Tính biểu trưng của các khuôn vần trong truyện kiều của nguyễn du

  • Số trang: 119 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM ----------- VÕ THỊ THẢO TÍNH BIỂU TRƯNG CỦA CÁC KHUÔN VẦN TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn, khóa 33: 2007–2011 CBHD: BÙI THỊ TÂM Cần Thơ, -1- 5/2011 Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Một tác phẩm muốn lắng đọng sâu trong lòng độc giả. Thì tác phẩm đó đòi hỏi không chỉ có giá trị về mặt nội dung mà còn cả về hình thức thể hiện. Và khuôn vần là một trong những khuôn sẽ góp phần làm cho từ ngữ có sức gợi hình, gợi tả rất cao... Chính nhờ những giá trị biểu trưng của khuôn vần sẽ tiếp lữa cho nhà văn, nhà thơ trong việc thể hiện giá trị nội dung, trong việc truyền tải những cung bậc cảm xúc, những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng… đến bạn đọc một cách hiệu quả nhất. Biểu trưng của khuôn vần chính là những nét nghĩa về sự vật sự việc mang tính hình tượng rất gần gũi với đời sống con người, đã được con người quan sát và nhận thức sâu sắc. Khuôn vần có thể tồn tại ở hình thức là từ đơn, từ ghép và từ láy… Đặc biệt là những giá trị biểu đạt trong từ láy thường được rất nhiều nhà ngôn ngữ nghiên cứu. Trong thơ ca, ta thấy có những khuôn vần mang nghĩa nhưng cũng có những khuôn vần không mang nghĩa, cũng có những khuôn vần được sử dụng rất nhiều lần, tuy nhiên vai trò của chúng trong mỗi trường hợp có thể khác nhau. Bên cạnh đó, ta thấy tương ứng có những khuôn giống nhau hoặc gần giống nhau giữa chúng có một mối liên hệ ngữ nghĩa nhất định. Đó là ngữ nghĩa gì? Tác dụng như thế nào đến nội dung tác phẩm? Chính từ những vấn đề nghi vấn như vậy mà thôi thúc người viết muốn đi tìm những nét nghĩa cơ bản của các khuôn vần đó trong thơ ca, cụ thể là tác phẩm Truyện Kiều ( NguyễnDu) – là tác phẩm người viết chọn làm để khảo sát. Truyện Kiều ( Nguyễn Du) là một tác phẩm văn học cổ. Trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt của cuộc sống, Truyện Kiều vẫn sống mãi cùng năm tháng, vẫn sống mãi trong tầng tầng lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam. Có thể nói Truyện Kiều đã vượt ra được giới hạn về không gian và thời gian của một quốc gia để đến với hàng triệu trái tim nhân loại trên khắp thế giới . Để có được sự bất tử như hôm nay, thiên tài Nguyễn Du của chúng ta không chỉ dụng tâm mà còn dụng công rất khéo, hình như mỗi âm mỗi tiếng đều có “ máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy” thì phải! Trong Truyện Kiều có khá nhiều từ láy sử dụng rất thành công. Nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các khuôn vần trong từ đơn, từ ghép và các loại từ khác trong việc thể hiện nội dung và giá trị đặc sắc cho tác phẩm. -2- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Tất cả những lí do trên người viết đã quyết định chọn đề tài “ Tính biểu trưng của các khuôn vần trong Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” để nghiên cứu, với hi vọng sẽ góp một phần nhỏ cho việc tìm hiểu biểu trưng của tác phẩm nói riêng và trong thơ ca nói chung. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngôn ngữ học là một ngành ra đời muộn, nhưng những đóng góp của ngành cho ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của từng dân tộc nói riêng là không nhỏ. Những năm gần đây, nhiều nhà ngôn ngữ đã dành nhiều thời gian cho việc khai thác và tìm hiểu về vấn đề ngôn ngữ, trong đó có vấn đề về tính biểu trưng của khuôn vần. Từ các từ cùng khuôn, người ta xem xét chúng có những nghĩa chung nào, hay biểu trưng cho nội dung gì. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về khuôn vần nói chung và các nghiên cứu về tác phẩm Truyện Kiều ( Nguyễn Du) mà người viết chọn lựa và trên cơ sở đó để đi sâu hơn khi nghiên cứu biểu trưng của các khuôn vần trong tác phẩm Truyện Kiều. Nguyễn Đại Bằng trong cuốn Khuôn vần tiếng Việt và sự sáng tạo của từ đã đi nghiên cứu khuôn vần và sự sáng tạo của các từ ở từ láy. Ông nhận thấy sự sáng tạo từ theo quy tắc “ đối ứng khuôn hay ý nghĩa cơ bản” và sự chuyển đổi khuôn đã tạo nên một lớp từ mới mang những nghĩa chung với các khuôn vần này: “ Chẳng hạn, khuôn -ANG, hình tượng tương ứng mà chúng tôi tìm thấy là NGANG, một trong những ý nghĩa của nó là “ rộng – mở rộng, lan rộng, rộng khắp, rộng lớn” ứng với nhóm từ: thênh thang, mở mang, mênh mang, lênh láng, nở nang, hở hang… Như vậy sự kết hợp của các khuôn vần khác nhau -ÊNH-ANG và -Ơ-ANG ở nhóm từ kể trên là sự kết hợp cặp khuôn đối ứng với nhau về cùng một trạng thái biểu thị độ rộng mà khuôn đối ứng mang nghĩa cơ bản “ rộng” đã tăng thêm cường độ cơ bản của từ gốc” [1; tr.114]. Ông đã tìm thấy và chứng minh được rằng chính nhờ những nghĩa chung cơ bản của những nhóm từ cùng khuôn vần có thể tìm thấy được những nghĩa cơ bản đối xứng với nhau của từng cặp khuôn vần từ thành tố gốc là từ láy. Khi đi sâu vào cấu tạo từ như vậy, ông đã giúp chúng ta có cơ sở hơn khi đi phân tích nghĩa biểu trưng của từ trong các nhóm khuôn vần mà nó đảm nhiệm. Hoàng Văn Hành trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt, khi đi khảo sát ngôn từ ở phương diện từ láy, ông nhận thấy rằng từ láy cũng giá trị biểu trưng và ông phân tích thành những loại từ mang tính biểu trưng như sau: -3- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn. Đó là những từ có nét