên cây cỏ đến bóng đá, múa hát, từ cô gái chơi đàn đến ông già nông dân trên đồng ruộng Nam Bộ” [17, tr 199] và “trong thơ Nguyễn Duy, sự táo bạo và điềm tĩnh thường đi song song và đan kết với nhau. Anh vốn là người sở trường về thơ lục bát… khi sử dụng thể thơ tự do cũng ít khi thấy anh lớn tiếng”[17, tr 200]. Tuy nhiên, bài viết của Lê Quang Trang dường như mới chạm tới sự phong phú về đề tài và hai thể thơ sở trường của Nguyễn Duy chứ chưa thực sự đi sâu nghiên cứu tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Từ Sơn trong Thơ Nguyễn Duy đã chiêm nghiệm về thơ Nguyễn Duy “…Anh đã đóng góp vào kho tàng thơ xã hội chủ nghĩa hiện đại những bài thơ hay mang dáng vẻ riêng, nồng nàn hơi thở đời sống, giàu hương vị dân tộc và dào dạt một tình yêu cuộc sống trong dáng hình bình dị chân chất, dân dã…Cái đáng quý trong thơ anh chính là anh đã “thương mến đến tận cùng chân thật - những miền quê gương mặt bạn bè”, với những dòng thơ, bài thơ có lúc đã đạt được cái trong veo của nắng mai, cái hào phóng của con gió nơi đồng nội, cái ấm áp của một lời thổ lộ tâm tình”[16 ,tr 202]. Tìm hiểu con đường thơ của Nguyễn Duy, Từ Sơn còn cho thấy “Nguyễn Duy không chỉ viết về tuổi thơ và vùng quê của mình. Hơn hai mươi năm làm thơ, từ tuổi thơ và vùng quê anh đã đi tới nhiều chân trời. Tám mươi bài thơ chọn in trong hai tập Cát trắng và Ánh trăng chiếm số lượng lớn vẫn là những bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh. Một số lượng không nhỏ là những bài thơ viết về tình yêu và suy nghĩ về lẽ sống ở trên đời”[16, tr 201]. Qua đó, 4 ta nhận thấy Từ Sơn đã gợi mở ra thế giới thực và thế giới tâm hồn trong thơ và trong tâm hồn Nguyễn Duy- nhà thơ Việt, tính cách Việt, tâm hồn Việt. Trong Hoa trên đá và Ánh trăng Tế Hanh nhận định Nguyễn Duy “…đi nhiều nơi trên Tổ quốc thân yêu… anh nói những xúc cảm của mình từ biên giới phía Bắc trực tiếp chống bọn bành trướng đến những nơi giải phóng như Huế, Bình Trị Thiên, miền Nam Trung Bộ và nhất là Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh”[16, tr 206] và “Một điểm đáng chú ý nữa là Nguyễn Duy nói về đồng ruộng Thanh Hóa quê anh hay Cà Mau quê bạn, có cái gì tha thiết” [16, tr 206]. Qua nhận xét của nhà thơ Tế Hanh, ta nhận thấy ông đã đề cập tới quê hương đất nước và cảm hứng tư tưởng trong thơ Nguyễn Duy. Tất nhiên chỉ là trong tập thơ “Ánh trăng”. Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên còn phải kể đến một số bài viết có giá trị của một số tác giả như: Tre Việt Nam – Lê Trí Viễn, Đi tìm nhãn tự trong thơ Nguyễn Duy-Hồ Văn Hải, Một số cách ngắt nhịp ấn tượng trong lục bát hiện đại- Hồ Văn Hải, Vợ ốm và cái duyên trào lộng của Nguyễn Duy-Anh Ngọc...Tuy nhiên, đây là các bài viết tập trung vào vấn đề của một hoặc một số bài thơ, tính dân tộc thể hiện chỉ thoáng qua nên chúng tôi chỉ đọc tham khảo để hiểu thêm về thơ Nguyễn Duy chứ không đưa vào lịch sử vấn đề một cách chi tiết. Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng ta nhận thấy vấn đề Tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy mới chỉ được khai thác ở một số bài thơ hoặc trong một, hai tập thơ tiêu biểu chứ chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống. Vì vậy, chúng tôi mong rằng với đề tài Tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy, chúng tôi sẽ mang đến những kiến thức hệ thống và đầy đủ về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. 3. Mục đích nghiên cứu Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm hai mục đích chính. Thứ nhất, chúng tôi hy vọng sẽ mang đến một cái nhìn toàn diện hơn về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Qua đó, chúng tôi hiểu thêm về bản sắc dân tộc, tâm hồn tính cách người Việt Nam trong thơ ca nói chung và trong thơ Nguyễn Duy nói riêng. Thứ hai, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật thể hiện tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Từ đó, cảm được cái hay của ngôn ngữ dân tộc, giọng điệu và nhịp điệu thơ trong thơ Nguyễn Duy. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài “Tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy”, thứ nhất, chúng tôi sẽ thống kê những biểu hiện về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật và chọn lọc những tài liệu có liên quan tới đề tài. 5 Thứ hai, chúng tôi vận dụng phương pháp đối chiếu so sánh với một số tác phẩm thơ của các tác giả khác để chỉ ra điểm khác và cái hay trong thơ Nguyễn Duy. Thứ ba, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử xã hội để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. 6 PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 TÍNH DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC VÀ ĐÔI NÉT VỀ NGUYỄN DUY 1.1 Khái niệm tính dân tộc Trong quá trình tìm hiểu về tính dân tộc, người viết đã tham khảo nhiều định nghĩa về dân tộc, tính dân tộc, bản sắc dân tộc. Cụ thể như: Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên (Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng 1997) định nghĩa dân tộc: “1) “ cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một số đặc trưng văn hóa và tính cách”. 2) Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc… 4) Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung” Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam ( Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) Giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa: “Cộng đồng người ổn định, hình thành trong quá trình lịch sử, cùng chung một lãnh thổ một tiếng nói, cùng liên quan với nhau về sinh hoạt, kinh tế, cùng có những điểm giống nhau về tâm lí”. Xtalin thì định nghĩa: “dân tộc là một cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói về lãnh thổ về đời sống kinh tế và trạng thái tâm lí biểu hiện trong cộng đồng văn hóa”. Cũng trong Từ điển văn học (bộ mới. Nhà xuất bản Thế giới) có nêu khái niệm: ““Bản sắc dân tộc và tính dân tộc” là những thuật ngữ tương đương nhau, biểu thị một số thuộc tính dân tộc học văn hóa nhất định. “Tính (hoặc bản sắc) dân tộc của văn học”- chỉ những đặc tính mà một nền văn học dân tộc có được do sự liên hệ mật thiết của nó đối với đời sống văn hóa – lịch sử của chính dân tộc ấy” . Trong quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên ) - Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam - Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình, ( tái bản lần thứ 3), NXB Giáo dục) cho rằng: “Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hòa mọi đặc điểm độc đáo chung cho các sáng tác của một dân tộc và phân biệt với các sáng tác của các dân tộc khác”[21, tr 102] Công trình Dẫn luận nghiên cứu văn học của giáo sư Pôxpêlôp có đề cập: “Văn học là nghệ thuật ngôn từ, bởi vậy những đặc điểm của tiếng nói dân tộc mà văn học sử dụng, là biểu hiện trực tiếp bản sắc dân tộc của nó. Vốn từ vựng của ngôn ngữ tiếng nói dân tộc bộc lộ trong các nguyên tắc miêu tả và khắc họa bằng lời nói của tác phẩm, cú 7 pháp của tiếng nói dân tộc quy định các kiểu giọng điệu trong văn xuôi và thơ, tổ chức ngữ âm của các từ tạo ra vẻ đẹp độc đáo về hòa thanh của tác phẩm” Nguyễn Hoa Bằng trong Giáo trình lí luận văn học (phần nguyên lí tổng quát) nêu khái niệm như sau: “Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hòa những đặc sắc về nội dung và hình thức sáng tác tạo nên gương mặt văn nghệ của dân tộc” Qua những khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy cái cốt lõi của các khái niệm dân tộc trên là cái chung về lãnh thổ, kinh tế, lịch sử, văn hóa, tiếng nói, tâm hồn tính cách. Trên cơ sở những định nghĩa về dân tộc đó, nhiều nhà nghiên cứu văn học đã đưa ra những khái niệm về tính dân tộc và bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học. Qua ba khái niệm về tính dân tộc trong văn học mà chúng tôi chọn lọc, chúng tôi thấy khái niệm về tính dân tộc trong quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên )) là đầy đủ và khái quát nhất về tính dân tộc trong tác phẩm văn học: “Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hòa mọi đặc điểm độc đáo chung cho các sáng tác của một dân tộc và phân biệt với các sáng tác của các dân tộc khác” [21, tr 102]. Vì thứ nhất, văn học nằm trong văn hóa nghệ thuật; thứ hai, tính dân tộc của văn học được biểu hiện không nghiêng về nội dung hay hình thức mà nó là sự tổng hòa giữa nội dung và hình thức; thứ ba, tính dân tộc không phải chỉ là những đặc điểm đặc sắc của nội dung và hình thức mà nó còn là cơ sở để phân biệt với tính dân tộc của các nền văn học dân tộc khác. 1.2 Thuộc tính và phẩm chất của tính dân tộc Nếu như tính hiện thực, tính giai cấp là những khái niệm trong lí luận văn học chỉ thuộc tính của tác phẩm văn học thì tính chân thật, tính nhân dân là những khái niệm chỉ phẩm chất, giá trị của tác phẩm. Vậy nên xếp tính dân tộc vào phạm trù thuộc tính hay phẩm chất ? Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu lí luận văn học, chúng tôi nhận thấy tính dân tộc vừa chỉ thuộc tính vừa chỉ phẩm chất. Lênin từng nói: “Trong mỗi nền văn hóa dân tộc, có hai nền văn hóa dân tộc. Có nền văn hóa Đại Nga của bọn Purikêvíts, Gútscốp và Xtruvê nhưng cũng có nền văn hóa Đại Nga mà đại biểu là Secnưxépxki và Plêkhalôp” [20, tr 143] có gì khác biệt giữa hai nền văn hóa Đại Nga này để Lênin phải chia nền văn hóa Đại Nga làm hai ? Đó chính là bản chất của hai nền văn hóa. Văn hóa của bọn Purikêvíts, Gútscốp và Xtruvê cũng xuất phát từ dân tộc Nga nhưng đó là nền văn hóa đi ngược lại quyền lợi của nhân dân Nga. Ngược lại, nền văn hóa “mà đại biểu là Secnưxépxki và Plêkhalôp” là nền văn hóa có phẩm chất chân chính của dân tộc Nga vì nó do nhân dân mà có và phục vụ nhu cầu của nhân dân Nga. Nếu coi hai nền văn hóa trên có tính dân tộc như nhau thì khác nào cho rằng mọi nền văn hóa chỉ cần xuất phát từ dân tộc nào đó là có tính dân tộc của dân tộc đó. Suy rộng ra ở Việt Nam, những tác phẩm văn học cách mạng và các tác phẩm của bọn thực dân 8 bồi bút đều có tính dân tộc như nhau? Tất nhiên sẽ không một ai đồng ý điều đó. Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, khách thể và chủ thể ở đây, nói chung là thuộc về một dân tộc nhất định, cho nên tính dân tộc là một thuộc tính tất yếu và thường tại của văn học. Một tác phẩm bất kì nào cũng có những thuộc tính của dân tộc. Nhưng “chỉ có những biểu hiện nào của tính chất dân tộc gắn chặt với tính nhân dân, với tính chân thật và tính nghệ thuật thì mới thật sự có giá trị”[20, tr 144]. Hay nói cách khác một tác phẩm có tính dân tộc chân chính nghĩa là có sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt thuộc tính và phẩm chất. Như vậy có phải một tác phẩm có tính dân tộc chân chính thì phương diện thuộc tính và phẩm chất đều phải phản ảnh những mặt tốt đẹp của dân tộc? Đó là một ý kiến rất sai lầm bởi có nhiều tác phấm đã phản ảnh những mặt hạn chế, những ung nhọt trong đời sống dân tộc nhưng vẫn được đánh giá là đậm đà tính dân tộc như AQ. chính truyện của nhà văn Lỗ Tấn. Vậy vấn đề đặt ra là mục đích của việc sử dụng những thuộc tính và phẩm chất dân tộc trong tác phẩm sẽ quyết định giá trị của tính dân tộc trong tác phẩm. Nếu trong tác phẩm AQ. chính truyện, Lỗ Tấn miêu tả “phép thắng lợi tinh thần” của AQ nhằm mục đích chỉ ra căn bệnh tinh thần nguy hiểm của người Trung Hoa đương thời nhằm thức tỉnh quốc dân thì Nguyễn Duy với Nhìn từ xa Tổ quốc, Đánh thức tiềm lực giọng thơ cay đắng xót xa, ngậm ngùi cũng chính là tiếng lòng đau đáu hướng về quê hương, đất nước với tâm huyết thay đổi sự trì trệ lạc hậu của dân tộc. Hay “Nói cách khác, chỉ có những tác phẩm ưu tú trong nền văn học tiến bộ và cách mạng xưa nay mới có phẩm chất dân tộc thực sự về ba mặt chân, thiện, mỹ…”.[20, tr 144] . Từ đó thấy được các tác phẩm của bọn thực dân bồi bút trước đây chỉ có thuộc tính dân tộc vì chúng phản ảnh đất nước, con người Việt Nam là nhằm mục đích phục vụ chính sách phản động chứ không phải vì tình yêu quê hương đất nước, vì quyền lợi dân tộc. Các tác giả quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên)) cũng đồng tình: “Dùng sự thực đó (điểm hạn chế của một dân tộc.P.T.P.L) để miệt thị, phỉ báng một dân tộc là phản động. Nhưng che đậy sự thực đó thì tác hại sẽ kéo dài. Chỉ có lên án mặt tiêu cực đó với mục đích làm trong sáng phẩm chất dân tộc mình và thúc đẩy nó tiến lên mới là người cách mạng. Một con người phải tự phê bình, một đoàn thể phải tự chỉ trích khi có thiếu sót, thì về phương diện dân tộc cũng không ngoại lệ”[20, tr 151]. Nói tóm lại, tính dân tộc gồm có tính dân tộc thuộc tính và tính dân tộc phẩm chất. Tính dân tộc thuộc tính tồn tại trong hầu hết các tác phẩm văn học của dân tộc. Tính dân tộc phẩm chất – tính dân tộc chân chính phải gắn chặt với tính nhân dân và tính chân thật và tính nghệ thuật. Tác phẩm đậm đà tính dân tộc là tác phẩm có sự kết 9 hợp hài hòa giữa thuộc tính và phẩm chất dân tộc và còn phải là “những tác phẩm sinh động mà nhân dân ta, dân tộc ta nhìn vào có thể soi gương thấy được hình ảnh chân thật của mình” [20, tr 146]. 1.3 Tính dân tộc là một phạm trù lịch sử. Theo các tác giả trong quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên ) thì “tính dân tộc của văn nghệ là một phạm trù lịch sử và phải nhìn nhận nó theo quan điểm lịch sử”[21, tr 106] Quan điểm lịch sử về tính dân tộc được nhìn nhận theo ba phương diện. Thứ nhất, tính dân tộc của văn nghệ không phải là một thuộc tính bất biến, nó có kế thừa đồng thời cũng có những biểu hiện khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc. Cho nên, sẽ là thiếu hợp lí để cho rằng “các thuộc tính của văn học càng cổ xưa càng đậm đà dân tộc”[21, tr 107]. Thứ hai, “sự hình thành tính dân tộc là sự vận dụng ngôn ngữ dân tộc thành ngôn ngữ văn học”[21, tr 107]. Trong lịch sử không phải dân tộc nào cũng có sự hình thành ngôn ngữ một cách suông sẻ. Chẳng hạn như nước ta, “suốt thời kì Bắc thuộc và các thế kỉ độc lập đầu tiên, việc sử dụng tiếng Hán đã hạn chế nặng nề sự phát triển tính dân tộc của văn học”[21, tr 108]. Do đó, tính dân tộc về phương diện ngôn ngữ có thể phát triển chậm hoặc chưa toàn vẹn qua các thời kì lịch sử. Chỉ khi người sáng tác sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình vào sáng tạo nghệ thuật thì tính dân tộc về mặt ngôn ngữ mới đạt được sự phát triển toàn diện. Thứ ba, “trong suốt quá trình phát triển, tính dân tộc không ngừng được phong phú thêm bởi sự tiếp thu tinh hoa nước ngoài”[21, tr 108]. Điều đó có thể dễ dàng nhận ra trong nền văn học của Việt Nam, đó là sự du nhập thể thơ tự do từ văn học phương Tây. Xét các tác phẩm thơ của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Duy ta sẽ thấy tính dân tộc biểu hiện rõ nét dù được viết theo thể thơ của nước ngoài. Đồng thời “không được lấy tính dân tộc của văn học thời đại trước để làm thước đo cho tính dân tộc của văn học thời đại sau”[21, tr 108]. Bởi lẽ, tính dân tộc của văn học thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Qua ba phương diện trên, chúng ta thấy được muốn nghiên cứu tính dân tộc trong văn học một cách thấu đáo thì phải tôn trọng phạm trù lịch sử của tính dân tộc. 1.4 Những biểu hiện của tính dân tộc trong văn học Trong phần khái niệm chúng tôi đã trình bày, tính dân tộc được thể hiện trên cả nội dung và hình thức tác phẩm. Khảo sát tác phẩm văn học, chúng tôi nhận thấy về phương diện nội dung, tính dân tộc thể hiện ở các yếu tố: đề tài, chủ đề, sự lí giải chủ đề. Còn về mặt hình thức, tính dân tộc thể hiện trên hai yếu tố cơ bản là ngôn ngữ và thể loại. 1.4.1 Đề tài: 10 Trong văn học, đề tài là một “thuật ngữ chỉ phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm, đồng thời gắn liền với việc xác lập chủ đề của tác phẩm” [15, tr 403]. Đọc các tác phẩm văn học chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh con người, thiên nhiên, các sự việc, sự kiện trong đời sống xã hội, đó là phạm vi miêu tả trực tiếp của đề tài. Tuy nhiên, điểm độc đáo của văn học là qua các đề tài cụ thể đó mà khái quát nên phạm vi hiện thực đời sống, có ý nghĩa đối với con người. Thêm vào đó, xác định đúng đề tài của tác phẩm là cơ sở cho việc tiếp nhận hình tượng của tác phẩm. Vậy tiêu chuẩn nào để xác định phạm vi của đề tài? Trước hết ta phải căn cứ vào đặc trưng của văn học là qua các sự vật, hiện tượng cụ thể trong đời sống xã hội nhằm khái quát nên vấn đề của đời sống xã hội. Suy ra đối với đề tài cũng cần xét theo đặc trưng này. Các tác giả trong quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên ) - Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam - Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình, Lí luận văn học ( tái bản lần thứ 3 ), NXB Giáo dục) đã đề xuất khái niệm “giới hạn ngoài” của đề tài để chỉ phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm như “đề tài loài vật, đề tài sản xuất, đề tài bộ đội Trường Sơn, đề tài tiểu tư sản,…” Và đưa ra khái niệm “phương diện bên trong” của đề tài để chỉ vấn đề được khái quát qua phạm vi miêu tả trực tiếp của đề tài. Hay nói khác đi, đó là cuộc sống nào, con người nào được tác giả thể hiện. Cũng theo các tác giả thì trong tác phẩm “ khi nói đến đề tài của tác phẩm ta không phải chỉ nói đến một đề tài mà thực chất là một hệ thống đề tài của tác phẩm” và “ Việc nhận thức đề tài phải chỉ ra bản chất xã hội của hiện tượng”. Mặt khác, loại đề tài còn gắn với quá trình lịch sử. Mỗi thời kì lịch sử có thể bắt gặp những loại đề tài đặc trưng cho đời sống xã hội giai đoạn đó. Chẳng hạn, có thể bắt gặp đề tài tình cảnh người trí thức Nho học khi Hán học suy tàn qua thơ của Vũ Đình Liên, Tản Đà, Tú Xương… Đặc biệt, đề tài của tác phẩm văn học không chỉ gắn với hiện thực khách quan mà còn phụ thuộc vào lập trường tư tưởng và vốn sống của nhà văn. Điển hình như giai đoạn 1930-1945, trong khi các nhà thơ mới đi vào thể hiện cái tôi cô đơn trước cuộc đời, thì Tố Hữu lại có những dòng thơ tràn đầy lòng yêu đời và tin tưởng vào lí tưởng cách mạng. Qua đó, ta thấy được việc xác định đề tài của tác phẩm là công việc rất quan trọng để tiếp cận với tác phẩm một cách khoa học. Đồng thời, đề tài của tác phẩm là một hệ thống mở, nó chuyển mình theo vòng quay của bánh xe lịch sử nhưng vẫn kế thừa những đề tài đã có. Đề tài có tính khái quát và tiêu biểu hay không là phụ thuộc vào tài năng và vốn sống của tác giả. 11 Trở lại với tính dân tộc, vậy tính dân tộc thể hiện qua đề tài như thế nào? Đầu tiên là đề tài phải thể hiện được thuộc tính và phẩm chất dân tộc. Đề tài thể hiện được thuộc tính dân tộc tức là phạm vi phản ánh của đề tài phải là những vấn đề có liên quan đến đời sống dân tộc, gắn bó với dân tộc và là một trong những đặc trưng của dân tộc. Nói một cách cụ thể hơn, đề tài mang tính dân tộc thuộc tính là đề tài miêu tả được đất nước, con người, thiên nhiên, lịch sử, đời sống lao động sản xuất và đời sống tinh thần của dân tộc. Nhưng đó mới là điều kiện cần để đề tài có tính dân tộc, điều kiện đủ là đề tài phải có phẩm chất dân tộc. Vậy phẩm chất dân tộc của đề tài thể hiện ở đâu? Đó chính là phương diện bên trong của đề tài. Tức là đề tài phải khái quát được cuộc sống nào, con người nào được nói đến và ý nghĩa xã hội của vấn đề mà đề tài nêu ra. Chẳng hạn miêu tả thiên nhiên thì thiên nhiên đó không chỉ mang nét đặc trưng của dân tộc mà còn phải thể hiện được ý nghĩa nhân sinh của đề tài. Đó có thể là thông qua miêu tả thiên nhiên mà ca ngợi tình yêu thiên nhiên, tâm hồn, tính cách và đời sống thẩm mỹ của dân tộc. Hay thể hiện những thuận lợi, khó khăn trong đời sống lao động sản xuất, sức mạnh chinh phục thiên nhiên của con người… Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là đề tài phải hội tụ đầy đủ những nội dung trên mà chỉ cần khái quát được một vấn đề đã nêu trên là đã thể hiện được tính dân tộc. Mức độ độc đáo của tính dân tộc qua đề tài còn do thế giới quan, nhân sinh quan, tài năng của nhà văn quy định. Nhà văn có tài năng và nhân sinh quan, thế giới quan tiến bộ sẽ biết cách chọn những đề tài mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Thứ hai, đề tài mang tính dân tộc là đề tài vận động theo vòng quay của lịch sử dân tộc. Tác giả phải đề cập được những đề tài có tính thời sự hoặc có ý nghĩa xã hội. Chẳng hạn như, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các nhà vă\n, nhà thơ phải khai thác được những đề tài gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Chẳng hạn như các bài thơ Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Đồng Chí (Chính Hữu), các tác phẩm truyện ngắn như Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) là những tác phẩm có đề tài gắn liền với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc. 1.4.2 Chủ đề Các tác giả trong quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên )) định nghĩa một cách khái quát “ chủ đề là vấn đề cơ bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề tài”. Còn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Vấn đề (triết lí, xã hội, đạo đức, và các loại hình tư tưởng khác) được đặt ra trong tác phẩm. Chủ đề bao giờ cũng được hình thành và thể hiện trên cơ sở đề tài. Tác phẩm văn học 12 có thể gồm một hoặc nhiều chủ đề. Những thuộc tính chung gần gũi về chủ đề và đề tài là căn cứ để tập hợp tác phẩm theo các nhóm thể tài. Tính cộng đồng về chủ đề có thể bộc lộ ở những sáng tác khác nhau của một nhà văn, của một thời kì văn học, hoặc bộc lộ ở nhiều giai đoạn khác nhau của một hoặc một số nền văn học”. [15, tr 1738] Như vậy, đề tài là thể hiện khả năng khái quát và nắm bắt những vấn đề đời sống xã hội còn chủ đề thể hiện nét riêng trong tư duy, tầm tư tưởng, khả năng khai thác những vấn đề đời sống của nhà văn. Suy ra, các nhà văn cùng viết về một đề tài nhưng chủ đề của các tác phẩm sẽ khác nhau. Thực tế, các tác phẩm trong nền văn học dân tộc và thế giới đã chứng minh điều đó. Chẳng hạn như cùng viết về đề tài người nông dân nhưng chủ đề thì khác nhau: Tắt đèn của Ngô Tất Tố khai thác sâu mâu thuẫn đối kháng giữa nông dân với giai cấp thống trị - bọn phong kiến thực dân và nêu nên nỗi thống khổ của người nông dân trước những bất công của xã hội phong kiến - thực dân. Còn tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao thì phản ánh quá trình tha hóa của người nông dân dưới nanh vuốt của bọn phong kiến thực dân. Hay cùng viết về đề tài người tù cách mạng, Tố Hữu khai thác tâm trạng khao khát tự do, mong muốn được hòa mình vào cuộc đấu tranh cùng với đồng chí, đồng đội và ý thức về lí tưởng cách mạng của người chiến sĩ trẻ trong bài Tâm tư trong tù, thì Hồ Chí Minh với bài Nhật kí trong tù thể hiện tinh thần rắn rỏi lạc quan của người cách mạng dạn dày sóng gió. So sánh rộng hơn ta thấy sự đồng điệu về đề tài nhưng có những đặc trưng riêng về cách thể hiện chủ đề của các nhà văn ở những nền văn học khác nhau trong cùng giai đoạn lịch sử và cả những giai đoạn lịch sử khác nhau. Chẳng hạn giữa Người lái đò sông Đà (1960) với Ông già và biển cả (1952), giữa A.Q chính truyện (1921) và Chí Phèo (1941)… Như vậy, chính những đặc trưng riêng về cách thể hiện chủ đề của các nhà văn, nhà thơ đã tạo ra nhiều tác phẩm với những thế giới hình tượng và những tầng ý nghĩa khác nhau. Nhà văn Gorki từng nhấn mạnh: “Chủ đề là cái tư tưởng manh nha trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi lên, làm tổ trong kho ấn tượng của anh ta nhưng chưa định hình và đòi hỏi thể hiện thành hình tượng, thức tỉnh nhà văn, kêu gọi anh ta lao động để tạo dựng hình thức cho nó”. Chắc hẳn sẽ không ai quên được vẻ đẹp sắc nước hương trời, tài năng và cuộc đời đầy gian truân của Thúy Kiều trong Truyện Kiều hay hình ảnh chàng trai thôn quê đang xót xa trước cái chất thị thành đang “ngấm dần” trong cô gái chân quê mà chàng rất mực yêu thương trong bài thơ Chân quê của nhà thơ Nguyễn Bính, nếu đã một lần đọc bài thơ. Người đọc cũng khó có thể mà quên được Chí Phèo khi hắn ta “ngật ngưỡng” bước ra từ những trang văn của nhà văn Nam Cao. Như vậy, nhờ thế giới hình tượng mà tác phẩm đọng lại trong trí nhớ người đọc và tồn tại với thời gian. Qua đó, ta thấy được chủ đề đóng vai trò rất lớn, nó quyết định sự 13 thành công của tác phẩm, làm cho tác phẩm có sức ảnh hưởng sâu rộng trong nhận thức của người đọc các thế hệ. Đặc biệt “chủ đề của những tác phẩm lớn thường là những vấn đề khái quát vượt lên trên những đề tài cụ thể”. Điển hình như Truyện Kiều, Thúy Kiều là một cô gái tài sắc vẹn toàn, con nhà trung lưu, trong xã hội phong kiến, nhưng cuộc đời truân chuyên của Kiều cũng chính là số phận chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Như vậy, chủ đề tác phẩm văn học không bó hẹp trong phạm vi giai cấp. Chủ đề gắn bó với đề tài cụ thể giúp cho chủ đề có cơ sở lịch sử xã hội còn điểm độc đáo, sâu sắc và ý nghĩa lớn lao của chủ đề làm cho tác phẩm trở nên bất hủ. Cũng giống như đề tài, chủ đề của tác phẩm không phải là vấn đề đơn nhất. Trong một tác phẩm có thể có chủ đề chính và nhiều chủ đề phụ đi kèm. Chủ đề chính bao quát toàn tác phẩm, chủ đề phụ thường thể hiện qua các nhân vật hoặc các chi tiết riêng lẻ. Chẳng hạn trong Truyện Kiều chủ đề chính là thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Chủ đề phụ là: tố cáo xã hội phong kiến thối nát chà đạp lên quyền sống của con người; sức mạnh của đồng tiền dưới chế độ phong kiến; chủ đề tình yêu tự do vượt giáo lí phong kiến, số phận thăng trầm của những người tài hoa…Xác định đúng chủ đề chính sẽ giúp người đọc tiếp cận được vấn đề cốt lõi của tác phẩm, từ đó có cách lí giải đúng đắn và sâu sắc về tác phẩm. Chủ đề là cách khai thác các phương diện của đề tài theo quan điểm riêng của tác giả nên không thể đồng nhất tính dân tộc của đề tài với chủ đề. Tuy nhiên, cũng không thể tách rời vì đề tài và chủ đề là những phạm trù trong một thể thống nhất của tác phẩm. Tính dân tộc của đề tài thể hiện ở mức độ khái quát, còn tính dân tộc của chủ đề thể hiện qua các vấn đề cụ thể mà tác phẩm đặt ra. Ví dụ như trong tác phẩm Tre Việt Nam đề tài là phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam, chủ đề của tác phẩm thể hiện cụ thể đó là các phẩm chất như đoàn kết, tương thân tương ái, cần cù, siêng năng, kiên cường, bất khuất, đức hy sinh cao cả. Nhưng bên cạnh đó phải chú ý một số trường hợp đề tài và chủ đề hòa quyện với nhau không thể chia theo mức độ khái quát hay cụ thể như trong một số tác phẩm ngụ ngôn, thơ trữ tình…Chẳng hạn như bài thơ Hoa chắt chiu của Nguyễn Duy là một ví dụ. Trong trường hợp này “người tiếp nhận có thể đi thẳng từ đề tài bên ngoài vào chủ đề, tư tưởng tác phẩm”.