chung là mô phỏng âm thanh trong tự nhiên theo cơ chế láy. Ví dụ: lộc cốc, thùng thùng, oai oái, i ới, nheo nhéo… Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu. Biểu thị thuộc tính ( tính chất, trạng thái, quá trình…); biểu thị sự vật, ví dụ: đăm đăm, chồm chồm, lổm ngổm, bâng khuâng… Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa. Ở dạng từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt về ngữ nghĩa ông định nghĩa chúng như sau: “ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa là từ mà nghĩa của nó có thể giải thích được không chỉ nhờ nghĩa của từ gốc mà còn nhờ ở giá trị tạp nghĩa ( tức là giá trị biểu trưng hóa) của sự hòa phối ngữ âm trong cấu tạo của nó. Hình thái biểu hiện của sự hòa phối ngữ âm này là điệp và đối. Trong đó, điệp và đối khuôn vần vẫn là quan trọng” [8; tr.86]. Điều đó cho thấy ông đã có những tìm hiểu và nhìn nhận sâu sắc về các dạng từ láy. Đặc biệt những từ láy có chung một khuôn vần thường mang những sắc thái ý nghĩa cho một dạng thức nào đó, chúng có thể là biểu thị âm thanh, hay biểu thị tính chất, trạng thái sự vật sự việc. Nhất là các từ láy chuyên biệt nghĩa ở chúng có những “ giá trị biểu trưng hóa” nhờ có sự phối âm và cấu tạo từ nên chúng làm nên ý nghĩa cho từ ngữ đó. Chứng tỏ sự tồn tại của những khuôn vần có nghĩa trong từ láy là vấn đề cần quan tâm và cần làm rõ cụ thể trong những trường hợp tồn tại của nó. Hoàng Văn Hành tuy nhìn vấn đề quan trọng của khuôn vần nhưng chỉ từ góc độ biểu trưng hóa ngữ âm – ngữ nghĩa của từ láy. Ông chưa phân tích tới những giá trị của những từ láy có gần ngữ nghĩa, và những ý nghĩa biểu trưng tồn tại ở các dạng từ khác như đơn, ghép. Song ông đã phần nào cho thấy vai trò của việc nghiên cứu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong âm tiết tiếng Việt. Dựa trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã tiếp tục đi sâu và nghiên cứu các khuôn vần để vận dụng tìm hiểu nghĩa của các khuôn vần trong thơ nói chung. Phi Tuyết Hinh trong cuốn Từ láy những vấn đề bỏ ngỏ, ông đã đi tìm hiểu ý nghĩa của một số từ láy có cấu tạo như: nhỏ nhắn, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ nhoi, quanh co, loanh quanh… và những từ láy có cấu tạo từ những từ không rõ nghĩa như: thờ ơ, ỡm ờ, chới với, lâng lâng, bảng lãng, bùi ngùi… để tìm thấy những nét nghĩa biểu trưng chung của các từ có cùng khuôn. Ông cho rằng: “ khuôn vần có giá trị biểu trưng ngữ âm, và giá trị biểu trưng ngữ âm ấy có vai trò quan trọng góp phần tạo nên ý nghĩa của những từ láy thuộc loại này” [35; tr.39]. Phát biểu của ông lần nữa đã -4- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du khẳng định vai trò thiết yếu của khuôn vần có vai trò quan trọng tạo nên ý nghĩa của các từ. Nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở những khuôn vần trong từ láy mà chưa mở rộng ở những khuôn vần từ đơn hay ghép. Và ông nói thêm rằng: “ giá trị biểu trưng của mỗi khuôn vần được xem xét theo nhiều góc độ khác nhau. Trước hết nó là bộ phận của từ láy không rõ thành tố gốc, rồi tiếp theo nó được xét với tư cách là bộ phận của thành tố láy trong những từ láy có thành tố gốc; và cuối cùng, nó là bộ phận của từ đơn” [35; tr.39]. Nên những khuôn vần ở dạng từ láy được ông đi tìm hiểu và nghiên cứu khá sâu, từ những cách cấu tạo từ cho đến nghĩa của từ. Điều đó càng làm rõ một vấn đề là khuôn vần tồn tại những giá trị ngữ nghĩa nhất định. Do đó ông khẳng định “ không dễ gì có thể nghi ngờ hay bác bỏ tính hệ thống, tính quy tắc ở giá trị biểu trưng của khuôn vần”. Phi Tuyết Hinh đã phần nào khẳng định và chứng minh được sự tồn tại của những giá trị biểu trưng mà các khuôn vần góp phần tạo nên nội dung ý nghĩa của thơ ca nói chung. Đặc biệt là ông đã thử đi tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong các từ láy không rõ thành tố gốc, hay các khuôn vần từ láy trong các trường hợp khác. Nghiên cứu của ông có vai trò hết sức quan trọng cho việc tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong tác phẩm mà người viết khảo sát. Theo Nguyễn Thái Hòa cho rằng “ Cù Đình Tú đã thống kê được nhiều khuôn, vần nhưng chưa đủ”. Theo ông “ ngay sự đối lập âm vực cao, thấp cũng tạo ra những từ có nét nghĩa khác nhau về mức độ”: - Sát/sạt, phát/phạt, dát/dạt, bát/bạt, ngát/ngạt… - Bấp/bập, tấp/tập, váp/vập, gấp/gập, rấp/rập… - Óp/ọp, móp/mọp, tóp/tọp, sóp/sọp, bóp/bọp… Chúng ta có thể cảm nhận dễ dàng những nét nghĩa ấy mà không cần giải thích. Ví dụ: “ “ hương thơm ngát” với “ hương thơm ngan ngát” có liên quan chặt chẽ với nhau chứ không phải là những từ biệt lập” [4; tr.267]. Và theo ông “ tính biểu trưng của các phương tiện ngữ âm là có thực và cần được nghiên cứu. Nhưng tính biểu trưng không phải là quy tắc khái quát cho tất cả các từ mà có tính chất võ đoán của tín hiệu vẫn là chủ yếu” [4; tr.267]. Ở đây Nguyễn Thái Hòa mới chỉ có nhận xét rằng giữa các khuôn vần có chung một nét ngữ nghĩa chung, trong cơ chế đối ứng của nó, ông đã dẫn chứng được những nét nghĩa khác nhau đó. Và cũng khẳng định đây là vấn đề cần nghiên cứu, tuy nhiên ông chưa đi tập hợp chúng lại và chưa đi sâu phân tích với một nhóm khuôn vần như -5- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du vậy mang giá trị biểu trưng gì cho tác phẩm. Theo người viết thì đó là một phương diện rộng, cần đưa chúng vào phạm vi cụ thể. Hồ Lê trong cuốn từ Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại có bàn tới phần vần của âm tiết tiếng Việt như sau: “ để tượng thanh và để tượng hình, khuôn vần tiếng Việt, bộ phận quan trọng nhất trong sự cấu tạo ý nghĩa, được chủ yếu sử dụng. Khuôn vần có khả năng biểu thị. Cùng một khuôn tiếng, có thể có một nhóm từ nhất định cùng mang một nét nghĩa chung nào đó” [19; tr.62]. Nhận định trên của ông chứng tỏ một vấn đề quan trọng, đó là các từ có cùng một khuôn vần, khuôn tiếng vẫn tồn tại trong những nét nghĩa chung. Chính những nét nghĩa chung này làm cho tác phẩm tránh được sự trùng lặp nhưng mặt khác lại tạo âm hưởng và sắc thái ý nghĩa cho ngôn từ khi dùng đúng chỗ, đúng cách. Mặt khác ông nhận thấy một điều là: “ Ý kiến một số tác giả trước đây cho rằng giữa một dãy từ như: chặt, vặt, gặt, cắt… hay: tụt, rụt, thụt, hụt… tất cả cái chung đó, không phải là không có lí. Vấn đề là cần phải chỉ rõ đó là cái chung như thế nào, trên cơ sở nào, và nó được hình thành trong điều kiện nào? Trên cơ sở nào?” [19; tr.62]. Qua ý kiến của ông, chúng ta thấy ông cũng đã tìm hiểu về những nhà nghiên cứu trước đây, họ từng đưa ra những ý nghĩa chung cho các từ cùng khuôn, ông thừa nhận điều đó là có lí nhưng ông đã đặt ra vấn đề quan trọng hơn cho các nhà ngôn ngữ nói chung là “ phải chỉ rõ đó là cái chung như thế nào, trên cơ sở nào, và nó được hình thành trong điều kiện nào? Trên cơ sở nào?” của những từ có nghĩa chung ấy. Đó chính là việc đi tìm các từ có cùng khuôn tiếng. Ông cũng nhận định rằng “ các khuôn vần này có giá trị quan trọng trong việc cấu tạo nghĩa”. Vì vậy ông cố gắng đi tìm hiểu các khuôn vần ở dạng chung khái quát trên cơ sở thực tế và một số câu thơ. Tuy nhiên, ông chưa đi tìm giá trị biểu trưng trên một tác phẩm cụ thể để chứng minh cho điều này mà ông chỉ thống kê chúng dưới dạng những từ có cấu tạo cùng khuôn mang những ý nghĩa biểu trưng chung. Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt cũng đề cập tới vấn đề ý nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong phong cách học ngữ âm như sau: “ nhiệm vụ của phong cách học ngữ âm là phải nghiên cứu những giá trị biểu trưng của các khuôn vần trong từ láy ( cùng với các yếu tố ngữ âm khác) để nêu lên cách sử dụng chúng trong hoạt động lời nói, nhất là trong lời nói nghệ thuật, bởi vì chính những giá trị biểu trưng này cùng với các yếu tố khác nữa đã tạo nên cái -6- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du luồng ý nghĩa ngầm của khổ thơ, đoạn văn, giúp người đọc cảm nhận được cái hồn của văn bản nghệ thuật” [15; tr.98]. Nói về vai trò nhiệm vụ của ngữ âm tiếng Việt, Đinh Trọng lạc đã cho thấy nghĩa biểu trưng của vần trong từ láy chính là từ cấu tạo âm tiết của vần trong thơ. Chúng có ý nghĩa quan trọng cho sự cảm nhận của người đọc đối với thơ ca và góp phần giúp cho tác giả gửi gắm những tình cảm, những suy nghĩ của mình đến độc giả, điều mà ông gọi là “ cái hồn” vậy. Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, khi đi khảo sát cách cấu tạo từ của tiếng Việt về mặt mối quan hệ cơ cấu ngữ âm và nội dung ngữ nghĩa có nói rằng: “ có một hiện tượng rất lí thú là nhiều đơn vị từ ngữ của tiếng Việt dường như được cấu tạo theo những khuôn ngữ âm – ngữ nghĩa nhất định. Mỗi khuôn ngữ âm – ngữ nghĩa gồm có một hoặc hai thành tố này mang tính gợi hình, biểu cảm được rút ra từ hàng loạt đơn vị từ ngữ cấu tạo theo khuôn này” [32; tr.236]. Và ông đã thống kê được khá nhiều nhóm khuôn vần gợi hình ảnh như: khuôn vần “op” mang một nghĩa chung là “ giảm thể tích” hoặc “ thu lại”: óp lại, móp, hóp, tọp, tóp… Nhiều khuôn vần “ê - a” biểu thị “ quá trình kéo dài từ chỗ này qua chỗ khác, từ lúc này qua lúc khác”. Cù Đình Tú đã đi sâu vào phân tích được những nhóm khuôn vần có chung những giá trị biểu trưng. Thông qua những đặc điểm chung đó đã giúp chúng ta có thêm cơ sở để đi tìm hiểu thêm những biểu trưng của khuôn vần ở trong thơ. Đặc biệt những khuôn vần mà ông đã tập hợp chúng trong những nhóm từ cùng khuôn biểu thị một nét nghĩa tương đương mà ông đã tìm thấy. Trong quá trình phân tích tìm hiểu Truyện Kiều ( Nguyễn Du), chúng tôi nhận thấy không ít nhà nghiên cứu tìm thấy ở Truyện Kiều có những giá trị nghệ thuật trong cách sử dụng từ ngữ. Đồng thời qua đó, các nhà nghiên cứu muốn khẳng định Truyện Kiều là viên ngọc quý, là tiếng nói, là tâm hồn của dân tộc Việt Nam, và tượng trưng cho những gì tinh hoa văn hóa của dân tộc. Sau đây, chúng tôi xin dẫn một vài công trình của các nhà nghiên cứu khác nhau như sau: Đào Duy Anh trong cuốn Truyện Kiều những lời bình, ông có nhận xét như sau: “ Một cớ khác khiến người ta dù có học hay không học, đã đọc đến Truyện Kiều là phải say mê, tức là âm điệu nhịp nhàng của câu văn êm dịu như bài hát. Ta thường thấy những người nhà quê, những đứa trẻ chăn trâu, những con bé giữ em, hát những -7- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du câu Kiều mà nó không hiểu gì cả. Nghĩ ta không cần nghĩ đến nghĩa, chỉ cốt để cho cái âm điệu véo von uyển chuyển của câu hát ru mê hồn mà thôi” [13; tr.24]. Đào Duy Anh tuy chưa đề cập tới nội dung, nhưng phần nào cho ta thấy được ưu điểm về thể thơ Kiều, một thể thơ rất gần gũi với tâm hồn người Việt. Với cách nhìn này góp phần thú vị để chúng tôi nghiên cứu Truyện kiều sâu hơn. Hà Như Chi trong cuốn Việt Nam thi văn giảng luận cũng khẳng định như sau: “ Truyện Kiều đáng được tôn trọng vì giá trị văn chương của nó. Truyện ấy cho ta một kiểu mẫu hàn bị về kỹ thuật văn chương. Những cảnh tả người, tả cảnh, tả tình, biến đổi âm điệu, đặt câu, dùng chữ, chuyển mạch, những đặc tính cân đối, trang nhã, duyên dáng của nó đáng được bất cứ ai muốn làm thơ, làm văn đều noi theo và chiêm ngưỡng” [2; tr.493]. Với khẳng định của Hà Như Chi, ta thấy Truyện Kiều không chỉ hay về sự trau chuốt dùng câu, dùng từ mà giá trị văn chương cũng rất “ đáng được tôn trọng”. Hà Như Chi cũng đề cập đến sự “ biến đổi âm điệu” nhưng vẫn còn chung chung. Dù sao bà cũng đã diễn tả được cái tài của Nguyễn Du trong cách thể hiện thơ và cho những ai muốn làm thơ “ noi theo và chiêm ngưỡng”. Xuân Diệu trong cuốn Truyện Kiều những lời phê bình đã phát biểu như sau: “ Nguyễn Du dùng rất nhiều cái phương pháp cách điệu hóa: trong thơ có chất vũ khúc, múa, và chất âm nhạc. Nhà thơ khi diễn tả sự vật, diễn tả sự việc, rồi lên khung các vật, việc ấy, có khi đưa nó lên trên một sân khấu ca múa, có dàn nhạc đệm theo” [13; tr.275]. Xuân Diệu cũng giống như Đào Duy Anh và Hà Như Chi, đã thấy được cái tài của nhà thơ trong việc thể hiện giá trị nội dung cho tác phẩm. Và Xuân Diệu cũng có đề cập đến “ chất âm nhạc” “ chất vũ khúc” trong việc diễn tả sự vật, sự việc cho thơ. Nhưng cái gì đã làm nên chất âm nhạc đó thì Xuân Diệu chưa đề cập đến. Đỗ Đức Hiểu trong cuốn Truyện Kiều những lời bình như sau: “ Nguyễn Du láy lại nhiều lần những cảnh chia lìa. Có thể nói mực của nhà thơ chảy bao nhiêu trên trang giấy, thì bấy nhiêu giọt lệ thấm vào những trang kể truyện ấy” [13; tr.368]. Đổ Đức Hiểu đã đề cập đến vấn đề quan trọng cách dùng từ “ láy lại nhiều lần” để thể hiện nội dung, đó cũng là vấn đề tìm hiểu về giá trị biểu trưng khuôn vần trong lớp từ láy. Nhưng ông vẫn chưa có ví dụ cụ thể, vẫn còn mang tính khái quát chung chung. -8- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Trần Ngọc Hưởng trong cuốn Luận đề về Nguyễn Du và Truyện Kiều có viết như sau: “ vẻ u buồn của tâm trạng cũng như của cảnh vật được diễn tả còn nhờ nhịp đôi của câu thơ lục bát, nhờ các từ láy ( thấp thoáng, man mác), nhờ cách dùng điệp ngữ ( buồn trông) và cách láy từ ( xa xa, dàu dàu, xanh xanh, ầm ầm)” [14; tr.135]. Với đánh giá trên của Trần Ngọc Hưởng cho thấy Truyện Kiều không chỉ sử dụng nhiều từ láy cũng như điệp ngữ, mà còn cho thấy tác dụng của các từ láy, điệp ngữ này trong việc thể hiện tâm trạng nói riêng và giá trị nội dung nói chung. Do đó việc nghiên cứu từ láy này nói chung và nghĩa biểu trưng về phương diện của từ láy có ý nghĩa quan trọng, cho việc hiểu thêm vai trò của chúng cũng như ý nghĩa của chúng từ dạng khuôn vần là rất có ý nghĩa. Nguyễn Lộc trong cuốn Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm đã khám phá như sau: “ Truyện Kiều hoàn toàn không có hiện tượng túng vần phải gieo vần bằng những tu từ như thường thấy trong khá nhiều trong truyện Nôm khác, nhất là truyện Nôm bình dân. Nguyễn Du sử dụng các vần không phải chỉ để móc nối các câu thơ lại với nhau mà vần của Nguyễn Du thường có âm điệu dư ba. Vì vậy mà khi cần thiết nhà thơ nhân vần lên bằng cách sử dụng nhiều từ trùng điệp, từ đồng âm” [36; tr.784]. Cho thấy Nguyễn Lộc đã có sự tìm hiểu sâu về Truyện Kiều, ông cũng đã đề cập được sự gieo vần rất là linh hoạt, đa dạng trong Truyện Kiều. Nhưng vẫn chưa có sự minh họa trong từng trường hợp cụ thể nào. Nguyễn lai trong cuốn Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học như sau: “ Chúng ta thán phục nghệ thuật tạo hình của Nguyễn Du với những nét tả Tú Bà như: nhờn nhợt màu da, cao lớn đẫy đà, vì chính những từ ngữ trên, tác giải đã khơi dậy nơi ta mọi sự căm ghét và ghê tởm để tự làm bật dậy cho ta một mụ Tú Bà” [16; tr.93]. Có thể nói trong Truyện Kiều có hai tuyến nhân vật chính và tà. Nguyễn Lai đã nhìn nhận được sự sáng tạo của Nguyễn Du trong cách thể hiện tính cách xấu xa của mụ Tú Bà như: “ nhờn nhợt màu da”, “ cao lớn đẫy đà”. Nhưng ông cũng chỉ mới chỉ ra được cách dùng từ, chớ chưa đề cập đến cách gieo vần trong việc biểu trưng hình tượng nhân vật. Nguyễn Ngọc thiện trong cuốn Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam đã có nhìn nhận như sau: “ Trong Truyện Kiều như câu: Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa ( Vì có chữ “ thơ” nên câu văn mới có giá trị, mới có vẻ êm ái và dịu dàng, rõ ra lời nói của một người con gái đẹp còn trẻ tuổi; nếu bỏ chữ ấy chắc không chữ nào thay vào được). Chữ “ thơ” trong câu văn ấy tức là “ một ngón tay lạ lùng, chạm khẽ vào -9- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du óc ta như chạm vào một sợi dây đàn, rồi trong linh hồn ta như vang lên một tiếng thanh tao” [28; tr. 443]. Và ông nói thêm “ Nay cứ xét trong toàn thiên Truyện Kiều, ta thường hay gặp những “ chữ đôi”; những chữ ấy dự một phần khá to trong cách làm văn. Thí dụ như hai câu: Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng… Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa… toàn là những câu hay cả, mà hay cũng vì có những chữ: lần khân, sàm sỡ, bâng khuâng, ngậm ngùi” [28 ;tr.445]. Dù Nguyễn Ngọc Thiện chưa đề cập đến vấn đề từ ghép, nhưng ông đã có đóng góp lớn về từ đơn và từ láy. Và ông cũng đã đưa ra dẫn chứng minh họa khá cụ thể trong từng