[21, tr 262]. Vậy cơ sở nào để xác định tính dân tộc của chủ đề? Cũng giống như đề tài, chủ đề có tính dân tộc thì phải thể hiện được thuộc tính và phẩm chất dân tộc trong chủ đề. Chủ đề phải phản ánh sâu sắc các vấn đề có liên quan đến đời sống dân tộc, gắn bó với dân tộc và là một trong những đặc trưng của dân tộc từ đó khái quát được đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc ở thời kì lịch sử đó. Làm nổi bật lên được bản sắc riêng của dân tộc trong cách hành 14 động, cách nghĩ, cách cảm và đời sống tâm hồn, tính cách của dân tộc. Chẳng hạn như tác phẩm Vợ Nhặt, chủ đề của tác phẩm đã nêu được đời sống khó khăn của người dân Việt Nam dưới hai tầng áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đặc biệt đã làm nổi bật vẻ đẹp tình người của người dân lao động trong cuộc sống khốn khó lúc bấy giờ. Đề tài và chủ đề đều do tác giả lựa chọn và thể hiện nhưng theo các tác giả trong quyển Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên ) - Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình, Lí luận văn học ( tái bản lần thứ 3 ), NXB Giáo dục) thì đó chủ yếu là phương diện khách quan của nội dung tư tưởng tác phẩm. Bởi đề tài và chủ đề “tuy chúng do tác giả xác định, nhưng lại do hiện thực quy định, có cội nguồn hiện thực”. Vì thế đề tài và chủ đề phải đảm bảo tính hiện thực và tính chân thực thì mới có giá trị. 1.4.3 Sự lí giải chủ đề Nhà văn không chỉ phải đưa một chủ đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc mà còn phải tìm cách thể hiện chủ đề của mình thật độc đáo và có cơ sở tư tưởng thuyết phục. Hay nói khác đi, nhà văn cần lí giải chủ đề của mình đặt ra trong tác phẩm sao cho thật hợp lí và sinh động. Lí giải chủ đề thực chất là quá trình nhà văn làm sáng tỏ chủ đề của tác phẩm bằng nhân sinh quan, thế giới quan cá nhân và các cơ sở tư tưởng đạo đức, chính trị, triết học, tôn giáo…tồn tại trong xã hội đương thời, thông qua sự phân tích các tính cách, xung đột, quan hệ, sự miêu tả, tái hiện tính cách và các hiện tượng đời sống”. Sự lí giải chủ đề trong tác phẩm văn học được thể hiện ở hai mặt chủ yếu: “những lời thuyết minh trực tiếp của tác giả, của nhân vật và lôgíc của sự miêu tả”. Sự lí giải chủ đề trong tác phẩm hay mang đến những quan niệm đa diện về con người và thế giới. Nhà văn có tài năng và tầm tư tưởng lớn sẽ lí giải chủ đề sâu sắc và độc đáo. Vì lí giải chủ đề thực chất là quá trình nhà văn làm sáng tỏ chủ đề của tác phẩm nên quá trình lí giải chủ đề sẽ thể hiện được tính dân tộc sâu sắc và cụ thể nhất. Nhân sinh quan và thế giới quan của nhà văn sẽ chi phối nhà văn trong lí giải chủ đề tác phẩm. Nhà văn có nhân sinh quan và thế giới quan tiến bộ thì sẽ lí giải chủ đề một cách độc đáo và thâm thúy. Chẳng hạn như trong tác phẩm “Thuốc” của nhà văn Lỗ Tấn, nhà văn chỉ miêu tả sự việc lão Hoa Thuyên chữa bệnh lao cho con trai bằng bánh bao tẩm máu người. Nhưng qua các tình tiết trong truyện nhà văn đã đưa được những vấn đề nóng bỏng của xã hội và lí giải được nguyên nhân sâu xa của nó. Với chi tiết bánh bao tẩm máu người, Lỗ Tấn đã cho thấy sự mê muội và mê tín của người dân Trung Hoa. Nhưng không chỉ đơn giản như thế, trong hình tượng bánh bao tẩm máu người, nhà văn lại đưa ra một chi tiết độc đáo, đó là máu của người tù cách mạng. Sự “định danh loại máu” này mở ra thêm một trường liên tưởng mới. Người cách mạng là người chiến đấu 15 cho quyền lợi của nhân dân Trung Hoa nhưng tại sao người dân lại có thể thản nhiên lấy máu người cách mạng để chữa bệnh? Tại sao chính những người thân của người cách mạng lại tố cáo anh ta để nhận tiền thưởng? Tại sao mẹ anh ta cũng cảm thấy xấu hổ khi con mình là người tù cách mạng bị chết chém? Và tại sao những người trong quán trà lại cho rằng người tù cách mạng bị điên? Những câu hỏi không có lời đáp trong ngôn từ của tác phẩm nhưng lại có lời đáp cho tất cả mọi người khi đã đọc tác phẩm. Điều nhà văn muốn nói đó chính là căn bệnh thờ ơ, vô cảm của người dân Trung Hoa đương thời và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng, đối chiếu với lịch sử Trung Hoa bấy giờ thì đó chính là căn bệnh của những người cách mạng trong cách mạng Tân Hợi. Và cái chết của người tù cách mạng Hạ Du là một kết cục tất yếu. Đó là cách lí giải chủ đề rất độc đáo của tác phẩm. Nhà văn nêu ra tình tiết để cho mọi người tự cảm nhận và rút ra chủ đề, và trong đó nhà văn cũng đã ngầm lí giải chủ đề thông qua một loạt các chi tiết có vấn đề. Trên đây chỉ là hai tình tiết nổi bật của tác phẩm “Thuốc”, nhưng qua đó chúng ta thấy được tài năng của nhà văn Lỗ Tấn trong việc lí giải chủ đề một cách sâu sắc và thâm thúy. Nhân sinh quan và thế giới quan của các nhà văn cũng là quan điểm của một lớp người – một bộ phận quan điểm của dân tộc, thể hiện được đời sống