trường hợp để thấy cái tài trong cách chọn lựa từ ngữ của nhà thơ cho tác phẩm. Hoàng Tuệ trong cuốn Truyện Kiều – những lời bình đã có lời bình như sau: “ “ Gieo thoi trước chẳng giữ giàng” “ Giữ giàng” là một thể láy – và láy từ “ giữ” chăng? Nếu xét hệ thống của các thể láy có vần “-ang” như: Vội vàng, sỗ sàng, bẽ bàng, ngỡ ngàng, võ vàng, rõ ràng, sẳn sàng, trễ tràng, vững vàng, lỡ làng… thì thấy rằng “ giữ” không thể tạo nên thể láy như trong hệ thống ấy được” [22; tr.558]. Giống như Trần Ngọc Hưởng, Hoàng Tuệ đã đưa ra rất nhiều từ láy, đã góp phần hiểu thêm giá trị biểu trưng của các khuôn vần ở cấp độ từ láy cho thể thơ. Ông cũng đã có sự đối chiếu và so sánh rất cặn kẽ, đặc biệt ông đã chỉ ra được cách gieo vần “-ang” để thấy được vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên nó. Chúng chính là những yếu tố đã góp phần tạo nên những giá trị về ngữ âm, ngữ nghĩa của tác phẩm. Qua các ý kiến của các nhà nghiên cứu trên, người viết nhận thấy Truyện Kiều được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tính đến nay đã có trên hàng trăm công trình nghiên cứu khác nhau về Truyện Kiều. Nhưng vấn đề “ Tìm hiểu tính biểu trưng của các khuôn vần trong Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” thì chưa được nghiên cứu. Nếu có nói tới thì chỉ mới chạm tới các vấn đề còn khái quát ở dạng như từ láy, hoặc một số phương diện của các từ ngữ tiêu biểu cho một số biểu tượng… 3. Phạm vi nghiên cứu Do đặc điểm của tính biểu trưng của các khuôn vần trong thực tế là rất nhiều, nhưng không phải lúc nào chúng cũng được khai thác và vận dụng hết trong thơ. Vì vậy ở đây người viết xác định là tập trung khảo sát “ Tính biểu trưng của các khuôn vần trong tác phẩm Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” ( bản dịch hiện hành). -10- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Khuôn vần được người viết tìm hiểu là ở các dạng từ đơn, từ ghép và từ láy. Đặc biệt là những biểu trưng khuôn vần trong từ láy. Văn bản mà người viết chọn làm tư liệu khảo sát là quyển Truyện Kiều ( Nguyễn Du) do Đào Duy Anh hiệu khảo và chú giải, NXB Văn học, năm 1997. 4. Mục đích nghiên cứu Việc đi nghiên cứu và tìm hiểu “ Tính biểu trưng của các khuôn vần trong Truyện Kiều ( Nguyễn Du)” nhằm hướng tới việc tìm hiểu rõ hơn về ý nghĩa cũng như giá trị của các khuôn vần trong tiếng Việt, cụ thể là sự đóng góp của các khuôn vần có giá trị biểu trưng trong thơ nói chung và trong Truyện Kiều nói riêng. Tác phẩm Truyện Kiều không chỉ có giá trị nhân đạo nhân văn sâu sắc, mà thể thơ cũng rất ngọt ngào, truyền cảm - một thể thơ rất đậm đà bản sắc dân tộc. Vì vậy người viết sẽ tìm hiểu tác phẩm từ nhiều cấp độ, trong đó có cấp độ tìm hiểu giá trị biểu trưng của các khuôn vần trong thơ góp phần không nhỏ cho việc hiểu rõ nội dung, giá trị tác phẩm. 5. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành mục đích và yêu cầu đặt ra ở trên, người viết tiến hành thu thập thông tin, tư liệu những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài. Trên cơ sở thu thập tài liệu, người viết sẽ tiến hành thống kê, phân loại các khuôn vần có giá trị biểu trưng. Từ đó, chúng ta có một số liệu cụ thể để có thể đánh giá được nội dung và giá trị tác phẩm một cách có khoa học hơn. Bên cạnh đó bài luận văn này sẽ sử dụng thêm phương pháp đối chiếu và so sánh các khuôn vần được sử dụng trong các trường hợp khác để làm nổi bật ý nghĩa biểu trưng cho tác phẩm. Và người viết sẽ dựa trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa ngữ âm học của cách cấu tạo âm tiết trong khuôn vần mang giá trị biểu trưng. -11- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÂM TIẾT VÀ VẦN TIẾNG VIỆT Có thể nói một ngôn ngữ nào phát ra cũng đều dựa trên những cơ sở ngữ âm nhất định và việc kết hợp âm vị, âm tiết để tạo nên một ngôn ngữ hoàn chỉnh, điều đó hoàn toàn không đơn giản chút nào. Bên cạnh đó, không ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ phối hợp các vần, thanh điệu trong các vần ở một câu thơ nào đó. Ngoài các yếu tố như thanh, vần, nhịp điệu, sự phối hợp giữa các âm tiết cũng là những dụng ý khác nhau của nhà thơ khi thể hiện nội dung tác phẩm thêm hình tượng, thêm sinh động và giàu sức gợi tả. Trước khi đi vào tìm hiểu những giá trị của các vần trong thơ, chúng ta nên khảo sát một số vấn đề chung về âm tiết và vần trong tiếng Việt. Bởi vì trên cơ sở đó chúng ta sẽ thấy những giá trị sử dụng của chúng. 1.1. Khái niệm âm tiết Có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa âm tiết. 1.1.1. Theo Bùi Thị Tâm “ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất, đơn vị tự nhiên nhất trong lời nói của con người. Mỗi âm tiết là một tiếng”. Ví dụ: “ Tiến lên chiến thắng nhất định về tay ta”. Có 8 âm tiết [27; tr. 17]. 1.1.2. Theo Nguyễn Thị Thu Thủy “ Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi âm thanh lời nói. Trong tiếng Việt mỗi âm tiết được phát ra bằng một hơi, vang lên thành một tiếng, luôn gắn với một thanh điệu nên dễ được nhận biết. Đó là đơn vị mà người Việt quen gọi là “ tiếng” ” [33; tr.58]. 1.1.3. Theo Mai Ngọc Chừ “ Chuỗi lời nói mà con người phát ra gồm nhiều khúc đoạn dài ngắn khác nhau. Đơn vị phát âm ngắn nhất là âm tiết. Tiếng tức là âm tiết”. Ví dụ “ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào” có cả thảy là 8 âm tiết [3; tr.76]. Và ông dựa vào cách kết thúc âm tiết để chia thành bốn loại sau: Những âm tiết kết thúc bằng một phụ âm vang được gọi là âm tiết nửa khép. -12- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Những âm tiết kết thúc bằng bán nguyên âm được gọi là những âm tiết nửa mở. Những âm tiết kết thúc bằng một phụ âm không vang được gọi là những âm tiết khép. Những âm tiết kết thúc bằng cách giữ nguyên âm sắc của nguyên âm ở đỉnh âm tiết được goi là các âm tiết mở. 1.1.4. Theo Nguyễn Thiện Giáp “ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất. Âm tiết là đơn vị mang những sự kiện ngôn điệu như thanh âm, trọng âm và do đó con người đã gọi là điệu vị ( prosodeme). Mỗi âm tiết phát ra tương ứng với sự luân phiên tăng lên rồi trùng xuống của cơ thịt trong bộ máy phát âm. Mỗi âm tiết gồm có ba phần: khởi đầu, đỉnh và kết thúc” [7; tr.125]. 1.1.5. Theo Trần Trí Giỏi “ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất”. Và ông giải thích: Chẳng hạn, khi muốn phát âm ra một âm tiết [b], nhất thiết chúng ta phải tạo ra một âm tiết [bơ]. Điều này có nghĩa là, trong thực tế không ai phát âm ra một âm tố mà phải tối thiểu là một âm tiết. Chuổi lời nói, thực chất chỉ được tách ra ở ranh giới âm tiết. Vì thế với người nói tiếng Việt, người ta nhận ra câu: “ Năm qua thắng lợi vẻ vang” sẽ là một chuổi phát âm có 6 âm tiết [6; tr.56]. 1.1.6. Theo Mai Thị Kiều Phượng “ Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất của lời nói mà bất cứ người bản ngữ nào cũng có thể nhận ra”. Ví dụ: tôi/ là/ sinh/ viên. Có 4 âm tiết [23; tr.126] 1.1.7. Theo Nguyễn Hữu Quỳnh “ Âm tiết là đơn vị phát âm tối thiểu của lời nói”. Ông cho rằng: “ một đặc điểm cơ bản nhất của âm tiết là ranh giới của âm tiết tiếng Việt trùng với ranh giới của hình vị, tức là mỗi âm tiết đều đóng vai trò là dấu hiệu của một hình vị”. Do đó: “ Trong âm tiết tiếng Việt, mỗi âm tiết đồng thời là một hình vị” [25; tr.152] 1.1.8. Theo Cù Đình Tú “ Âm tiết là đơn vị ngữ âm tự nhiên nhất mà bất cứ người nào cũng có thể nhận ra. Ví dụ: “ Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” có 8 âm tiết”. Ông giải thích: Âm tiết là một đoạn của lời nói ( chuỗi âm thanh) mà khi phát âm mỗi bộ máy phát âm căng thẳng rồi chùng xuống. Như vậy mỗi khi phát âm, mỗi âm tiết gồm có ba giai -13- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đoạn: giai đoạn tăng độ căng, giai đoạn đỉnh của độ căng, giai đoạn giảm độ căng và kết thúc [31; tr.18]. Qua những nhận định của các nhà ngôn ngữ trên, người viết nhận thấy mặc dù cách dùng từ để định nghĩa về âm tiết có khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều thống nhất với nhau ở: âm tiết chính là đơn vị phát âm nhỏ nhất trong lời nói, trong tiếng Việt âm tiết phát ra gồm ba bộ phận: phụ âm đầu, vần và thanh. Và chúng tôi đồng tình với cách hiểu này khi đi phân tích âm tiết . 1.2. Cấu tạo âm tiết tiếng Việt Khi mô tả âm tiết tiếng Việt các nhà ngôn ngữ thừa nhận những đặc điểm sau: Trong tiếng Việt, âm tiết có tính độc lập rất cao. Đặc điểm này được thể hiện trong các lời nói. Thể hiện rõ ở trong lời nói, âm tiết bao giờ cũng được thể hiện rõ ràng tách ra từng khúc đoạn riêng biệt. Đồng thời âm tiêt tiếng Việt cũng có khả năng biểu hiện ý nghĩa. Đây là điều mà các ngôn ngữ khác không có được. Chính vì vậy ta thấy có những âm tiết tự thân chúng đã có nghĩa mà ta gọi là từ đơn. Bên cạnh đó ta thấy một đặc điểm rất quan trọng của tiếng Việt nữa là cấu trúc chặt chẽ, riêng biệt của mình. Hiện nay các nhà nghiên cứu về tiếng Việt xem mô hình cấu trúc của tiếng Việt như sau: Mô hình 1: Thanh điệu ( 5) Vần Âm đầu Âm đệm Âm chính Âm cuối ( 1) ( 2) ( 3) ( 4) Mô hình 2: Thanh điệu ( 5) Âm đầu ( 1) Vần Âm đệm Âm chính Âm cuối ( 2) ( 3) ( 4) Mô hình 1 cho ta thấy các nhà ngôn ngữ cho rằng phần thanh điệu bao trùm lên các yếu tố âm đầu và phần vần. Mô hình 2 cho rằng thanh điệu tách rời phụ âm đầu và chỉ bao trùm lên bộ phận phần vần. Đa số các nhà ngôn ngữ hiện nay thiên về mô hình 1. -14- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Từ hai mô hình trên cho thấy trong tiếng Việt, mỗi âm tiết ở dạng đầy đủ nhất sẽ gồm có 3 phần, ở 5 vị trí cụ thể như sau: 1.2.1. Âm đầu ( số 1) Âm đầu hay còn gọi là thủy âm. Âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết trong tiếng Việt, bao giờ cũng do phụ âm đảm nhiệm. Âm đầu có thể vắng mặt như: ăn, uống… thực chất với những âm tiết này, âm đầu do âm tắc thanh hầu đảm nhiệm, âm này không biểu hiện lên chính tả của chữ viết. 1.2.2. Phần vần Phần vần gồm có 3 yếu tố: âm đệm, âm chính, âm cuối. 1.2.2.1. Âm đệm ( số 2) Âm đệm có chức năng làm thay đổi âm sắc, âm tiết sau lúc mở đầu. Thành phần này do bán nguyên âm /w/ đảm nhiệm. Chính nhờ nó mà ta phân biệt được với các âm tiết như: tán với toán, tấn với tuấn. Âm tiết tán và tuấn không có âm đệm, người ta gọi là âm đệm zêrô. 1.2.2.2. Âm chính ( số 3) Âm chính hay còn gọi là hạt nhân của âm tiết. Thành phần này quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết và nó bao giờ cũng do một nguyên âm đảm nhiệm, khác với các thành phần khác của âm tiết tiếng Việt. Âm chính luôn luôn có mặt trong mọi trường hợp của âm tiết tiếng Việt. 1.2.2.3. Âm cuối ( số 4) Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết, nó do các phụ âm và các bán nguyên âm đảm nhiệm. Ví dụ: tán, cao, tay… Thành phần này có thể vắng mặt trong âm tiết tiếng Việt ở một số trường hợp như: ta, to, thể… Trong những trường hợp này ta gọi là âm cuối zêrô. 1.2.3. Thanh điệu ( số 5) Mỗi một âm tiết tiếng Việt đều có một thanh điệu, thanh điệu có chức năng phân biệt các âm tiết. Trong tiếng Việt hiện nay có 6 thanh là: thanh ngang ( thanh không dấu), thanh huyền, thanh hỏi, thanh sắc, thanh nặng, thanh ngã.  