tinh thần và tâm hồn tính cách của một tầng lớp trong cộng đồng dân tộc. Ngoài quan điểm của bản thân, nhà văn sẽ vận dụng những cơ sở tư tưởng tồn tại trong xã hội để giải thích cho những vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm. Đó có thể là những chuẩn mực về đạo đức, những phong tục tập quán, hoặc những tư tưởng chính trị…Tất cả các yếu tố đó là đặc trưng cho dân tộc vì thế sự lí giải chủ đề của tác phẩm sẽ thể hiện được bản sắc dân tộc một cách chi tiết nhất. Tất nhiên, chỉ có sự lí giải phù hợp với nhân sinh quan, thế giới quan của đông đảo quần chúng và trên tinh thần vị nhân sinh, ca ngợi những điều tốt đẹp trong xã hội, lên án, bài trừ cái xấu cái lạc hậu… mới xứng đáng là tác phẩm có tính dân tộc chân chính. Chẳng hạn như tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, ông viết Lục Vân Tiên trên quan điểm thể hiện bài học đạo đức răn dạy người đời: “Ai ơi lẳng lặng mà nghe, Dữ răn việc trước, lành dè thân sau. Trai thời trung, hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh làm câu sửa mình” Bài học mà ông đưa ra trong tác phẩm chính là những nguyên tắc của Nho giáo đối với trang nam tử và phận nữ nhi. Nhưng điều độc đáo là các tình tiết trong tác phẩm không chỉ minh họa một chiều cho các tư tưởng Nho gia mà nó có sức lay động lòng người to lớn. Nhiều người dân Nam Bộ thuộc làu Lục Văn Tiên, đặc biệt ở vùng đất Ba 16 Tri –nơi cụ Đồ Chiểu sống những năm cuối đời, hầu như gia đình nào cũng có một quyển Lục Vân Tiên. Điều đó cho thấy âm vang của tác phẩm trong lòng độc giả. Đạt được thành công như vậy là do cách lí giải chủ đề của nhà văn phù hợp với nhân sinh quan và thế giới quan của đông đảo quần chúng. Các nguyên tắc: trung, hiếu, tín, lễ, nghĩa, hành, tàng, xuất, xử, công, dung ngôn, hạnh đã được nhà văn thể hiện qua các hành động của các nhân vật trong truyện một cách hài hòa và phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của đồng bào Nam Bộ. Đó cũng là lí do vì sao các nhân vật trong truyện trở thành những điển hình của đời sống và đi vào ngôn ngữ đời sống của nhân dân như “dốt như Bùi Kiệm”. Bên cạnh đó, trong quá trình lí giải chủ đề nhà văn phải thể hiện một cách chân thực nhất về đời sống tâm hồn và tính cách dân tộc. Đó là yếu tố đặc trưng cho mỗi dân tộc tạo nên sự khác biệt giữa các dân tộc trên thế giới. Tác phẩm phải thể hiện được sự kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp và sự thay đổi trong cách cảm, cách nghĩ và cách hành động của nhân dân theo dòng lịch sử. Vì “văn nghệ muốn thật sự có tính dân tộc thì không phải thiên về việc mô phỏng những hình thức dân tộc, mà phải đi sâu khám phá cho đúng tâm hồn và tính cách dân tộc”[20, tr 157]. Với nhân vật chị Út Tịch trong tác phẩm Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, ta dễ dàng nhận ra những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam đó là tấm lòng yêu thương chồng con tha thiết, sự đảm đang, tháo vát, đức hy sinh cao cả. Bên cạnh đó trong con người chị còn ngời sáng lên những phẩm chất của người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đó là tình đồng chí, đồng đội sâu nặng, lòng trung kiên với Tổ quốc, tinh thần bất khuất, hiên ngang của người chiến sĩ cách mạng…Trong nhân vật ấy còn mang nét tính cách rất độc đáo của người dân Nam Bộ chân chất, phóng khoáng, lạc quan. 1.4.4 Ngôn ngữ Đề tài, chủ đề, sự lí giải chủ đề là yếu tố nội dung của tác phẩm thể hiện tính dân tộc trong tác phẩm văn học thì ngôn ngữ và thể loại là yếu tố hình thức của tác phẩm thể hiện tính dân tộc. Ngôn ngữ dân tộc là lĩnh vực dễ nhận ra nhất về phương diện tính dân tộc trong tác phẩm văn học. Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi xin sơ lược về ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam trong lịch sử để thấy rõ vấn đề tính dân tộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử, dân tộc ta đã sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau như: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ. Chúng ta không thể phủ nhận tính dân tộc trong các tác phẩm như: Hịch tướng sĩ, Nam quốc sơn hà, Ngục trung nhật kí, Vi hành… Suy ra, tính dân tộc trong ngôn ngữ phải xét trong điều kiện lịch sử và cả trong nội dung của ngôn ngữ. Trong bối cảnh lịch sử trước đây, thì vấn đề sử dụng, vay mượn ngôn ngữ của dân tộc khác có thể chấp nhận được và những tác phẩm có tinh 17 thần dân tộc vẫn là những tác phẩm có giá trị trong nền văn học dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay vấn đề này cần nhìn ở phương diện khác, việc sử dụng ngôn ngữ nước ngoài cần tuân thủ những quy tắc nhất định để bảo đảm tính dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật. Trong Mười tám điều tự răn về công tác viết văn Trường Chinh đã nhắc nhở văn nghệ sĩ: “Dân tộc hóa: 1. không được dùng một chữ nước ngoài nếu không cần thiết. 