Đặc điểm của các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt Theo các nhà nghiên cứu thì năm thành phần trên của âm tiết tiếng Việt không phải bình đẳng như nhau về mức độ độc lập và khả năng kết hợp. Năm thành phần cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ luôn có tính chất cố định không thể thay thế đổi chỗ cho nhau được. -15- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ âm đầu và thanh điệu kết hợp lõng lẽo với phần vần hơn so với bản thân tự kết hợp các thành phần của vần. Chính vì vậy người ta nói rằng âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: bậc 1 là thanh điệu, âm đầu và phần vần; bậc 2 là âm đệm, âm chính và âm cuối. Theo sơ đồ sau: Âm tiết Bậc 1: Âm đầu - Bậc 2: Âm điệu - Vần Âm chính - Thanh điệu - Âm cuối 1.3. Vần của âm tiết tiếng Việt Dựa trên mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt như đã nói ở trên. Phần vần được mỗi nhà ngôn ngữ quan niệm như sau: 1.3.1. Vần của âm tiết theo Bùi Thị Tâm Âm tiết tiếng Việt có 5 vị trí đó là phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. Có âm tiết có đủ 5 vị trí, có âm tiết có vị trí vắng, nhưng nguyên chính âm luôn luôn có mặt. “ Âm tiết tiếng Việt được chia làm ba phần: phần đầu; phần vần và thanh điệu, thanh điệu luôn nằm trên toàn bộ âm tiết” [27; tr.19]. Do đó mô hình của âm tiết theo Bùi Thị Tâm như sau: Thanh điệu Phụ âm đầu Vần Âm đệm Âm chính Âm cuối Như vậy, phần vần được chia làm các phần: âm đệm, âm chính và âm cuối. * Âm đệm: Gồm có bán nguyên âm môi, ghi bằng /-w-/ thể hiện trên chính tả bằng hai trường hợp là “o” hoặc “u”, và một âm vị có nội dung tiêu cực là âm vị /zero/ không thể hiện trên chính tả. Âm đệm có tính chất nước đôi. Âm đệm có thể nghiêng về phần vần, nhưng cũng có thể nghiêng về phần phụ âm đầu. Âm đệm có chức năng trầm hóa -16- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du âm tiết. Âm đệm /-w-/ không kết hợp với phụ âm môi, không kết hợp với nguyên âm hàng sau tròn môi ( u, uô, ô) và nguyên âm (ươ). * Âm chính: Gồm có 13 nguyên âm đơn được ghi bằng các con chữ: a, ă, â, e, ê, i, o, ơ, ô, u, ư, y, trong đó i và y là do một âm vị như nhau về hình thức thể hiện. Và 3 nguyên âm đôi được thể hiện trên chính tả bằng các con chữ: ia, ya, iê, yê, ua, uô, ưa, ươ. Ví dụ: khuya, mượn, tiên, mua, bia, người, yêu... Âm chính có chức năng: tạo âm sắc cho âm tiết. Đồng thời là đỉnh của âm tiết. * Âm cuối: Gồm có 8 nguyên âm được thể hiện trên chính tả là các con chữ: t, m, n, nh, ch, ng, p, o, u, a, ô, ơ, e, ê. Âm cuối được chia làm 3 nhóm như sau: - Nhóm phụ âm ồn: /p, t, k / ( ví dụ: họp, chất, cách, cất). - Nhóm phụ âm vang: -m, -n, -nh, -ng ( ví dụ: tủm tỉm, tin, mênh mang, lênh đênh). - Nhóm bán nguyên âm cuối: -i, -y, -o, -u ( ví dụ: “ mai sau dù có bao giờ” – Truyện Kiều). Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết. 1.3.2. Vần của âm tiết tiếng Việt theo Huỳnh Công Tín Theo ông âm tiết tiếng Việt được chia làm ba phần. Phần phụ âm đầu hay thủy âm, phần vần: gồm tiền chính âm, chính âm, chung âm và phần thanh điệu. * Tiền chính âm (âm đệm) -wTiền chính âm được thể hiện ở các trường hợp khác nhau. Biểu hiện lên chữ viết bởi chữ “o” trong toán, hoàn…và chữ “u” trong: quân, huân… Tiền chính âm có mặt trong âm tiết tiếng Việt có chức năng tạo âm sắc cho âm tiết. Là cơ sở để phân biệt âm tiết như trong các âm tiết. * Âm chính Có 9 nguyên âm đơn là /i/, /u/, /ư/, /e/, /ê/, /a/, /o/, /ơ/, /ô/ và 3 nguyên âm đôi được thể hiện trên chữ viết là: /iê/, /ua/, /uô/, /ưa/, /ue/ Ngoài thanh điệu ra, chính âm là thành tố duy nhất của âm tiết không bao giờ có thể thay thế được bằng /zero/. Nó là yếu tố chính của phần vần (vận mẫu) cung cấp cho toàn bộ âm tiết cái âm sắc chủ đạo của nó: âm sắc này bao quát toàn bộ âm tiết, kể cả âm đoạn phụ âm tuyến tính. -17- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du * Chung âm (âm cuối) Chung âm là phần kết thúc âm tiết. Nó thường được biểu hiện bằng một âm tiết khép vào trong âm tiết kín. Có hai bán nguyên âm cùng làm nhiệm vụ kết thúc âm tiết. Trong các âm tiết hở, chung âm có dạng zero. Trong các âm tiết kín tiếng Việt chỉ có 8 chung âm là: /-p/, /-m/, /-n/, /-k/ và 2 chung âm bán nguyên âm /-w/, /-j/. Nhìn chung thì cách chia phần vần âm tiết tiếng Việt của Huỳnh Công Tín cũng giống như cách phân chia của Bùi Thị Tâm, chỉ có cách gọi tên của thành phần âm tiết là khác nhau. 1.3.3. Vần theo Nguyễn Quang Hồng Ông đưa ra hai khái niệm về “ vần” và “ vần cái”. Dưa trên sơ đồ về hai bậc của âm tiết như trên, phần vần thường được đề cặp tới phần thứ hai của âm tiết sau phần âm đầu. Theo ông “ “ vần” sẽ không tính phần âm đệm và thanh điệu của âm tiết – đó là vần cái (vận mẫu). Nói cách khác, vần cái là đơn vị ngữ âm nằm trong cấu trúc “ đoạn tính” của âm tiết, bắt đầu từ đỉnh âm tiết đến cuối âm tiết. Vần cái cũng có thể gọi là khuôn vần” [11, tr.247]. Cách phân chia này của ông tách hai khái niệm vần và vần cái bởi yếu tố âm đệm. Phần vần cái mà ông đưa ra được gọi là khuôn vần cũng trùng với nhiều nhà ngôn ngữ khác cho đó là vần hay khuôn vần. 1.3.4. Vần của âm tiết tiếng Việt theo Mai Thị Kiều Phượng Theo Mai Thị Kiều Phương trong cuốn Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, cho rằng: “ Vần là một thành tố cấu tạo thuộc cấp độ bậc 1. Tuy phụ âm đầu cũng là yếu tố cấu tạo bậc 1, nhưng phụ âm đầu có thể khuyết trong một số trường hợp, còn vần là yếu tố quan trong không thể vắng mặt để tạo nên âm tiết. Vần là thành phần chủ yếu tạo nên âm tiết” [23, tr.217]. Theo Mai Thị Kiều Phượng, vần của âm tiết tiếng Việt có cấu tạo gồm 3 yếu tố thuộc cấu trúc âm đoạn: âm đệm, âm chính và âm cuối và một yếu tố thuộc cấu trúc âm đoạn: thanh điệu. Cấu tạo tối thiểu của vần là gồm hai âm vị (một âm vị đoạn tính là ngữ âm và âm vị siêu đoạn tính là thanh điệu). Thanh điệu là yêu tố chẳng bao giờ vắng mặt trong thành phần của vần, nó bao trùm lên toàn bộ phần vần. Cấu tạo tối đa của vần là 4 âm vị: 3 yếu tố thuộc cấu trúc âm đoạn: âm đệm, âm chính và âm cuối; và một yếu tố thuộc cấu trúc siêu âm đoạn: thanh điệu. -18- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Về chức năng, theo Mai Thị Kiều Phượng vần là yếu tố âm tiết tính, là hạt nhân chủ yếu của âm tiết nên vần có chức năng chính là tạo đỉnh cho âm tiết. Vần là thành phần cấu tạo âm sắc của âm tiết. Mô tả phần vần của âm tiết theo bà như sau: * Âm đệm /-w-/ Là âm vị duy nhất. Là âm vị bậc 1 nó sẽ đứng ở vị trí số 2, trong cấu trúc âm tiết. Âm đệm khi là âm vị bậc 2 nó sẽ đứng ở vị trí đầu vần: - Âm đệm là một bán âm môi, âm đệm có cấu tạo bằng một bán nguyên âm. Nó có cấu tạo cũng giống như nguyên âm chính /u/ (nguyên âm có độ mở hẹp, cực trầm, tròn môi, hàng sau). Ở những kiểu âm tiết “ ngang”, “ tân” yếu tố tròn môi như trên không tồn tại người ta gọi đó là âm đệm zero. - Âm đệm có chức năng trung gian nối phụ âm đầu với phần còn lại của vần. Âm đệm cùng với phụ âm đầu có chức năng tu chỉnh âm sắc của âm tiết lúc mở đầu. Nó còn có chức năng làm trầm hóa âm tiết. Đồng thời, nó còn có chức năng khu biệt nghĩa và nhận diện từ. Ví dụ từ có hình thức âm tiết “ toán” khác về mặt ngữ âm và ý nghĩa so với từ có hình thức cấu tạo âm tiết “ tán”. - Âm đệm /-w-/ không xuất hiện sau các phụ âm môi. Và /-w-/ không xuất hiện với các nguyên âm tròn môi. - Âm đệm /-w-/ có 2 cách biểu hiện trên chữ viết: Bằng chữ “o” khi đi trước các nguyên âm rộng và hơi rộng /a/, /ă/, /e/. Ví dụ: hoa, hòe, xoan… Nó được ghi bằng chữ “u” khi đi sau /k/ như “ qua” và khi đi trước các nguyên âm còn lại. Ví dụ: “ tuân”, “ huy”, “ thuở”… * Âm chính Âm chính đứng ở vị trí số 3, là vị trí của chính âm, vị trí này bắt buộc luôn luôn là các nguyên âm đảm nhiệm. - Trong tiếng Việt có cả nguyên âm đơn và nguyên âm đôi đóng vai trò và đứng ở vị trí âm chính. Âm chính có cấu tạo bằng nguyên âm chân chính (nó chính là yếu tố âm tiết tính, là hạt nhân của âm tiết). - Âm chính có chức năng tạo đỉnh cho âm tiết. Và tạo âm sắc cho âm tiết. Ví dụ: âm tiết “ loan” có /a/ tạo âm sắc chính, nhưng vì trước nó có âm đệm nên trầm hóa âm tiết hơn âm tiết “ lan” và /a/ cũng là nguyên âm tạo âm sắc nhưng vì trước nó có âm đệm nên trầm hóa âm tiết hơn âm tiết “ lan” và /a/ cũng là nguyên âm tạo âm sắc -19- Tính biểu trưng khuôn vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng vì trước nó có âm đệm nên nó tạo âm sắc rõ hơn. Đồng thời, nó còn có chức năng khu biệt nghĩa và nhận diện từ nhờ sự khác biệt giữa âm tiết này với âm tiết khác. - Âm chính luôn có mặt trong mọi trường hợp. Về mặt số lượng âm chính theo Mai Thị Kiều Phương có 14 nguyên âm, trong đó là 9 âm vị dài, 2 nguyên âm đơn ngắn và 3 nguyên âm đôi. * Âm cuối Vị trí số 4, là vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết. Cấu tạo bằng phụ âm và nó mang đầy đủ đặc trưng của phụ âm. Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết. Âm cuối có thể khuyết trong một số trường hợp của âm tiết tiếng Việt. * Thanh điệu Thanh điệu trong tiếng Việt gồm có 6 thanh là: thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh huyền, thanh ngang, thanh nặng. Một âm tiết có cấu tạo luôn có thanh điệu và thanh điệu luôn đi kèm theo phần vần. Cách phân chia phần vần của Mai Thị Kiều Phượng khác với cách phân chia của Bùi Thị Tâm và Huỳnh Công Tín ở chỗ là phần vần là phần có sự bao trùm bởi yếu tố thanh điệu. Phần phụ âm đầu không được bao trùm bởi yếu tố thanh điệu. 1.3.5. Vần theo Nguyễn Tài Thái “ Vần là một thành phần chính, trực tiếp của âm tiết, nó không bao gồm âm đệm. Nó đứng cuối âm tiết và gồm hai thành phần khác nhau: nguyên âm và âm cuối” [34; tr.551]. 1.3.6. Vần theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn biên soạn Vần được chia làm ba yếu tố: âm giữa, âm cuối và âm đệm. * Âm giữa Âm giữa là một trong những âm vị sau: a, ă, e, ê, i, ô, o, u, ư ( là những âm đơn); iê, uô, (ua), ươ, (ưa) (là âm phức). Đặc điểm: Xét trong vai trò trung tâm của phần vần thì nguyên âm đơn hay nguyên âm phức đều có giá trị mỗi nguyên âm là một âm vị. Các nguyên âm đơn được ghi bằng một chữ cái, các nguyên âm phức được ghi bằng hai chữ cái ghép lại và có hai cách ghi. Trong vần khi có âm cuối thì âm này ảnh hưởng tới âm giữa; nói chung âm giữa ngắn lại ít nhiều, đặc biệt là khi âm cuối “ tắc”: t, p, c, ch. -20-
- Xem thêm -