2. Không viết một câu theo cách đặt câu nước ngoài…”. Theo chúng tôi, đây là những lưu ý rất quan trọng cho văn nghệ sĩ trong sáng tác bởi tiếng Việt ta giàu và đẹp, chúng ta cần phát huy vốn ngôn ngữ của dân tộc. Chỉ sử dụng ngôn ngữ nước ngoài khi thật cần thiết hoặc để làm phong phú thêm cho ngôn ngữ dân tộc. Trong ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa - dân tộc trong ngôn ngữ. Theo chúng tôi đây là các tư liệu rất tốt để chúng ta sử dụng làm căn cứ xác định tính dân tộc trong tác phẩm văn học. Theo Nguyễn Thị Vân Đông, “đặc trưng văn hóa – dân tộc trong ngôn ngữ” được thể hiện trong bốn phương diện: “thể hiện qua nghĩa từ”, “thể hiện trong sự phạm trù hóa hiện thực và bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, “qua định danh ngôn ngữ”, “qua tư duy ngôn ngữ”[11, tr 421]. Kết hợp nghiên cứu tài liệu Lí luận văn học (Phương Lựu ( Chủ biên ) - Trần Đình Sử Nguyễn Xuân Nam - Lê Ngọc Trà - La Khắc Hòa - Thành Thế Thái Bình, ( tái bản lần thứ 3 ), NXB Giáo dục) chúng tôi nhận thấy có thể nhận diện tính dân tộc qua bốn yếu tố chính trong ngôn ngữ là: ngữ âm, từ vựng, cú pháp và biện pháp tu từ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước định hình tính dân tộc trong ngôn ngữ. Điều quan trọng là phải nhận ra được tính dân tộc thể hiện trong bốn yếu tố trên trong các tác phẩm như thế nào. Trong giới hạn của đề tài chúng tôi không đi sâu khảo sát về tính dân tộc trong ngôn ngữ theo hình thức so sánh mức độ giàu và đẹp của tiếng Việt so với ngôn ngữ của các dân tộc khác mà chỉ đi sâu tìm hiểu trong thơ Nguyễn Duy đã vận dụng ngôn ngữ dân tộc như thế nào? Ông đã phát huy những yếu tố nào của truyền thống sử dụng ngôn ngữ trên bốn yếu tố cơ bản: ngữ âm, từ vựng, biện pháp tu từ, cú pháp và các yếu tố trên đã được nhà thơ vận dụng để thể hiện qua ngôn ngữ thơ, giọng điệu và hình ảnh thơ ra sao. 1.4.5 Thể loại Các tác giả quyển Lí luận văn học cho rằng: “Tính dân tộc cũng biểu hiện đậm nét trong loại thể văn chương. Do trình độ phát triển của các dân tộc không đều nhau, do truyền thống văn hóa của mỗi nước khác nhau, cho nên sự ra đời của mỗi loại thể văn học ở từng nước nhanh chậm có khác nhau…cách phân chia loại thể cũng khác nhau ở mỗi nước…Tính dân tộc của mỗi loại thể không những thể hiện ở những thể loại riêng biệt của từng dân tộc, mà còn biểu hiện ở những đặc điểm khác nhau của một số loại thể gần gũi.”[20, tr 162]. Chúng tôi đồng tình với các quan điểm trên về tính dân 18 tộc của thể loại tác phẩm văn học. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ đi sâu khai thác và phân tích sự kế thừa và phát huy các thể loại dân tộc trong thơ Nguyễn Duy. Tiêu biểu là các thể thơ lục bát, thơ , thơ tự do. Thơ lục bát có nguồn gốc từ ca dao, kết cấu gồm một cặp câu 6 âm tiết và 8 âm tiết. Thơ lục bát ít nhất là hai câu, dung lượng không hạn chế nên thể thơ này thường được sử dụng để thể hiện tâm tình và giãi bày cảm xúc (Truyện Kiều, Lục Vân Tiên). Thơ lục bát có nhiều cách gieo vần khác nhau. Cách gieo vần phổ biến nhất là: Âm 1 2 3 4 5 6 Câu 6 - Bằng - Trắc - Bằng Câu 8 - Bằng - Trắc - Bằng 7 8 - Bằng tiết Ví du như: “Hôm qua tát nước đầu đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen” (Ca dao) Hay: “Nắng chia nửa bãi chiều rồi Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu” (Huy Cận) Ngoài ra còn có nhiều dạng gieo vần đặc biệt khác nữa như: Gieo vần trắc, dạng này thường thấy trong ca dao: “Tò vò mà nuôi con nhện Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi” Gieo vần ở chữ thứ tư của câu sáu và chữ thứ sáu của câu tám: “Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội xuống bùn, tay cấy mạ non” (Bầm ơi - Tố Hữu) Thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp 2/2 nhưng vẫn có các biến thể ngắt nhịp như: “Mai cốt cách / tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Hay: “Cái gì / như thể / nhớ mong 19 Nhớ nàng?/ Không! / Quyết là không nhớ nàng” (Nguyễn Bính) Nhịp điệu của thể thơ lục bát phong phú, dạng thức gieo vần linh hoạt nên thơ lục bát có khả năng thể hiện tinh tế những cung bậc tình cảm đa dạng, phức tạp của con người. Đồng thời, có thể tạo ra các dạng tiểu đối hoặc đối trong ngữ đoạn câu thơ, tạo vẻ đẹp hài hòa và tăng sức hàm súc cho câu thơ: “Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn” (Huy Cận) Bên cạnh đó, thơ lục bát có khả năng thích ứng với nhu cầu vận dụng các chất liệu văn học dân gian vào văn học viết: “Kiến bò miệng chén chưa lâu Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa” (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Thể thơ tự do hình thành từ phong trào thơ mới và phát triển mạnh trong giai đoạn văn học sau Cách mạng tháng 8. Thơ tự do phá vỡ tất cả các quy tắc cách luật, biến hóa linh hoạt, mức độ phá cách và dung lượng câu thơ phụ thuộc nội dung vấn đề mà tác phẩm đề cập và trạng thái cảm xúc của người sáng tác. Thơ tự do thuận lợi trong việc diễn đạt cảm xúc do không hạn định về số chữ, không bị ngắt dòng: “Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng Đến em thơ cũng hóa những anh hùng Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ Và hoa trái cũng biến thành vũ khí Hãy chết đi, chết đi Tất cả chúng bay một bầy ma quỷ Và xin nghe nước Mỹ ta ơi! Tiếng đau thương, tiếng căm giận đời đời Của một con người. Của một con người thế kỉ…” (Ê-mi-ly, con…- Tố Hữu) Đặc biệt, có thể sử dụng kết hợp nhiều thể thơ trong một bài thơ tự do: “Cháu ngoan cháu ngủ đi nhe Mẹ mày ra chợ bán rau Bố đi đánh giặc còn lâu Mẹ mày cày cấy ruộng sâu tối ngày … 20
- Xem thêm -